Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CN : Công nghiệp
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
HTX : Hợp tác xã
NHNo&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dung
TMDV : Thương mại dịch vụ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
XD : Xây dựng
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong những năm gần đây
trong điều kiện hội nhập kinh tế và Việt Nam đã là thành viên của tổ chức
Thương mại Quốc tế WTO, vì vậy nền kinh tế Việt Nam phải thực sự đối mặt
với những thách thức hết sức to lớn. Nguyên nhân của những thách thức đó là
nền kinh tế Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt: Công nghệ còn lạc hậu,
thương mại khác trong địa phương. Nên mục tiêu của ngân hàng trong thời
gian tới là vẫn tiếp tục giữ vững vị thế và phát triển mạnh hơn nữa dựa trên
những bài học kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển của các ngân hàng bạn ở
cả trong và ngoài hệ thống. Qua quá trình thực tập, em đã có dịp trực tiếp
tìm hiểu và nghiên cứu các hoạt động của ngân hàng. Chi nhánh đã từng
bước phấn đấu, ngyaf một hoàn thiện hơn và đã đạt được những thành tựu
đáng kể. Tuy vậy, trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội hiện nay, hoạt động
tín dụng của chi nhánh cúng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới,
tiềm ẩn rủi ro lớn trong kinh doanh.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tín dụng, cùng với những
kiến thức đã học tập và nghiên cứu tại trường và quá trình nghiên cứu thực tế,
em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình” để làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của
mình.
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất lượng hoạt động
tín dụng của NHTM.
- Khảo sát có hệ thống về thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng của
chi nhánh NHNo&PTNT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trong thời gian qua.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng nghiên cứu
- Các lý luận cơ bản về tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng của
NHTM.
- Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua các hình thái
kinh tế xã hội khác nhau. Danh từ tín dụng để chỉ một số hành vi phức tạp
như: bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy
bạc. Trong mỗi hành vi tín dụng chúng ta thấy tín dụng như là một sự trao đổi
tài hoá hiện tại để lấy một tài hoá tương lai, nói cách khác: Tín dụng là sự
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu này sang người sử
dụng khác để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn
lượng giá trị ban đầu.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là các quan hệ chuyển nhượng quyền sử
dụng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế thị trường
trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định theo nguyên tắc
hoàn trả.
1.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, và luôn tìm ra
các hình thức tín dụng mới phù hợp và đáp ứng nhu cầu của qúa trình tái sản
xuất, từ đó đa dạng hoá danh mục đầu tư để mở rộng tín dụng, thu hút thêm
nhiều khách hàng, tăng lợi nhuận và thực hiện phân tán rủi ro. Theo những
căn cứ khác nhau thì tín dụng ngân hàng có những hình thức khác nhau.
1.1.2.1 Căn cứ mục đích sử dụng tiền vay
Theo tiêu thức này người ta chia tín dụng ra thành:
- Tín dụng đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp tín dụng
cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hóa như:
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là loại cho vay mà ngân hàng và
khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một
khoản thời gian nhất định.
1.1.2.5 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay
Theo tiêu thức này người ta chia tín dụng ra thành:
- Cho vay chỉ có 1 kỳ hạn trả nợ, còn gọi là cho vay trả nợ 1 lần khi đáo
hạn.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, còn gọi là cho vay trả góp.
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả
năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
1.1.3 Đặc điểm chủ yếu của tín dụng ngân hàng
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng cũng có những
đặc điểm chung như:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người
sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời (có thời hạn).
- Sự chuyển nhượng này kèm theo chi phí.
Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng còn có những đặc điểm riêng như:
Thứ nhất, trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng đóng vai trò là tổ
chức trung gian, tức là ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay thông qua
nghiệp vụ huy động vốn, vừa đóng vai trò là người cho vay thông qua nghiệp
vụ tín dụng.
Thứ hai, huy động vốn và cho vay của ngân hàng chủ yếu thực hiện
dưới hình thức tiền tệ. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng các ngân hàng bằng
cơ chế thích hợp, huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ
cho vay của ngân hàng. Như vây, tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng,
tiền tệ hóa, vì vậy với công cụ thực hiện chủ yếu là “quyền sử dụng tiền tệ”
tín dụng ngân hàng có thể tham gia vào mọi quan hệ xã hội.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.4.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong hoạt động ngân hàng
Thứ nhất, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng
thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền
kinh tế thị trường bởi nó là hoạt động tạo ra phần lớn các tài sản của ngân
hàng dưới hình thức các khoản chi vay và cũng là hoạt động mang lại thu
nhập chủ yếu cho một ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội, là trung gian chuyển vốn từ người
thừa vốn sang người thiếu vốn để đầu tư. Ngay từ buổi ban đầu, hoạt động
của ngân hàng thương mại đã tập chung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi
và cho vay để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt nhu cầu về vốn của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc nhu cầu tiêu
dùng cá nhân. Trong quá trình phát triển, mặc dù môi trường kinh doanh có
nhiều thay đổi, nhiều phương pháp, công cụ kinh doanh mới xuất hiện, nhưng
hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong
toàn bộ các hoạt động ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay thường
chiếm trên 70% tổng tài sản có và tỷ trọng huy động tiền gửi thường chiếm
trên 60% tổng tài sản nợ của các ngân hàng thương mại. Lợi nhuận thu được
từ hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ lệ cao, ở các nước phát triển khoảng
60% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
chiếm khoảng 90% lợi nhuận. Điều này thể hiện rõ hoạt động tín dụng là hoạt
động đi vay để cho vay và là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân
hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày
rất quan trọng.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần điều tiết khối lượng tiền trong
lưu thông, đáp ứng các nhu cầu trao đổi. Tín dụng ngân hàng huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng trong tất cả các thành phần kinh tế
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
để cho các doanh nghiệp, cá nhân vay, góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh
và nâng cao chất lượngsử dụng vốn. Sự có mặt của tín dụng ngân hàng được
coi như một công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và người
thiếu vốn. Lợi tức đi vay và cho vay của ngân hàng luôn là công cụ điều chỉnh
cung cầu và vốn tín dụng. Nhờ có ngân hàng mà vốn tiền tệ được vận động
một cách liên tục, điều đó vừa làm tăng khả năng tích luỹ tư bản (bao gồm cả
lợi nhuận) của các ngân hàng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế nhờ
vào nguồn thu từ việc cấp tín dụng của ngân hàng.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế.
Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Ngân hàng cung cấp cho các
ngành thực hiện đầu tư theo cả chiều rộng và chiều sâu, hình thành các ngành
sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và khai thác triệt để các
nguồn lực, điều này thể hiện qua việc cấp tín dụng cho các dự án, chương
trình phát triển để khuyến khích đẩy nhanh tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng có tác động tới chất lượng sản xuất, thúc
đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hoá dịch vụ, doanh nghiệp cần vốn đầu tư máy móc thiết bị và
luôn phải đổi mới công nghệ…. tín dụng ngân hàng đáp ứng được yêu cầu đó
với điều kiện phải hoàn trả cả vốn vay và lãi; nếu vi phạm hợp đồng tín dụng,
doanh nghiệp phải chịu phạt như chịu lãi suất nợ quá hạn cao, mất quyền sử
dụng tài sản thế chấp… do vậy, doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng
sản xuất, cạnh tranh trên thị trường để kinh doanh có lãi, thu hồi vốn đầu tư
mãn nhu cầu của người sử dụng đối với sản phẩm mà nhà sản xuất cung ứng,
theo mục tiêu định sẵn và đáp ứng được yêu cầu chung của thị trường.
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm đặc biệt – kinh doanh
tiền tệ nên tất yếu cũng phải quan tâm tới chất lượng sản phẩm của mình, đặc
biệt là chất lượng hoạt động tín dụng bởi vì tín dụng là một trong những hoạt
động chính của ngân hàng.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chất lượng hoạt động tín dụng là sự thỏa mãn các nhu cầu của các bên
liên quan (khách hàng, bản thân ngân hàng và nền kinh tế nói chung) đến hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Có thể nhận thức chất lượng hoạt động tín dụng
trên nhiều góc độ khác nhau:
Trên góc độ ngân hàng, chất lượng hoạt động tín dụng trước hết phải nói
đến tính an toàn của các khoản vay, việc đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và
đúng hạn của khách hàng; sau đó là sự mang lại lợi nhuận cho chính bản thân
ngân hàng, có nghĩa là chất lượng hoạt động tín dụng phải được thể hiện ở sự gia
tăng lợi nhuận, sự tăng trưởng dư nợ, khả năng thu hồi gốc và lãi (thể hiện ở tỷ lệ
nợ quá hạn đảm bảo đúng mức quy định và ngày càng giảm), sự cân đối giữa
nguồn vốn với dư nợ của ngân hàng, sự hợp lý của cơ cấu tín dụng,…
Trên góc độ khách hàng, chất lượng hoạt động tín dụng được hiểu là sự
phù hợp của khoản tín dụng với nhu cầu vay vốn của khách hàng, tức là
khách hàng được vay với lãi suất và kỳ hạn hợp lý. Ngoài ra, chất lượng hoạt
động tín dụng còn được hiểu là thủ tục cho vay đơn giản đảm bảo tiết kiệm
thời gian, chi phí cho khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng nguyên tắc, quy
định pháp luật về tín dụng.
Trên góc độ đối với nền kinh tế, chất lượng hoạt động tín dụng thể hiện ở
việc tạo ra chất lượng kinh tế và cải thiện đời sống xã hội. Cụ thể: Chất lượng
hoạt động tín dụng được nâng cao phải góp phần phát triển kinh tế, qua đó tạo
ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, tăng thu nhập cho dân cư và tăng nguồn
hỏi nền kinh tế phải ổn định với cơ chế chính sách phù hợp, sự phối hợp nhịp
nhàng và có chất lượnggiữa các cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho
hoạt động tín dụng.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng
1.2.3.1 Các chỉ tiêu định tính
Một là đảm bảo nguyên tắc cho vay:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định. Do
đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do vậy có
các nguyên tắc khác nhau. Trong đó nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc
quan trọng đối với mỗi Ngân hàng. Điều 6 trong “Quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng” ban hành theo Quyết định Số
1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân
hàng nhà nước quy định rõ “Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải
đảm bảo:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.”
Hai nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản
cho vay nào cũng phải đảm bảo.
Tín dụng đúng mục đích là cơ sở để doanh nghiệp tính toán và ngân
hàng thẩm định chất lượng quá trình sản xuất kinh doanh – là một trong
những yếu tố đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng. Mặt khác, vì đại bộ phận
nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng là huy động từ nền kinh tế và hoạt động
tín dụng tuân theo nguyên tắc hoàn trả nên nếu trong quá tình hoạt động kinh
doanh mà các khoản tín dụng ngân hàng đã cấp không được hoàn trả đúng
Ba là quy trình tín dụng.
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng
trong việc cấp tín dụng và bao gồm 5 bước: Lập hồ sơ, phân tích tín dụng,
quyết định tín dụng, giải ngân và giám sát và thanh lý nợ. Việc xây dựng quy
trình tín dụng chặt chẽ và hợp lý, tuân thủ nguyên tắc cấp tín dụng sẽ góp
phần nâng cao chất lượng hoạt động quản trị, giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an
toàn cho ngân hàng, nâng cao doanh lợi, đảm bảo chất lượng hoạt động tín
dụng.
Bốn là khả năng thu hút khách hàng. Chỉ tiêu này thể hiện ở việc ngân
hàng giữ được khách hàng truyền thống và thu hút được khách hàng mới đến
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay vốn, đồng thời phát triển tốt các quan hệ với khách hàng tiềm năng.
Năm là tính bền vững.
Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên để
đạt được mục tiêu đó thì hoạt động tín dụng của ngân hàng phải được duy trì
và triển khai theo những chiến lược phát triển bền vững. Khi đã có hệ thống
chiến lược phát triển bền vững sẽ đảm bảo kinh doanh ổn định, tăng trưởng
đều đặn, giữ được khách hàng truyền thống, mở rộng tín dụng vững chắc,
nâng cao vị thế của ngân hàng.
1.2.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
- Tổng dư nợ
Tổng dư nợ = Tổng doanh số cho vay – Tổng doanh số thu nợ
Chỉ tiêu này cho biết khối lượng tiền ngân hàng cung ứng ra nền kinh tế
tại một thời điểm. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân
hàng còn kém hiệu quả, chưa có khả năng mở rộng khách hàng. Tuy nhiên
tổng dư nợ quá cao cũng chưa hẳn đã tốt vì khối lượng tiền cung ứng ra lưu
thông nhiều nhưng nếu chất lượng các khoản vay không tốt, nợ xấu gia tăng
sẽ làm ngân hàng gặp rủi ro mất vốn; mặt khác việc mở rộng quy mô tín dụng
Dư nợ quá hạn đầu kỳ+Dư nợ quá hạn trong kỳ
- Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn dư nợ
Tổng dư nợ đến kỳ hạn
Tỷ lệ cho vay =
Tổng lượng vốn huy động tích lũy
Tỷ lệ này cho biết khả năng ngân hàng tận dụng nguồn vốn huy động
trong hoạt động tín dụng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng cho vay của ngân
hàng lớn, nếu các khoản cho vay này không gây nợ xấu thì điều này cho thấy
chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt.
- Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất và lãi suất cho vay bình quân. Chỉ
tiêu này cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. Nói
chung, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì
ngân hàng mới hoạt động và có lãi.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Vòng quay vốn tín dụng trong năm
Dư nợ trong năm
Vòng quay vốn tín dụng trong năm =
Dư nợ bình quân năm
Chỉ tiêu này cho ta biết một đồng vốn của ngân hàng được cho vay bao
nhiêu lần trong năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ ngân hàng
thu được nhiều nợ và chứng tỏ rằng nguồn vốn mà ngân hàng đã đầu tư vào
hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
- Tổng doanh thu của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết quy mô doanh thu từ hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Chỉ tiêu này cao là dấu hiệu cho thấy hoạt động tín dụng của
ngân hàng tốt.
- Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
không phải chịu những thiệt hại do mất giá của đồng tiền, tránh được chất
lượng hoạt động tín dụng thấp.
Chu kỳ kinh tế cũng tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Nếu
thời kỳ kinh tế hưng thịnh, sản xuất kinh doanh được mở rộng dẫn đến nhu
cầu vốn tăng, chất lượng hoạt động tín dụng tăng lên, giảm rủi ro tín dụng
nhưng cũng không loại trừ trường hợp chạy đua sản xuất kinh doanh, đầu cơ
tích trữ làm cho nhu cầu tín dụng tăng quá cao thì những khoản tín dụng này
sẽ khó hoàn trả được. Ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái, sản xuất
trì trệ, kinh doanh bị thua lỗ, nhu cầu vốn tín dụng giảm và nếu vốn tín dụng
được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng hiệu quả.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, lãi suất luôn biến động. Mức độ
phù hợp giữa lãi suất ngân hàng và lợi nhuận doanh nghiệp cũng ảnh hưởng
tới chất lượng hoạt động tín dụng. Lợi tức ngân hàng thu được từ hoạt động
tín dụng bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay.
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
b) Môi trường pháp lý
Mọi hoạt động của các thành viên trong xã hội chịu sự giám sát rất lớn
bởi các cơ chế chính sách của nhà nước. Môi trường pháp lý ở đây được hiểu
là một hệ thống luật và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động
ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Nền kinh tế càng phát
triển thì hệ thống các văn bản pháp lý càng phải hoàn thiện bắt kịp sự phát
triển đó. Một môi trường pháp lý hoàn chỉnh sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt
động sản xuất kinh doanh thuận tiện và hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý để giải
quyết các vấn đề khiếu nại khi có tranh chấp. Ngược lại, hành lang pháp lý
không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì mọi hoạt động trong nền
kinh tế đó không thể tiến hành trôi chảy được.
c)Môi trường xã hội
Về mặt xã hội, tín dụng là sự vay mượn trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng
đến kết quả hoạt động của một ngân hàng. Chính sách tín dụng một mặt phải
phù hợp với đường lối kinh tế xã hội của nhà nước, mặt khác phải đảm bảo
kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi tiền người đi vay và của bản thân
ngân hàng thương mại. Nhà nước thông qua các chính sách tín dụng về vốn,
điều kiện vay đối với các tổ chức các cá nhân từ đó tạo môi trường cho họ mở
rộng sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
Như vậy, một chính sách tín dụng rõ ràng, hợp lý sẽ khuyến khích
khách hàng đến gửi tiền cũng như cho vay, góp phần nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng nói
riêng và của xã hội nói chung.
Hai là thẩm định dự án
Thẩm định dự án tín dụng là bước quan trọng đầu tiên ngân hàng phải
làm trước khi quyết định cho vay với bất kỳ khách hàng nào. Thẩm định tín
dụng là việc tổ chức xem xét một cách khách quan toàn diện các nội dung cơ
bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án để quyết định cấp tín dụng.
Mục đích của việc thẩm định dự án ngân hàng ra kết luận chính xác về tính
Đỗ Tiến Thành Lớp: QTKD TM 49B
25