Chuyên đề thực tập 1 Đại học Kinh tế quốc dân
Tóm tắt đề tài:
Trong chuyên đề này, em sử dụng mô hình Logistic gồm các chỉ tiêu tài chính để
ước lượng xác suất vỡ nỡ của các doanh nghiệp từ đó xếp hạng tín dụng các doanh
nghiệp đi vay vốn. Sau đó, em xem xét độ phù hợp của mô hình bằng cách so sánh xác
suất vỡ nợ của doanh nghiệp trước và sau khi loại bỏ các doanh nghiệp trong một
ngành để so sánh phần trăm chênh lệch. Sau đó, em lần lượt thêm các chỉ tiêu phi tài
chính và chỉ tiêu ngành vào mô hình Logistic nhằm xem xét tác động của chúng tới
hạng của các doanh nghiệp trên.
MỤC LỤC
Tóm tắt đề tài: 1
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1Rủi ro tín dụng 8
1.1.1Khái niệm rủi ro tín dụng 8
1.1.2Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng 8
1.1.3Phân loại rủi ro tín dụng 12
1.1.4Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 14
1.1.4.1Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ 14
1.1.4.2 Các loại nợ 15
1.1.4.3 Tình hình tài chính, phương án của người vay và môi trường hoạt động
của người vay 16
1.1.4.4 Đảm bảo tiền vay 16
1.1.4.5 Một số ngân hàng sử dụng phương pháp xếp hạng tín nhiệm để phản
ánh rủi ro tín dụng 16
1.1.4.6 Tính đa dạng hóa trong tài sản của ngân hàng 16
1.1.5Đánh giá khả năng xảy ra rủi ro tín dụng 16
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 2 Đại học Kinh tế quốc dân
1.2Hoạt động xếp hạng tín dụng (xếp hạng tín nhiệm) các doanh nghiệp của các
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 3 Đại học Kinh tế quốc dân
3.2.1Mô hình ước lượng 47
3.2.1.1 Mô hình 47
3.2.1.2 Kết quả xếp hạng tín dụng 100 khách hàng doanh nghiệp của
Techcombank 54
a) Kết quả 54
b) Độ phù hợp của mô hình 59
c) Ứng dụng mô hình Logistic vào xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp 59
3.2.2Ước lượng tác động của ngành tới xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp 62
3.2.3Ước lượng tác động của yếu tố phi tài chính tới xác suất vỡ nợ của doanh
nghiệp 64
3.3 Nhược điểm của mô hình 65
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 70
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 4 Đại học Kinh tế quốc dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 5 Đại học Kinh tế quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển của đất nước thì các hệ thống ngân hàng đã đóng vai trò
quan trọng không nhỏ trong việc ổn định nền kinh tế đất nước hiện nay. Cùng với xu
hướng đó, số lượng các ngân hàng đã không ngừng gia tăng và ngày càng cạnh tranh
gay gắt thông qua việc tìm kiếm tiếp thị khách hàng mới, không ngừng phát triển và
hoàn thiện chất lượng các dịch vụ nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh và mở rộng
thị trường. Như đã biết, ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng với nghiệp vụ cơ
bản nhất là huy động vốn và cho vay vốn. Trong đó, hoạt động tín dụng cho vay chiếm
vai trò quan trọng nhất vì nó là hoạt động sinh lời chủ yếu cho ngân hàng song nó cũng
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng mô hình Logistic đánh giá rủi ro tín dụng.
- Đánh giá việc ứng dụng mô hình đó phù hợp với tình hình thực tế.
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín
dụng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng : 100 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Techcombank.
- Phạm vi nghiên cứu : các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, mô hình Logistic và các
phầm mềm liên quan.
Nguồn số liệu
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đi vay vốn tại ngân hàng Techcombank.
Kết cấu đề tài
Chương I : Cơ sở lý thuyết.
Chương II : Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Techcombank.
Chương III : Đánh giá việc ứng dụng mô hình Logistic vào việc xếp hạng tín dụng các
doanh nghiệp đi vay vốn tại Techcombank.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 7 Đại học Kinh tế quốc dân
Em xin cảm ơn sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của ThS.Trần Chung Thủy cùng
với sự hỗ trợ của các anh, chị tại Sở giao dịch Techcombank đã giúp em hoàn thành
chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 8 Đại học Kinh tế quốc dân
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo quan điểm toán tài chính “rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những kết cục
của biến cố không như chúng ta kỳ vọng”. Chúng ta kỳ vọng một kết cục nhưng thực tế
Trước đây, nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp. Nhưng hiên nay cùng với sự
đi lên của đất nước. cơ cấu kinh tế nước ta đang dần có sự thay đổi ưu tiên phát triển
công nghiệp, song công nghiệp vẫn chủ yếu để đáp ứng những nhu cầu cho nông
nghiệp. Mà những ngành này chủ yếu lại phụ thuộc thời tiết ( như nuôi trồng lúa, bông
v.v chế biến thực phẩm và nguyên liệu v.v…) : mưa nắng thất thường cũng như khí
hậu khắc nghiệt đều làm ảnh hưởng đến năng suất.
Nước ta có một đường bờ biển kéo dài, ưu thế đó đã mang lại cho chúng ta nguồn
thủy hải sản phong phú, dồi dào với giá rẻ. Tuy nhiên, chính điều đó lại tạo bất lợi cho
ta khi gặp phải sự kiện bán phá giá vừa qua. Ngành xuất khẩu dệt may lại gặp hạn chế
về hạn ngạch gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi không tiêu thụ được số sản phẩm
đã sản xuất, do đó không thể thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng.
Bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng gặp không ít khó
khăn. Giá thép trong nước ảnh hưởng mạnh đến giá thép thế giới. Việc giá phôi thép
trên thế giới tăng làm tăng chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh
nghiệp trong nước cần tìm một nguồn cung rẻ. Hiện nay, trên thị trường lại xuất hiện
loại thép cuộn cán nguội dải hẹp 1,5mm x 1,6 mm nhập khẩu từ Trung Quốc với giá rẻ
nhưng lại có đặc tính kỹ thuật thấp. Điều này tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại rất lớn về
người và của khi sản phẩm thép được đưa ra thị trường sử dụng.
- Rủi ro tất yếu do quá trình hội nhập kinh tế.
Việc tự do hóa hội nhập nền kinh tế có thể rất dễ tạo ra nợ xấu do các doanh nghiệp
không thể cạnh tranh với các hãng nước ngoài có công nghệ và dây chuyền sản xuất
hiện đại cho ra những sản phẩm tốt với giá thành rẻ. Ngoài ra các tổ chức tín dụng ví
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 10 Đại học Kinh tế quốc dân
dụ như các ngân hàng thương mại cũng bộc lộ những yếu kém trong khâu quản lý cũng
như các chính sách khuyến khích cho vay so với các ngân hàng trên thế giới. Chính vì
vậy các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính sẽ bị thu hút bởi các ngân hàng nước ngoài
hơn là các ngân hàng trong nước. Do đó, các ngân hàng trong nước sẽ đối mặt với các
nguy cơ rủi ro tín dụng cao hơn vì chỉ cho vay tín dụng với các doanh nghiệp nhỏ sẽ
thường có rủi ro trong kinh doanh cao.
Trong thực tế các doanh nghiệp sau khi vay vốn đều sử dụng nguồn vốn đúng với
mục đích cam kết lúc đầu. Việc vi phạm sai mục đích đã cam kết rất ít xảy ra. Tuy
nhiên, một khi đã xảy ra vi phạm thì hậu quả rất nặng nề, nó còn làm ảnh hưởng uy tín
của ngân hàng và các doanh nghiệp khác. Trong trường hợp khác, người đi vay vẫn có
thể làm ăn đạt lợi nhuận tốt song vẫn không trả được nợ có thể là do họ có xu hướng
chây ì, trễ nại và mong muốn kéo dài thời gian giữ vốn.
- Khả năng quản lý, tổ chức kinh doanh kém.
Các doanh nghiệp vay vốn với mục đích chủ yếu là mở rộng quy mô kinh doanh
bằng việc tập trung vốn vào cơ sở vật chất như mua giây chuyền sản xuất, nhập khẩu
các nguyên liệu chứ rất ít khi các doanh nghiệp chịu bỏ vốn để nâng cao tính chuyên
nghiệp trong phương thức quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát, tổ chức. Quy mô kinh
doanh càng ngày càng phình ra còn khâu quản lý lại không bắt kịp với tốc độ đó, điều
đó rất dễ dẫn đến nguy cơ phá sản các phương án kinh doanh có thể đã rất khả thi.
- Kê khai tài chính doanh nghiệp thiếu minh bạch, rõ ràng.
Quy mô nhỏ, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao, điều này cản trở cho việc đi vay vốn
của các doanh nghiệp. Do đó, các báo cáo tài chính để nộp cho các ngân hàng có thể sẽ
không mang tính xác thực cao, mang nặng về hình thức. Do vậy, khi các cán bộ tín
dụng phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp dựa trên các báo cáo tài chính
là phân tích trên cơ sở thiếu thực tế. Đây cũng là một trong các nguyên nhân mà các
ngân hàng nước ta hiện nay luôn coi phần tài sản thế chấp là chỗ dựa cuối cùng để xem
xét việc cho doanh nghiệp vay vốn.
Rủi ro từ phía người cho vay
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 12 Đại học Kinh tế quốc dân
- Do cán bộ thiếu đạo đức cũng như trình độ chuyên môn
Nhân viên tín dụng sẽ phải xem xét hồ sơ của rất nhiều doanh nghiệp với rất nhiều
ngành nghề, nhiều vùng và có thể là nhiều Quốc gia khác nhau. Do đó, việc thiếu trình
độ chuyên môn cũng như độ am hiểu thực tế môi trường khách hàng đang sống cũng
như môi trường kinh doanh có thể sẽ dẫn đến đánh giá sai tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Từ đó có thể dẫn đến các rủi ro như các doanh nghiệp có tiềm năng thì không
này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất. ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh.
Vì hơn 2/3 tài sản của ngân hàng là các khoản cho vay và đầu tư, do đó nếu các khoản
này không được hoàn trả, ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Nếu số tiền thiệt hại này
vượt quá vốn tự có của ngân hàng sẽ khiến ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán dẫn đến phá sản.
• Rủi ro do sai hẹn
Là khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi vốn để trả nợ cho
ngân hàng. Thông thường trong trường hợp này thì khách hàng sẽ xin gia hạn thêm
thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng đưa ra không được ngân hàng chấp nhận, họ
sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản thu hồi trễ hạn này ít nhiều sẽ làm đảo lộn kế hoạch
kinh doanh của ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.
• Rủi ro lãi suất
Quá trình chuyển hóa tài sản của ngân hàng bao gồm việc huy động vốn và sử dụng
vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn
và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.
Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị
trường thay đổi ngân hàng có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Chúng ta đã biết, giá trị
thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền. Do
đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì tương ứng với mức chiết khấu của giá trị tài sản
cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ sẽ giảm xuống và
ngược lại. Do đó nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không tương xứng với nhau, ví
dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị tài sản
có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với giá trị tài sản nợ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 14 Đại học Kinh tế quốc dân
• Rủi ro tỷ giá
Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt
mau và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ
tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế chính trị một
nước.
Nhóm 1 ( nợ đủ tiêu chuẩn ) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn
Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn < 90 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ trong hạn.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định của Khoản 3 và
Khoản 4
Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn thuộc từ 90 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn < 90 ngày theo thời hạn đó cơ
cấu lại.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và
Khoản 4
Nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn > 360 ngày.
- Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý.
- Các khoản nợ đó cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn > 180 ngày theo thời hạn đó
được cơ cấu lại.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản4
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 16 Đại học Kinh tế quốc dân
1.1.4.3 Tình hình tài chính, phương án của người vay và môi trường hoạt động của
người vay.
Nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp tốt, phương án kinh doanh có tính khả
thi cao và thị trường hoạt động thuận lợi thì doanh thu của doanh nghiệp sẽ cao và rủi
ro tín dụng thấp. Mặt khác, những yếu tố này phát triển theo chiều hướng ngược lại thì
sẽ cấu thành các khoản nợ có vấn đề.
1.1.4.4 Đảm bảo tiền vay.
Đối với các doanh nghiệp có uy tín thấp hoặc hoạt động rủi ro cao thì cần có tài
sản thế chấp mới có được hợp đồng tín dụng. Từ đó, có thể nhận thấy tài sản thế chấp
nghiệp của các NHTM
1.2.1 Thế nào là xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
- Theo công ty Moody’s thì “xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn
sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất
định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”.
- Theo từ điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm là cách ước tính
chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao
gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín
dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: “xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là
đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong
tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng từ đó xác định được mức độ rủi ro của việc
trả hay không trả được nợ trong tương lai”.
1.2.2 Mục đích, đối tượng và phạm vi áp dụng
- Mục đích
Thống nhất các bước trong việc xây dựng bảng xếp hạng tín dụng khách hàng là
doanh nghiệp trên phần mềm T24 tại các hội sở , chi nhánh của Techcombank. Tạo cơ
sở để xem xét đánh giá cấp tín dụng và quản lý khách hàng trong hoạt động tín dụng.
từ đó đề ra các chính sách tín dụng nhằm nâng cao chất lượng cho các hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 18 Đại học Kinh tế quốc dân
- Đối tượng áp dụng
Chi nhánh, Trung tâm giao dịch, các Phòng giao dịch thực hiện cung cấp tín dụng
cho khách hàng là doanh nghiệp
-Phạm vi áp dụng
Áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng
Techcombank.
1.2.3 Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp
Dịch vụ xếp hạng doanh nghiệp đang trở thành dịch vụ phổ biến trên thế giới và
ro ít hay có khả năng thu hồi vốn cao.
- Cải tiến hoạt động: việc được xếp hạng tín dụng là các tổ chức tín dụng đã cho
các doanh nghiệp biết vị trí của các doanh nghiệp đang ở đâu, triển vọng phát triển của
các doanh nghiệp trong tương lai là gì cũng như rủi ro có thể gặp phải. Trên cơ sở đó
đề ra các kế hoạch điều chỉnh chiến lược trong hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
- Ưu thế về giao dịch: một doanh nghiệp có thể sử dụng xếp hạng tín dụng để
thiết lập một chỉ số tín nhiệm tốt để nâng cao uy tín của doanh nghiệp và tạo nên lợi
thế trong các giao dịch kinh tế. Với doanh nghiệp là các nhà phát hành ( gồm: doanh
nghiệp đang cổ phần hóa cần định giá trái phiếu, doanh nghiệp niêm yết chứng khoán,
các tổ chức cần huy động vốn, các trung gian tài chính v.v…) có cơ hội lựa chọn cơ
cấu thời hạn và tổng giá trị phát hành một cách thích hợp. Ngoài ra, xếp hạng tín nhiệm
là cơ sở cho các doanh nghiệp so sánh vị thế cạnh tranh của mình với các doanh nghiệp
khác.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài
Hiện nay, khi nền kinh tế Nước ta đã gia nhập WTO thì quan hệ giao thương với
các Quốc gia, biên giới ngày càng được mở rộng. Các đối tác nước ngoài muốn đẩy
mạnh kinh doanh ra nước ngoài đều phải thông qua một tổ chức xếp hạng tín nhiệm
nào đó để xác định mức độ tín nhiệm và uy tín của đối tác trong nước trước khi có
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 20 Đại học Kinh tế quốc dân
quyết định kinh doanh. Dựa trên kết quả xếp hạng mà các nhà đầu tư nước ngoài để
thẩm định, lựa chọn danh mục đầu tư hợp lý.
Đối với nhà đầu tư trong nước
Xếp hạng cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư về tình trạng của
doanh nghiệp để có quyết định đầu tư đúng đắn mang lại lợi nhuận tối đa cho các nhà
đầu tư. Đối với các ngân hàng thì đây là cơ sở để quyết định cho vay, đánh giá mức độ
rủi ro của khoản cho vay và xây dựng các chính sách khách hàng đối với từng hạng
khách hàng theo kết quả xếp hạng cho phù hợp.
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước
A4 = (Giá thị trường của cổ phiếu*Số lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ
A5 = Hiệu quả sử dụng tài sản =Doanh thu/Tổng tài sản
Làm thế nào để tăng chỉ số Z để làm giảm nguy cơ phá sản??
Để tăng chỉ số Z chúng ta cần tăng từng tử số và giảm mẫu số của từng chỉ số A
bên trên. Quan sát 5 chỉ số A, chúng ta có thể nhận thấy Tổng tài sản là mẫu số của 4
chỉ số A1, A2, A3, A5. Do đó nếu doanh nghiệp có thể giảm được tổng tài sản trong
khi vẫn giữ được quy mô và hiệu quả hoạt động thì chỉ số Z sẽ tăng lên rõ rệt. Vì thế
doanh nghiệp cần phải kiểm tra thật kỹ để tìm ra những tài sản không hoạt động hoặc
hoạt động kém hiệu quả, tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp
tạo ra doanh số. Nếu bán chúng đi, doanh nghiệp sẽ giảm được các mẫu số của 4 chỉ số
X nói trên, và đồng thời tăng được tử số của một số chỉ số. Thật vậy :
- Đối với những tài sản không có nợ hay nợ rất ít, khi bán đi doanh nghiệp sẽ
nhận được thêm tiền mặt, khi đó Vốn lưu động – tử số của A1 sẽ tăng lên. Bên cạnh đó
chi phí khấu hao cũng sẽ giảm xuống, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận tăng khi đó tử số của
A2, và A3 sẽ tăng theo.
- Đối với những tài sản đang bị nợ khi ta bán chúng đi, vốn lưu động có thể sẽ
không tăng lên liền lúc đó, nhưng tổng nợ tức mẫu số A4 sẽ giảm khi đó chi phí lãi
suất và khấu hao cũng giảm theo. Tỷ lệ lợi nhuận vì thế sẽ tăng lên, tử số của A2, A3
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 22 Đại học Kinh tế quốc dân
sẽ tăng lên. Và nếu quản lý tốt, chúng ta sẽ có thêm tiền mặt. Tức là vốn lưu động sẽ
hay tử số A1 cũng sẽ tăng lên theo sau đó
Rõ ràng, việc bán đi những tài sản không hoạt động sẽ tạo ra ảnh hưởng rất tốt đến
sự tăng trưởng của các chỉ số A. Tuy nhiên, không phải tài sản nào bán đi cũng có thể
tăng chỉ số Z. Có những tài sản khi bán đi, sẽ làm ảnh hưởng lớn đến doanh số - tử số
của chỉ số A5 và ảnh hưởng gián tiếp đến các tử số của A2, A3. Do đó doanh nghiệp
rất phải cẩn thận trong việc xem xét các loại tài sản nào bán đi sẽ thu lợi, tài sản nào
nên để lại. Không phải cứ bị nguy hiểm là lo bán tháo tài sản đi.
Để tăng tử số A2, A3 công ty cần phải tạo nhiều lợi nhuận hơn qua hoạt động kinh
doanh chính của mình, hay đôi khi là từ những kinh doanh không thường xuyên. Làm
• Nếu Z <1.8: Công ty thuộc vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
• Nếu 1.8 ≤ Z < 2.99 Công ty thuộc vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
• Nếu Z ≥ 2.99 Công ty thuộc vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Đối với Công ty chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z’ = 0.717*A1 + 0.847*A2 + 3.107*A3 + 0.42*A4 + 0.998*A5
• Nếu Z’ <1.23: Công ty thuộc vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
• Nếu 1.23 ≤ Z’ < 2.9: Công ty thuộc vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
• Nếu Z’ ≥ 2.9: Công ty thuộc vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Đối với các Công ty khác:
Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình Công
ty. Vì sự khác nhau rất lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được loại bỏ ra khỏi mô
hình. Do đó công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau:
Z’’ = 6.56*A1 + 3.26*A2 + 6.72*A3 + 1.05*A4
• Nếu Z <1.2 Công ty thuộc vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
• Nếu 1.2≤ Z’’ < 2.6 Công ty thuộc vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.
• Nếu Z’’ ≥ 2.6 Công ty thuộc vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập 24 Đại học Kinh tế quốc dân
Chỉ số Zeta
Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu
tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước khi phá
sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ các
trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:
A1= EBIT/ tổng tài sản
Tổng tài sản không bao gồm các lợi thế thương mại và tài sản vô hình trong các
biến số của Zeta.
A2 = Mức ổn định thu nhập
• Chỉ tiêu này đo lường sai số chuẩn trong xu hướng của X1 trong vòng 5 đến 10
năm. Rủi ro kinh doanh thường được biểu hiện thông qua sự dao động của thu nhập
i
= 1 - =
= =
Ln( ) = Z
i
= β
1
+ β
2
X
i
(1.3)
Đặt L
i
= Ln( ) + u
i
= β
1
+ β
2
X
i
+ u
i
(1.4)
L tuyến tính đối với biến số và với tham số.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo Toán tài chính 50