TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
*****
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CHIẾN LUỢC MARKETING SẢN
PHẨM BÃI ĐẬU XE TỰ ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH
CÔNG NGHIỆP M&H
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN THỊ MINH THỊNH
Lớp : QUẢN LÝ KINH TẾ 49B
MSV : CQ492582
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN
Hà Nội – 5/2011
MỤC LỤC
SƠ ĐỒ III
LỜI MỞ ĐẦU IV
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC
MARKETING 1
I.KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP.
1
1.Khái niệm marketing: 1
2.Phân loại marketing: 1
3.Các chức năng của Marketing 2
4.Marketing trong hoạt động thiết kế và xây dựng 3
II.BẢN CHẤT CỦA CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP.
4
1.Khái niệm chiến lược và chiến lược marketing 4
2.Vai trò của chiến lược Marketing: 6
!!"#$%
&'()"#$%*
+,-"#$%./
3.Đánh giá chiến lược marketing sản phẩm bãi đậu xe tự động của công ty công
nghiệp M&H 51
0!!1(--2345-63-7.
0!!-8()-"#$%.
0!!-8()-!.
0!!-8()-$9$.
.0!!-8()-:-58;)$.
IV.NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH CỦA DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
54
1.Điểm mạnh và nguyên nhân: 54
2.Điểm yếu và nguyên nhân 56
3.Cơ hội: 57
4.Thách thức: 58
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHIẾN
LƯỢC MARKETING SẢN PHẨM “BÃI ĐẬU XE TỰ ĐỘNG” TẠI
CÔNG TY M&H 59
I.HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC MARKETING.
59
1.Mục tiêu của doanh nghiệp về sản phẩm “bãi đậu xe tự động” 59
2.Giải pháp với bộ phận nhân sự của công ty 61
3.Chiến lược marketing của công ty M&H 63
II.ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC.
66
1.Điều kiện với con người của tổ chức 66
2.Điều kiện tài chính 67
rừng rậm để đến với mục tiêu. Thông qua chiến lược marketing, doanh
nghiệp có thể phát huy hết tiềm năng, tận dụng những cơ hội và hạn chế
những điểm yếu kém nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trong quá trình
hội nhập.
Quá trình tìm hiểu, tiếp xúc với các phòng ban của công ty TNHH
công nghiệp M&H Em thấy bị thu hút bởi sản phẩm bãi đậu xe tự động mà
công ty đang cung cấp ra thị trường. Nhận thấy rằng mặc dù là một sản
phẩm có cơ hội phát triển lớn nhưng công ty vẫn chưa thực sự tạo được ấn
tượng với khách hàng nên Em đã quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện
chiến lược marketing sản phẩm bãi đậu xe tự động tại công ty TNHH
công nghiệp M&H” để nghiên cứu nhằm trau dồi những kiến thức đã học.
Bài chuyên đề thực tập của Em sẽ được trình bày với kết cấu gồm các
chương:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC
MARKETING.
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC MARKETING SẢN
PHẨM BÃI ĐẬU XE TỰ ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP
M&H.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC
MARKETING SẢN PHẨM BÃI ĐẬU XE TỰ ĐỘNG TẠI CÔNG TY
TNHH CÔNG NGHIỆP M&H.
Được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ giáo viên hướng dẫn: PGS.TS.
Nguyễn Thị Ngọc Huyền và các nhân viên công ty M&H đặc biệt là phòng
kinh doanh, Em đã có thể tiếp xúc với phần nào thực tế, được học hỏi và
trải nghiệm. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng bài chuyên đề vẫn còn những
thiếu sót mong các thầy cô và bạn đọc đóng góp ý kiến.
Em xin trân thành cám ơn!
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHIẾN
LƯỢC MARKETING
I. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG
kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay nếu chỉ quan tâm đến khâu tiêu thụ
thì chưa đủ mà còn cần quan tâm đến tính đồng bộ của cả hệ thống.
Marketing cổ điển đã được thay thế bằng một lý thuyết khác.
- Marketing hiện đại: Sự ra đời của Marketing hiện đại đã góp phần to
lớn vào việc khắc phục tình trạng khủng hoảng thừa và thúc đẩy khoa học
kỹ thuật phát triển. Marketing hiện đại đã chú trọng đến khách hàng hơn,
coi thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa
và khách hàng và nhu cầu của họ đóng vai trò quyết định. Mục tiêu tổng
thể của Marketing là tối đa hoá lợi nhuận nhưng biểu hiện trong ngắn hạn
lại là sự thoả mãn thật tốt nhu cầu khách hàng.
3. Các chức năng của Marketing.
- Làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu khách hàng: Thông qua việc
nghiên cứu thị trường các thông tin về khách hàng và các yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi mua hay quyết định mua của khách hàng, các nhà sản xuất
kinh doanh đã tạo ra những sản phẩm, hàng hóa làm hài lòng khách hàng
ngay cả những người khó tính nhất. Khi sự phát triển càng cao thì đồng
thời với đó là nhu cầu của khách hàng cũng thay đổi theo. Nếu trước kia
nhu cầu của con người chỉ là vật chất thì giời đây nhu cầu đó được nâng
cao theo cấp bậc: xã hội => nhu cầu tự hoàn thiện.
- Chức năng phân phối: bao gồm tất cả các hoạt động nhằm tổ chức sự
vận động tối ưu sản phẩm hàng hóa từ khi nó kết thúc quá trình sản xuất
cho đến khi nó được giao cho những cửa hàng bán lẻ hoặc giao trực tiếp
cho người tiêu dùng. Thông qua chức năng này, những người tiêu thụ trung
gian có khả năng tốt sẽđược phát triển. Ngoài ra nó còn hướng dẫn khách
hàng về các thủ tục ký liên quan đến quá trình mua hàng, tổ chức các tổ vận
tải chuyên dụng, hệ thống kho bãi dự trữ bảo quản hàng hóa Đặc biệt,
chức năng phân phối trong Marketing có thể phát hiện ra sự trì trệ, ách
tắc của kênh phân phối có thể xảy ra trong quá trình phân phối.
- Chức năng tiêu thụ hàng hóa. Chức năng này thâu tóm thành hai
hoạt động lớn: kiểm soát giá cả và các nghiệp vụ bán hàng, nghệ thuật bán
đội ngũ công nhân lành nghề ).
Hoạt động Marketing trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay vẫn
là những vấn đề khá mới mẻ. Do hoạt động xây dựng có nhiều đặc điểm
mang tính đặc thù riêng so với sản xuất hàng tiêu dùng cho nên việc áp
dụng Marketing căn bản vào lĩnh vực xây lắp trên cơ sở không thể tách rời
những đặc điểm về sản phẩm và quá trình sản xuất ra sản phẩm xây dựng là
việc hoàn toàn đúng đắn.
Marketing xây dựng chịu sự ảnh huởng mạnh mẽ của đường lối,
chính sách xây dựng kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà Nước. Việc cạnh
tranh trong xây dựng phải diễn ra lành mạnh, hài hoà các lợi ích và chú ý
đến lợi ích quốc gia.
Các doanh nghiệp xây dựng cũng phải tiến hành hoạt động
Marketing một cách thường xuyên và liên tục nhưng có thể phân thành 2
giai đoạn:
- Chưa có và đã có đối tượng tranh thầu.
- Đấu thầu.
Marketing xây dựng là Marketing trực tiếp với khách hàng, tức là
nhằm vào từng chủ đầu tư cụ thể vì sản phẩm xây dựng chỉ được sản xuất
khi có người mua cụ thể.
Mục tiêu quan trọng nhất của Marketing trong doanh nghiệp xây
dựng là tìm ra nhiều hợp đồng xây dựng, thắng thầu nhiều hơn từ đó sẽ
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Các hoạt động Marketing của doanh nghiệp xây dựng bao gồm các
hoạt động: điều tra, khảo sát nhu cầu về một loại hình xây dựng nào đó
(cầu, đường, tòa nhà văn phòng, bãi đậu xe ) kí kết hợp đồng xây dựng,
thiết kế tổ chức thi công các công trình, bàn giao đưa công trình vào sử
dụng. Việc làm cho sản phẩm thích ứng với nhu cầu của thị trường trong
doanh nghiệp xây dựng chính là việc tuân thủ thiết kế, đảm bảo yêu cầu về
thời gian xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình theo đúng hợp đồng đã
kí. Ngoài ra các doanh nghiệp xây dựng cũng cần tạo ra những ảnh hưởng
thức để đạt được mục tiêu đó. Ngày nay, việc quản lý dựa trên những kinh
nghiệm trực giác và sự suy đoán chủ quan không phải là cách tốt cho một
nhà quản lý dùng để điều hành doanh nghiệp của mình. Doanh nghiệp cần
tiến hành khai thác thông tin về nhu cầu người thị tiêu dùng đối với sản
phẩm của mình đang kinh doanh và các đối thủ hiện có và tiềm năng trên
thị trường. Căn cứ vào lượng thông tin đã thu thập ở trên Công ty tiến hành
phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường trọng điểm và sử dụng phối hợp
các công cụ Marketing. Bằng việc thiết lập chiến lược Marketing các hoạt
động Marketing của Công ty được thực hiện theo một quy trình có hướng
đích cụ thể phù hợp với những đặc điểm thị trường của Công ty.
Chiến lược Marketing của doanh nghiệp được Philip Kotler định
nghĩa: “Chiến lược marketing là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn
cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ
Marketing của mình Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị
trường mục tiêu, đối với phức hệ Marketing và mức chi phí cho Marketing”
Cũng có thể coi chiến lược Marketing thực chất là Marketing mix và
thị trường trọng điểm (theo Marketing thương mại): “Chiến lược là sự kết
hợp đồng bộ mang tính hệ thống giữa Marketing hỗn hợp và thị trường
trọng điểm. Các tham số Marketing hỗn hợp được xây dựng và hướng tới
một nhóm khách hàng (thị trường trọng điểm) cụ thể”. Marketing hỗn hợp
hay Marketing mix ở đây bao gồm: Chiến lược sản phẩm, chiến lược giá,
chiến lược phân phối, chiến lược xúc tiến.
Chiến lược Marketing xây dựng là một tập hợp các đề xuất chung
nhất, cơ bản nhất để hướng dẫn và chỉ đạo các hoạt động Marketing của
doanh nghiệp xây dựng, bao gồm các công việc: phân tích và lựa chọn thị
trường mục tiêu của Marketing, ra quyết định và các biện pháp để đạt được
mục tiêu Marketing ứng với từng tình huống và hoàn cảnh cụ thể trong một
thời gian nhất định.
2. Vai trò của chiến lược Marketing:
Chiến lược marketing là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành
ngắn hạn hơn của mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đó được là những số
liệu cụ thể về:
• Doanh thu và lợi nhuận
• Thị trường và thị phần
• Thương hiệu và định vị thương hiệu
Một cách nhìn khác của mục tiêu marketing:
• Duy trì phát triển kinh doanh.
• Tạo sự khác biệt cho thương hiệu
• Tối ưu hóa lợi nhuận
• Duy trì và cải thiện quan hệ khách hàng
Muốn xây dựng được mục tiêu marketing thì các nhà hoạch định
phải đáp ứng được tiêu chuẩn SMART:
• S = Specific: Cụ thể, rõ ràng. Ví dụ như: tăng thị phần bao nhiêu
phần trăm? Tăng doanh số bao nhiêu triệu đồng? Trong bao nhiêu tháng,
năm? Bằng cách nào? Nguồn vốn là bao nhiêu? Ai cấp? Nhân lực huy động
bao nhiêu? Từ đâu?
• M = measurable: Có thể đo đếm được. Ví dụ như: %; USD, Đồng;
giờ, ngày, tháng; kg; tấn… để dễ dàng so sánh được khi kết thúc một
chương trình hay một năm hoạt động.
• A = Achievable: Có thể đạt được.
• R = Realistic: Thực tế. Mục tiêu đề ra phải phù hợp với điều kiện
của công ty. Một doanh nghiệp nhỏ không thể huy động một nguồn vốn
khổng lồ, nguồn nhân lực lớn, thách thức với đối thủ là các doanh nghiệp
dẫn đầu thị trường…
• T = Timed: Có hạn mức thời gian. Đây là mục tiêu cự kỳ quan trọng.
Bất kỳ chiến lược nào đều cần có mở đầu và kết thúc. Không thể có chiến
lược mãi mãi không dừng lại. Đưa ra một khoảng thời gian để làm động lực
phấn đấu.
Mục tiêu chiến lược Marketing của doanh nghiệp thiết kế và xây
dựng chính là các bản kế hoạch tương lai mà doanh nghiệp phải phấn đấu
marketing xây dựng những chiến lược khác nhau về giá.
Giá là biến số duy nhất của marketing – mix tạo doanh thu cho
doanh nghiệp. Các quyết định về giá luôn gắn với các kết quả tài chính của
doanh nghiệp. Thông tin về giá luôn giữ vị trí quan trọng trong việc đề xuất
các quyết định kinh doanh. Khi lập các chiến lược giá các nhà hoạch định
chiến lược marketing cần xác định được 4 nội dung cơ bản:
- Nắm bắt và dự báo một cách chính xác mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố tác động đến các quyết định về giá.
- Xác định mức giá chào hàng, giá bán, giá sản phẩm mới, khung giá,
giá giới hạn, thời hạn thanh toán… Đó là việc xác định những mức giá cụ
thể cho từng mặt hàng, kiểu kênh phân phối, thời gian và địa điểm phân
phối, phương thức thanh toán. Việc tìm kiếm các phương pháp định giá
khoa học là vấn đề quan trọng nhất của nội dung này.
- Ra các quyết định về điều chỉnh và thay đổi giá theo môi trường kinh
doanh luôn biến đổi.
- Lựa chọn những ứng xử thích hợp trước những hoạt động cạnh tranh
qua giá cả.
iii. Chiến lược phân phối.
Theo quan điểm của marketing, kênh phân phối là một tập hợp các
doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá
trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng. Nhờ có mạng
lưới phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian, địa điểm
và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùng các hàng hóa và
dịch vụ.
Vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp là lựa chọn được kênh
phân phối thích hợp cho các sản phẩm của họ. Mỗi doanh nghiệp có thể lựa
chọn các kênh phân phối khác nhau để đưa hàng hóa của họ đến người tiêu
dùng cuối cùng. Nói cách khác, các nhà hoạch định chiến lược cần phải xây
dựng lựa chọn kênh phân phối phù hợp với sản phẩm của mình. Để xác
định những căn cứ lựa chọn kênh phân phối tối ưu các nhà marketing cần
thị trường nhưng đồng thời phải đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp. Nói
đến cùng thì chiến lược marketing cũng vì mục đích lợi nhuận cho nên yếu
tố thị trường và doanh nghiệp phải được kết hợp hài hòa.
- Đánh giá chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết
định đến việc khách hàng có tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay
không do đó khi chiến lược marketing được lựa chọn cần phải đáp ứng
được các chỉ tiêu như:
• Tính thích ứng của sản phẩm với thị trường và điều kiện của công
ty.
• Sản phẩm phải tạo ra được ưu thế cạnh tranh so với các hãng
khác trong cùng ngành.
• Sản phẩm phải là sự kết hợp bảo đảm tính liên kết giữa các phần
của chiến lược.
- Đánh giá về lựa chọn giá: Doanh nghiệp sẽ lựa chọn mức giá là bao
nhiêu cần phải được tính toán và đánh giá một cách hợp lý trên điều kiện
hoàn cảnh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải biết được khả năng sinh
lời chắc chắn của chiến lược là bao nhiêu, độ rủi ro là bao nhiêu… để có
các phương pháp hạch toán chi phí hợp lý, xây dựng các nguồn vốn đầu tư
khả thi…
Muốn đánh giá được một chiến lược có khả thi hay không các nhà
Quản Lý cần phải vận dụng tổng hợp rất nhiều các công cụ toán và điều đó
gây tốn kém thời gian. Việc áp dụng sự tiến bộ của công nghệ sẽ đẩy nhanh
tốc độ đánh giá chiến lược đó. Các phương án sau đánh giá có thể dẫn
doanh nghiệp đến nhiều quyết định:
• Nếu chiến lược nào ưu thế hơn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn chiến
lược đó. Phần nào của chiến lược còn yếu kém thì doanh nghiệp
cần đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện chiến lược.
• Nếu chiến lược chưa chắc chắn nhưng nằm trong phạm vi rủi ro
mà doanh nghiệp cho phép thì doanh nghiệp vẫn có thể chấp nhận
và đưa ra các biện pháp khắc phục rủi ro.
ngắn hạn. Tùy trong từng thời điểm và hoàn cảnh khác nhau mà có các mục
tiêu ưu tiên khác nhau. Mỗi một doanh nghiệp cần xác định cho mình mục
tiêu kinh doanh để tập hợp sức mạnh của cả doanh nghiệp, tạo ra sự nhất
quán và thống nhất cao. Các mục tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa
chọn chiến lược marketing của doanh nghiệp cho nên các mục tiếu đó cần
được phân tích để xác định chiến lược nào phù hợp.
b. Nguồn lực của Công ty.
Nguồn lực của Công ty là các yếu tố mang tính chủ quan có thể kiểm
soát được ở một mức độ nào đó mà doanh nghiệp sử dụng để khai thác cơ
hội kinh doanh và thu lợi nhuận. Tiềm lực không phải là nguồn bất biến
nhưng có quyết định chủ yếu đến sự thành công hay thất bại của mỗi tổ
chức. Nó thay đổi liên tục và tác động trực tiếp tới các quyết định của
doanh nghiệp. Phân tích tiềm lực của doanh nghiệp giúp cho các nhà lãnh
đạo đưa ra những lựa chọn sáng suốt trong thời điểm hiện tại và xây dựng
những mục tiêu rõ ràng cho tương lai, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn
thích nghi được với những thay đổi của môi trường.
Các nguồn lực mà một tổ chức không thể bỏ qua khi muốn đưa ra
được những bản chiến lược hoàn hảo:
- Tiềm lực tài chính: Là một yếu tố phản ánh sức mạnh của doanh
nghiệp thông qua khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
được và khả năng phân phối, quản lý có hiệu quả nguồn vốn đó.
- Tiềm năng con người: Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để
đảm bảo thành công của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Họ vừa là yếu tố
giúp doanh nghiệp phát triển nhưng vừa là yếu tố làm cho doanh nghiệp bị
trì trệ. Chính vì thấy quản lý con người là một nhiệm vụ yêu cầu rất cao kỹ
năng của các nhà lãnh đạo.
- Tiềm lực vô hình: Là tiềm lực không thể lượng hóa được một cách
trực tiếp mà phải thông qua các tham số trung gian. Tiềm lực vô hình tạo
nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động thương mại. Sức mạnh
này thể hiện ở khả năng ảnh hưởng và tác động đến sự lựa chọn chấp nhận
Công ty M&H được thành lập năm 1998, bắt đầu từ việc kinh doanh
thiết bị xây dựng, M&H đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình sang
các lĩnh vực chính là sản xuất, thi công cũng như cung cấp các dịch vụ có
liên quan. Công ty hiện có khoảng 100 nhân viên, các văn phòng tại Hà
Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Nhà máy sản xuất tại Khu công nghiệp
Quang Minh, Vĩnh Phúc, Xưởng dịch vụ tại Hà Nội, Hồ Chí Minh.
1994: Bắt đầu tham gia vào lĩnh vực xây dựng nhưng cho đến tận
năm 1998 công ty mới chính thức được thành lập
2001: Trở thành nhà thầu phụ thi công nền móng cho các công trình
và mở văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh
2002: Bắt đầu sản xuất trạm trộn bê tong
2003: Bắt đầu sản xuất thiết bị khoan nền móng với sản phẩm đầu
tiên là đầu khoan rời, tham gia dự án nền móng lớn nhất với 7 thiết bị
khoan
2004: Cung cấp trạm trộn bê tông đầm lăn đầu tiên ở Việt Nam cho
dự án thủy điện Pleikrong
2005: Tham gia làm thầu phụ thi công bê tông cho 2 nhà thầu Nhật
Bản OBAYASHI-SUMITOMO/SHIMIZU-SUMITOMO MITSUI tại 2
cầu lớn.
2006: Mở văn phòng đại diện tại tỉnh Quảng Ngãi, liên doanh với
nhà thầu RUSKIN CONSTRUCTION – Canada thi công một trong những
hạng mục khoan hạ phức tạp nhất tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Bắt
đầu xây dựng nhà máy với diện tích 14.000 m
2
tại Khu công nghiệp Quang
Minh - Vĩnh Phúc
2007: Đánh dấu một bước tiến quan trọng đối với công ty khi sản
xuất hệ thống đỗ xe tự động đầu tiên ở Việt Nam và được trưng bày tại
triển lãm CON-BUILD 2007, cùng với năm đó công ty cũng mở thêm một
xưởng dịch vụ kỹ thuật tại TP. Hồ Chí Minh. Ký thỏa thuận làm đại lý độc
- Công ty là nhà lắp ráp độc quyền của hãng Dolphin Parking - Hà
Lan trên toàn khu vực Châu Á. M&H cũng cung cấp các dịch vụ bảo trì,
bảo dưỡng hoặc bảo hành trọn đời cho sản phẩm. Các hoạt động bảo trì,
bảo dưỡng do các chuyên gia đã được đào tạo tại Việt Nam và Hà Lan theo
đúng quy trình và tiêu chuẩn của hãng Dolphin Parking đảm nhiệm.
- M&H không đơn giản chỉ sản xuất, cung cấp thiết bị mà mục tiêu
của công ty là trở thành một đơn vị hàng đầu Việt Nam trong việc tư vấn,
cung cấp giải pháp, thiết bị, chuyển giao công nghệ thi công để luôn song
hành cùng các nhà thầu nền móng như một đối tác tin cậy nhất.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty.
SƠ ĐỒ (1): TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
b. Chức năng quyền hạn quản lý của từng phòng ban
Trong bộ máy quản lý, mỗi phòng ban đều có các chức năng, nhiệm
vụ riêng trong mối quan hệ thống nhất cụ thể.
i. Ban quản trị:
- Giám đốc: là người sáng lập ra công ty, có chức năng điều hành và
giám sát mọi hoạt động của Công ty, ra các quyết đinh quan trọng và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty.
- Phó Giám đốc (kiêm giám đốc điều hành) thay mặt Giám đốc giải
quyết các công việc thuộc phạm vi, quyền hạn do Giám đốc phân công
hoặc uỷ nhiệm. Lên kế hoạch, mục tiêu chiến lược phát triển cho công ty,
tham gia giám sát, đôn đốc tiến độ công trình. Phê duyệt các báo cáo, quỹ
lương, tình hình xuất nhập nguyên vật liệu…Tiếp đón khách hàng, nhà đầu
tư phân phối, đại diện công ty tham gia các dự án, các cuộc triển lãm…
nhằm marketing cho công ty.
- Phòng liên doanh FCG VN: là bộ phận quản lý đại diện của nước
ngoài tại Việt Nam, tham gia vào quá trình quản lý, giám sát việc triển khai
dự án, hoạt động sản xuất. Thông thường Phía nước ngoài sẽ hoạt động với
LIÊN DOANH
FCG
ta theo thời vụ và những yêu cầu cụ thể. Khi có các dự án quan trọng thì
các chuyên gia bên họ sẽ sang cùng làm việc với phía công ty.
ii. Phòng dự án: Lên kế hoạch dự án, tính toán các chi phí, phát thảo
dự án trình giám đốc phê duyệt và tiến hành tham gia đấu thầu các dự án
kinh doanh… Dựa vào nhu cầu của khách hàng trực tiếp phác thảo bản vẽ
đưa phòng kỹ thuật thiết kế sản phẩm, đo đạc…Kiểm tra dự án, thẩm định
dự án, đưa ra những kiến nghị, tư vấn cho các dự án cụ thể… Phản ánh
ngay khi có sai sót trong thi công lắp ráp các công trình để đảm bảo chất
lượng thi công. Tạo lập các mối quan hệ.
iii. Phòng kỹ thuật: Đảm nhiệm tư vấn các hạng mục công trình đảm
bảo mỹ quan, tiện lợi, nhanh gọn đáp ứng được nhu cầu khách hàng, đề
xuất các phương án phù hợp với yêu cầu điều kiện hoàn cảnh nhằm tiết
kiệm thời gian, công sức, chi phí Đo đạc, kiểm tra công trình đảm bảo
đúng tiến độ, kế hoạch, bản vẽ… chịu trách nhiệm giải trình trước ban
giám đốc, phòng dự án và khách hàng về các thông số, sai sót trong quá
trình thi công của dự án.
iv. Phòng hành chính tổng hợp: Là phòng quản lý về vấn đề nhân sự
của công ty, đồng thời tham mưu cho giám đốc ra các quyết định về tổ
chức sắp xếp cán bộ. Làm các thủ tục để giải quyết các vấn đề cho những
người chuyển công tác, nghỉ hưu, thôi viêc ở công ty và giải quyết các công
việc liên quan khác về nhân sự do cấp cao yêu cầu, thực hiện công tác
tuyển dụng nhân sự, lên kế hoạch công việc, chi trả tiền lương cho công
nhân, giải quyết các thắc mắc của nhân viên về chế độ đãi ngộ. Làm bảo
hiểm cho công nhân và thay mặt cho giám đốc giải quyết các trường hợp sự
cố lao động xảy ra như: bồi thường, trợ cấp… Làm và giải quyết các công
việc hành chính liên quan đến việc gửu thư mời, trả lời thư của phía đối tác,
lên lịch tổ chức các cuộc hẹn cho giám đốc, theo dõi và ghi chép lịch công
tác tuần…Tổ chức các cuộc gặp mặt, đi chơi, thăm quan, mua sắm văn
phòng phẩm… thay mặt giám đốc thực hiện một số ngoại giao với các công
ty, cơ quan chính quyên…