ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
************* TRỊNH TỐ TOẢN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HỆ THỐNG
IPTV TRÊN CƠ SỞ MẠNG THẾ HỆ MỚI (NGN) Ngành: Công nghệ thông tin
Mã số: 1.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐOÀN VĂN BAN Hà Nội
12/2007 –
MỤC LỤC
21CN (21st Century
Network)
Mạng thế kỉ 21. Cơ sở hạ tầng mạng toàn thế giới dựa trên
công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS phục vụ cho các dịch
vụ triple-play.
AAA (Authentication,
Authorization and
Accounting)
Việc xác thực, chứng thực và kiểm soát.
ADSL (Asynchronous
Digital Subscriber
Line)-
Đường dây thuê bao số không đồng bộ.
Cách thức truyền tải dữ liệu qua đường điện thoại truyền
thống, và nhanh hơn nhiều so với kết nối điện thoại truyền
thống, tốc độ download:8-10 Mbps, Upload: 128 Kbps.
ADSL2+
Một tiêu chuẩn ADSL mới cho phép tăng tốc độ download.
Tốc độ download đạt tới 24Mbbps
API (Application
Program Interface)
Giao diện chương trình ứng dụng
Một nhóm các chỉ dẫn đưa ra các yêu cầu bắt buộc để thực
hiện việc trao đổi thông tin giữa 2 máy tính.
ASI (Asynchronous
Serial Interface)
Chuẩn kết nối tín hiệu TV
ATM (Asynchronous
Transfer Mode)
xác nhận mọi quyền sử dụng hợp pháp.
DSLAM (Digital
Bộ tổng hợp truy nhập đường dây thuê bao số.
Subscriber Line
Access Multiplexer)
Một thiết bi bao gồm một tập hợp các modem DSL để kết
nối các đường DSL tới một đường ATM tốc độ cao
DVB (Digital Video
Broadcasting)
Quảng bá hình ảnh số
Một hệ thống truyền hình số trên tất cả các môi trường (vệ
tinh, cáp, trạm mặt đất) và hỗ trợ các dịch vụ internet với
tốc độ truyền lên đến 6Mbps
EPG (Electronic
Program Guide)
Trang tương tác điện tử
Một trang hướng dẫn cung cấp thông tin chi tiết của các
chương trình hiện tại và tương lai, giúp cho người sử dụng
lựa chọn. Các thông tin gồm có: tóm tắt chương trình, tìm
kiếm nội dung hoặc kênh, tương tác trực tiếp với các
chương trình được lựa chọn, lưu trữ, và chức năng điều
khiển dành cho bố mẹ.
FMC (Fixed Mobile
Convergence)
Sự hội tụ của điện thoại cố định và mobile.
FTAM (File Transfer
Access and
Management)
Giao thức kết hợp giữa giao thức truyền file FTP và truy
nhập file từ xa.
mã hóa lại nội dung media.
HDTV (High-
Definition Television)
Truyền hình chất lượng cao
Một chuẩn truyền hình tăng gấp đôi số đường quét từ 525
lên đến 1050 đường và tăng tỉ lệ màn hình từ 12:9 lên 16:9.
Tỉ lệ này tạo ra hiệu ứng như khung hình ảnh trong phim.
IAD (Integrated
Access Device)
Thiết bị truy nhập tích hợp. Cho phép truy nhập mạng băng
thông rộng với nhiều kênh truyền tải audio, data, video.
IMS (IP Multimedia
Subsystem)
Là một kiến trúc framework thiết kế để cung cấp các dịch
vụ multimedia trên nền mạng IP tới khách hàng.
IMS hỗ trợ các thiết bị có dây và không dây truy cập các
ứng dụng multimedia và voice dễ dàng hơn.
In-band Management
Quản trị thông qua các kênh dữ liệu thông thường (ví dụ
Ethernet) để quản lý thiệt bị. Nó có hạn chế là chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ các thiệt bị được quản lý hoặc lỗi mạng.
Xem thêm Out-band Management
IP/MPLS (Internet
Protocol/MultiProtocol
Label Switching)
Chuyển mạch nhãn đa giao thức.
Hệ thống mạng cung cấp các mạng riêng ảo, mạng LAN,
đường dây thuê bao, và các dịch vụ tốc độ cao
IRD (Integrated
Receiver/Descrambler)
trên DVD hay truyền hình số.
MPEG4 Part 2
Định dạng hình ảnh được sử dụng trên hệ thống điện thoại
3G để thu và phát hình ảnh.
MPEG4 Part 10
Công nghệ nén cung cấp hình ảnh chất lượng MPEG2
nhưng tốc độ dữ liệu chỉ bằng một nửa.
NII (Nation
Information
Infrastructure)
Hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia
nPVR (Network-based
Personal Video
Recorder)
Một nguồn hình ảnh quảng bá mà người sử dụng có thể lưu
trữ trên hệ thống hình ảnh.
NVOD (Near Video
On Demand)
Chức năng xem cùng một bộ phim tại các thời điểm khác
nhau, vì vậy phải có nhiều kênh truyền cho cùng một bộ
phim.
OEM (Original
Equipment
Manufacturer)
Công ty thiết bị truyền thống.
Để chỉ các công ty sản xuất các thiết bị mà sau đó thương
mại hóa và bán nó cho các công ty khác.
OSS (Operation
Support System)
Recorder)
Tiện ích trong truyền hình cho phép người sử dụng ghi lại
các chương trình của họ.
RSTP (Realtime
Stream Transport
Protocol)
Giao thức chuẩn cho việc truyền các luồng media theo yêu
cầu thời gian thực.
SDH (Synchronous
Digital Hierarchy)
Chuẩn của Châu Âu cho việc truyền tải mạng quang đồng
bộ. Với các chuẩn về định dạng, giao diện, lựa chọn truyền
tải, và khả năng duy trì. Tốc độ truyền tải 150Mbps (tối
thiểu)
SDI (Serial Digital
Interface)
Chuẩn kết nối tín hiệu TV
SIP (Session Initial
Protocol)
Giao thức khởi tạo phiên, là giao thức cho việc truyền tải
âm thanh qua mạng IP. Xem thêm VoIP.
SNMP (Simple
Network Management
Protocol)
Giao thức quản trị mạng
SONET (Synchronous
Optical Network)
Mạng quang đồng bộ
Dịch vụ mạng tốc độ cao với tốc độ truyền tải từ
51.84Mbps tới 2.4Gbps
Demand)
Dịch vụ cho phép nhiều người sử dụng yêu cầu cùng một
hình ảnh tại một thời điểm.
VoIP (Voice over
Internet Protocol)
Giao thức âm thanh qua mạng Internet
Một cách gọi khác của điện thoại IP. Liên quan tới việc
truyền các cuộc gọi qua mạng dữ liệu như kiểu mạng
Internet gửi âm anh, fax và các thông tin khác mà không
qua mạng điện thoại thoại truyền thống.
WDM ( Wavelength
Division Multiplexing)
Phương pháp ghép kênh phân chia dải tần
WiFi (Wireless
Fidelity)
Là tên của mạng không dây 802.11b. Là một chuẩn thay
thế cho các cáp trong mạng Ethernet.
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. Các thành phần chính của mạng viễn thông 10
Hình 2. Cấu hình mạng cơ bản 11
Hình 3. Cấu trúc mạng phân cấp 12
Hình 4. Topo mạng thế hệ mới 16
Hình 5. Kiến trúc mạng theo xu hướng mới 18
Hình 6. Cấu trúc vật lý mạng NGN 20
Hình 7. Mạng đa dịch vụ 21
Hình 8. Cấu trúc mạng đa dịch vụ 22
Hình 9. IPTV là công nghệ của tương lai 26
Hình 10. Mô hình chung của hệ thống IPTV 27
Hình 11. Các thành phần trong hệ thống IPTV Headend 28
Hình 12. Mô hình giải pháp Middleware của Huawei 29
tiếp tục dẫn đầu trong việc thu hút khách hàng. Các con số này cũng cho thấy đây là
một thị trường năng động với rất nhiều cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ truyền
hình có mô hình kinh doanh, hình thức cung cấp dịch vụ và công nghệ hợp lý.
Tại Việt Nam, hiện có nhiều nhà khai thác dịch vụ viễn thông lớn đang cạnh tranh
nhau nhằm cung cấp cho khách hàng các dịch vụ băng rộng với chất lượng cao và giá
rẻ. Họ cũng đã nhận ra xu hướng phát triển của truyền hình trực tuyến và video theo
yêu cầu, và đang có những bước đi mạnh mẽ. Một số website cung cấp thử nghiệm các
chuơng trình truyền hình trực tuyến của VietNamNet, Công ty VTC, Đài truyền hình
thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận số lượng truy cập rất lớn, cho thấy sức hấp dẫn
của dịch vụ này đối với công chúng.
Theo ước tính, truyền hình cáp vẫn sẽ thống trị đến năm 2010, nhưng sau đó IPTV sẽ
thực sự là đối thủ cạnh tranh với truyền hình số mặt đất và vệ tinh đối với người xem
truyền hình [2]. Sự phát triển của IPTV chắc chắn sẽ nhanh hơn, nhưng với sự số hóa
của truyền hình cáp và vệ tinh, các nhà cung cấp sẽ phải cạnh tranh để giành được
khách hàng mới. Tùy thuộc vào thị trường cụ thể, các nhà khai thác dịch vụ IPTV sẽ
phải bổ sung vào dịch vụ truyền hình quảng bá nhiều kênh với việc mở rộng cung cấp
các dịch vụ đa dạng như VoD, Replay-TV (nPVR), In-home DVR, Gameshow, v.v
Với những phân tích trên đây, mục đích của đề tài này là nghiên cứu và tìm hiểu các
công nghệ đã được phát triển và ứng dụng cho các hệ thống IPTV trên thế giới. Tiếp
đó dựa trên hiện trạng và mô hình thực tế cơ sở hạ tầng mạng ở Việt Nam đề xuất giải
pháp cho việc cung cấp hệ thống IPTV cùng các dịch vụ đi kèm, đảm bảo cung cấp và
đáp ứng chất lượng dịch vụ một cách hiệu quả nhất. Qua việc triển khai rộng rãi các
dịch vụ IPTV sẽ giúp các nhà khai thác mạng viễn thông Việt Nam nâng cao khả năng
đáp ứng nhu cầu khách hàng, mở rộng lĩnh vực kinh doanh nội dung nghĩa là nâng cao
năng lực cạnh tranh trong giai đoạn kinh tế thị trường.
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 10
Mạng viễn thông hiện nay được chia thành nhiều loại. Đó là mạng mắc lưới, mạng sao,
mạng tổng hợp, mạng vòng kín và mạng thang. Các loại mạng này có ưu điểm và
nhược điểm khác nhau để phù hợp với các đặc điểm của từng vùng địa lý (trung tâm,
hải đảo, biên giới,…) hay vùng lưu lượng (lưu thoại cao, thấp,…).
Mạng viễn thông hiện nay được phân cấp như sau [6]:
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 12 Hình 3. Cấu trúc mạng phân cấp
Trong mạng hiện nay gồm 5 nút:
Nút cấp 1: trung tâm chuyển mạch quá giang quốc tế.
Nút cấp 2: trung tâm chuyển mạch quá giang đường dài.
Nút cấp 3: trung tâm chuyển mạch quá giang nội hạt.
Nút cấp 4: trung tâm chuyển mạch nội hạt.
Nút cấp 5: trung tâm chuyển mạch từ xa.
1.1.2. Các đặc điểm của mạng viễn thông hiện nay
Các mạng viễn thông hiện tại có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng lẻ, ứng với
mỗi loại dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng viễn thông riêng biệt để phục vụ
dịch vụ đó [6].
Mạng Telex: dùng để gửi các bức điện dưới dạng ký tự đã được mã hoá bằng 5
bit (mã Baudot). Tốc độ truyền rất thấp (từ 75 tới 300 bit/s)
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 13
Mạng điện thoại công cộng, còn gọi là mạng POTS (Plain Old Telephone
Service): ở đây thông tin tiếng nói được số hóa và chuyển mạch ở hệ thống
chuyển mạch điện thoại công cộng PSTN.
Mạng truyền số liệu: bao gồm các mạng chuyển mạch gói để trao đổi số liệu
giữa các máy tính dựa trên giao thức của X.25 và hệ thống truyền số liệu
chuyển mạch kênh dựa trên các giao thức X.21.
Các tín hiệu truyền hình có thể được truyền theo ba cách: truyền bằng sóng vô
nối chuyển mạch số 64 kbit/s. ISDN phải chứa sự thông minh để cung cấp cho các
dịch vụ, bảo dưỡng và các chức năng quản lý mạng, tuy nhiên tính thông minh này có
thể không đủ để cho một vài dịch vụ mới và cần được tăng cường từ mạng hoặc từ sự
thông minh thích ứng trong các thiết bị đầu cuối của người sử dụng. Sử dụng kiến trúc
phân lớp làm đặc trưng của truy xuất ISDN. Truy xuất của người sử dụng đến nguồn
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 14
ISDN có thể khác nhau tùy thuộc vào dịch vụ yêu cầu và tình trạng ISDN của từng
quốc gia. Cần thấy rằng ISDN được sử dụng với nhiều cấu hình khác nhau tùy theo
hiện trạng mạng viễn thông của từng quốc gia.
* PSDN (Public Switching Data Network) là mạng chuyển mạch số liệu công cộng.
PSDN chủ yếu cung cấp các dịch vụ số liệu. Mạng PSDN bao gồm các PoP (Point of
Presence) và các thiết bị truy nhập từ xa. Hiện nay PSDN đang phát triển với tốc độ rất
nhanh do sự bùng nổ của dịch vụ Internet và các mạng riêng ảo (Virtual Private
Network).
* Mạng di động GSM (Global System for Mobile Telecom) là mạng cung cấp dịch
vụ thoại tương tự như PSTN nhưng qua đường truy nhập vô tuyến. Mạng này chuyển
mạch dựa trên công nghệ ghép kênh phân thời gian và công nghệ ghép kênh phân tần
số. Các thành phần cơ bản của mạng này là: BSC (Base Station Controller), BTS (Base
Transfer Station), HLR (Home Location Register), VLR ( Visitor Location Register)
và MS ( Mobile Subscriber).
Hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ thu được lợi nhuận phần lớn từ các dịch vụ như
leased line, Frame Relay, ATM, và các dịch vụ kết nối cơ bản. Tuy nhiên xu hướng
giảm lợi nhuận từ các dịch vụ này bắt buộc các nhà khai thác phải tìm dịch vụ mới dựa
trên IP để đảm bảo lợi nhuận lâu dài.
Mạng riêng ảo (VPN) là một hướng đi của các nhà khai thác. Các dịch vụ dựa trên nền
IP cung cấp kết nối giữa một nhóm các user xuyên qua mạng hạ tầng công cộng. VPN
có thể đáp ứng các nhu cầu của khách hàng bằng các kết nối dạng any-to-any, các lớp
đa dịch vụ, các dịch vụ giá thành quản lý thấp, riêng tư, tích hợp xuyên suốt cùng với
các mạng Intranet/Extranet. Một nhóm các user trong Intranet và Extranet có thể hoạt
dịch vụ một cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự hội tụ giữa thoại và số liệu,
giữa cố định và di động.
Như vậy, có thể xem mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại PSTN, chủ
yếu dựa trên kỹ thuật TDM (Time Division Multiplexing), với mạng chuyển mạch gói,
dựa trên kỹ thuật IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN
đồng thời cũng có thể nhập một lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm
nhẹ gánh nặng của PSTN [6].
Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là sự
hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động. Vấn đề
chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ quá trình hội tụ này.
Một vấn đề quan trọng khác là sự bùng nổ nhu cầu của người sử dụng cho một khối
lượng lớn dịch vụ và ứng dụng phức tạp bao gồm cả đa phương tiện, phần lớn trong đó
là không được trù liệu khi xây dựng các hệ thống mạng hiện nay.
1.2.2. Đặc điểm của NGN
Mạng NGN có bốn đặc điểm chính [6]:
1. Nền tảng là hệ thống mạng mở.
2. Mạng NGN là do dịch vụ thúc đẩy, nhưng dịch vụ phải thực hiện độc lập với
mạng lưới.
3. Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên một giao thức thống nhất.
4. Là mạng cho phép tăng dung lượng để đáp ứng nhu cầu.
Trước hết, do áp dụng cơ cấu mở mà :
Các khối chức năng của tổng đài truyền thống chia thành các phần tử mạng độc
lập, các phần tử được phân theo chức năng tương ứng, và phát triển một cách
độc lập.
Giao diện và giao thức giữa các bộ phận phải dựa trên các tiêu chuẩn tương
ứng.
Việc phân tách làm cho mạng viễn thông vốn có dần dần đi theo hướng mới, nhà kinh
doanh có thể căn cứ vào nhu cầu dịch vụ để tự tổ hợp các phần tử khi tổ chức mạng
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 16
1.2.3. Các ưu điểm của NGN
Yếu tố hàng đầu là tốc độ phát triển theo hàm số mũ của nhu cầu truyền dẫn dữ liệu và
các dịch vụ dữ liệu là kết quả của tăng trưởng Internet mạnh mẽ. Các hệ thống mạng
công cộng hiện nay chủ yếu được xây dựng nhằm truyền dẫn lưu lượng thoại, truyền
dữ liệu thông tin và video đã được vận chuyển trên các mạng chồng lấn, tách rời được
triển khai để đáp ứng những yêu cầu của chúng. Do vậy, một sự chuyển đổi sang hệ
thống mạng chuyển mạch gói tập trung là không thể tránh khỏi khi mà dữ liệu thay thế
vị trí của thoại và trở thành nguồn tạo ra lợi nhuận chính. Cùng với sự bùng nổ Internet
trên toàn cầu, rất nhiều khả năng mạng thế hệ mới sẽ dựa trên giao thức IP. Tuy nhiên,
thoại vẫn là một dịch vụ quan trọng và do đó, những thay đổi này dẫn tới yêu cầu
truyền thoại chất lượng cao qua IP.
Những lý do chính dẫn tới sự xuất hiện của mạng thế hệ mới:
* Cải thiện chi phí đầu tư
Công nghệ căn bản liên quan đến chuyển mạch kênh truyền thống được cải tiến chậm
trễ và chậm triển khai kết hợp với nền công nghiệp máy tính. Các chuyển mạch kênh
này hiện đang chiếm phần lớn trong cơ sở hạ tầng PSTN. Tuy nhiên chúng chưa thật
sự tối ưu cho mạng truyền số liệu. Kết quả là ngày càng có nhiều dòng lưu lượng số
liệu trên mạng PSTN đến mạng Internet và sẽ xuất hiện một giải pháp với định hướng
số liệu làm trọng tâm để thiết kế mạng chuyển mạch tương lai, nền tảng dựa trên công
nghệ chuyển mạch gói cho cả thoại và dữ liệu.
Các giao diện mở tại từng lớp mạng cho phép nhà khai thác lựa chọn nhà cung cấp có
hiệu quả nhất cho từng lớp mạng của họ. Truyền tải dựa trên gói cho phép phân bổ
băng tần linh hoạt, loại bỏ nhu cầu nhóm trung kế kích thước cố định cho thoại, nhờ đó
giúp các nhà khai thác quản lý mạng dễ dàng hơn, nâng cấp một cách hiệu quả phần
mềm trong các nút điều khiển mạng, giảm chi phí khai thác hệ thống.
* Xu thế đổi mới viễn thông
Khác với khía cạnh kỹ thuật, quá trình giải thể đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách
thức hoạt động của các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới. Xuyên suốt quá trình
được gọi là “mạch vòng nội hạt không trọn gói”, các luật lệ của chính phủ trên toàn thế
giới đã ép buộc các nhà khai thác lớn phải mở cửa để các công ty mới tham gia thị
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 19
Công nghệ truyền dẫn quang SDH cho phép tạo trên đường truyền dẫn tốc độc
cao (n* 155 Mb/s) với khả năng bảo vệ của các mạch vòng đã được sử dụng
rộng rãi ở nhiều nước và ở Việt Nam.
WDM cho phép sử dụng độ rộng băng tần rất lớn của sợi quang bằng cách kết
hợp một số tín hiệu ghép kênh theo thời gian với độ dài các bước sóng khác
nhau và ta có thể sử dụng được các cửa sổ không gian, thời gian và độ dài bước
sóng. Công nghệ WDM cho phép nâng tốc độ truyền dẫn lên 5Gb/s, 10Gb/s và
20Gb/s.
Vô tuyến:
Vi ba: Công nghệ truyền dẫn SDH cũng phát triển trong lĩnh vực vi ba, tuy
nhiên do những hạn chế của môi trường truyền dẫn sóng vô tuyến nên tốc độ và
chất lượng truyền dẫn không cao so với công nghệ truyền dẫn quang.
Vệ tinh có 2 loại: Vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO – Low Earth Orbit) và Vệ tinh
quỹ đạo trung bình (MEO – Medium Earth Orbit). Thị trường thông tin vệ tinh
trong khu vực đã có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây và sẽ còn tiếp
tục trong những năm tới. Các loại hình dịch vụ vệ tinh đã rất phát triển như:
DTH tương tác, truy nhập Internet, các dịch vụ băng rộng, HDTV,… Ngoài các
ứng dụng phố biến đối với nhu cầu thông tin quảng bá, viễn thông nông thôn,
với sự kết hợp sử dụng các ưu điểm của công nghệ CDMA, thông tin vệ tin
ngày càng có xu hướng phát triển đặc biệt trong lĩnh vực thông tin di động,
thông tin cá nhân,…
1.3.2. Công nghệ mạng truy nhập
Trong xu hướng phát triển NGN sẽ duy trì nhiều loại hình mạng truy nhập vào một
môi truyền dẫn chung như [6]:
Mạng truy nhập quang
Mạng truy nhập vô tuyến
Các phương thức truy nhập cáp đồng: HDSL, ADSL, …
chi phí hoạt động,…
Mạng thế hệ mới NGN là bước kế tiếp của thế giới viễn thông, có thể được hiểu là
mạng dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, nơi mà các chuyển mạch và các phần tử
truyền thông (như các bộ định tuyến, các bộ chuyển mạch và gateway) được phân biệt
một cách luận lý và vật lý theo khả năng điều khiển thông minh dịch vụ hoặc cuộc gọi.
Khả năng điều khiển thông minh này thường hỗ trợ cho tất cả các loại dịch vụ trên
mạng truyền thông, từ dịch vụ thoại cơ bản (Basic Voice Telephony Services) cho đến
các dịch vụ dữ liệu, hình ảnh, đa phương tiện, băng rộng tiên tiến (Advanced
Broadband), và các ứng dụng quản lý (Management Application).
Hình 7. Mạng đa dịch vụ
Như đã đề cập ở các phần trước, NGN là sự tập trung của ba loại mạng chính: mạng
thoại PSTN, mạng di động và mạng chuyển mạch gói (mạng Internet). Cấu trúc này
phân phối toàn bộ các phương thức truy nhập, hầu hết các công nghệ và ứng dụng mới.
Từ đó tạo ra nhiều dịch vụ mới.
Có ba loại dịch vụ chủ yếu trong NGN: dịch vụ thời gian thực và thời gian không thực,
dịch vụ nội dung, dịch vụ quản lý. Các dịch vụ này giúp cho các nhà khai thác có sự
điều khiển, bảo mật và độ tin cậy tốt hơn đồng thời giảm chi phí vận hành. Nhờ đó,
các nhà cung cấp dịch vụ có thể nhanh chóng có nguồn thu mới.
Xây dựng trên các thành phần mở và được module hóa, trên các giao thức chuẩn và
các giao diện mở, NGN đã trở thành một phương tiện thực hiện mục đích là cho phép
kết nối giữa con người và máy móc ở bất cứ khoảng cách nào. Nói cách khác, NGN có
khả năng cung cấp các yêu cầu đặc biệt của tất cả khách hàng công ty, văn phòng ở xa,
văn phòng nhỏ, nhà riêng,… Nó hợp nhất thoại hữu tuyến và vô tuyến, dữ liệu,
video,… bằng cách sử dụng chung một lớp truyền tải gói. Các lớp dịch vụ của NGN
linh hoạt, chi phí hiệu quả và có khả năng mở rộng hơn đối với các dịch vụ trước đây.
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 22
1.4.2. Một số dịch vụ điển hình
Hầu hết các dịch vụ truyền thống là các dịch vụ dựa trên cơ sở truy nhập/ truyền dẫn/
gia tăng như băng thông theo yêu cầu, tính tin cậy và phục hồi nhanh kết nối, các kết
nối chuyển mạch ảo (SVC- Switched Virtual Connection), và quản lý dải tần, điều
khiển cuộc gọi,… Tóm lại các dịch vụ dữ liệu có khả năng thiết lập kết nối theo băng
thông và chất lượng dịch vụ QoS theo yêu cầu.
1.4.2.3. Dịch vụ đa phương tiện (Multimedia Service)
Cho phép nhiều người tham gia tương tác với nhau qua thoại, video, dữ liệu. Các dịch
vụ này cho phép khách hàng vừa nói chuyện, vừa hiển thị thông tin. Ngoài ra, các máy
tính còn có thể cộng tác với nhau.
1.4.2.4. Dịch vụ sử dụng mạng riêng ảo (VPN)
Thoại qua mạng riêng ảo cải thiện khả năng mạng, cho phép các tổ chức phân tán về
mặt địa lý, mở rộng hơn và có thể phối hợp các mạng riêng đang tồn tại với các phần
tử của mạng PSTN. Dữ liệu VPN cung cấp thêm khả năng bảo mật và các thuộc tính
khác mạng của mạng cho phép khách hàng chia sẻ mạng Internet như một mạng riêng
ảo, hay nói cách khác, sử dụng địa chỉ IP chia sẻ như một VPN.
1.4.2.5. Tính toán mạng công cộng (PNC- Public Network Computing)
Cung cấp các dịch vụ tính toán dựa trên cơ sở mạng công cộng cho thương mại và các
khách hàng. Ví dụ nhà cung cấp mạng công cộng có thể cung cấp khả năng lưu trữ và
xử lý riêng ( chẳng hạn như làm chủ một trang web, lưu trữ/ bảo vệ/ dự phòng các file
số liệu hay chạy một ứng dụng tính toán). Như một sự lựa chọn, các nhà cung cấp dịch
vụ mạng công cộng có thể chung cấp các dịch vụ thương mại cụ thể (như hoạch định
tài nguyên công ty (ERP Enterprise Resource Planning), dự báo thời gian, hóa đơn
chứng thực,…) với tất cả hoặc một phần các lưu trữ và xử lý xảy ra trên mạng. Nhà
cung cấp dịch vụ có thể tính cước theo giờ, ngày, tuần,… hay theo phí bản quyền đối
với dịch vụ.
1.4.2.6. Bản tin hợp nhất (Unified Messaging)
Hỗ trợ cung cấp các dịch vụ voice mail, email, fax mail, pages qua các giao diện
chung. Thông qua các giao diện này, người sử dụng sẽ truy nhập (cũng như được
thông báo) tất cả các loại tin nhắn trên, không phụ thuộc vào hình thức truy nhập (hữu
tuyến hay vô tuyến, máy tính, thiết bị dữ liệu vô tuyến). Đặc biệt kỹ thuật chuyển đổi
lời nói sang file văn bản và ngược lại được thực hiện ở server ứng dụng cần phải được
Ngoài các dịch vụ đã nêu trên còn có rất nhiều dịch vụ khác có thể triển khai trong môi
trường NGN như: các dịch vụ ứng dụng trong y học, chính phủ điện tử, nghiên cứu
nào tạo từ xa, nhắn tin đa phương tiện,… Như vậy các dịch vụ thế hệ sau là rất đa dạng
và phong phú, việc xây dựng, phát triển và triển khai chúng là mở và linh hoạt. Chính
vì vậy nó thuận tiện cho các nhà cung cấp dịch vụ và ứng dụng triển khai dịch vụ đến
cho khách hàng trong môi trường NGN.
1.5. Kết chƣơng
Trong phần trên ta đã được tìm hiểu sơ qua về mạng viễn thông Việt Nam cũng như
khái niệm về mạng viễn thông thế hệ sau (NGN) và hoạt động của nó. Các vấn đề đã
đề cập bao gồm:
Ưu, nhược điểm của NGN
Các công nghệ phát triển NGN
Tổng quan về mạng thế hệ mới (NGN) 25
Các dịch vụ ứng dụng với NGN
Việc chuyển đổi từ mạng viễn thông hiện tại lên mạng NGN là điều tất yếu của xu
hướng phát triển. Việc xây dựng tùy thuộc vào tình hình mạng cụ thể và quan điểm
của nhà khai thác.
Sự tiến bộ trong công nghệ, sức cạnh tranh mạnh mẽ và một môi trường phát triển
thông thoáng sẽ tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế truyền thông thoại, dữ liệu và dịch
vụ video. Một cách tương ứng, các nhà cung cấp dịch vụ cũng đang thay đổi mô hình
kinh doanh của mình một cách mạnh mẽ, không chỉ hạ giá thành sản phẩm dịch vụ mà
còn tạo ra những dòng doanh thu khác biệt, mới mẻ. Công nghệ NGN đã giúp nhà
cung cấp dịch vụ, các nhà cung cấp truyền hình cáp, các nhà cung cấp dịch vụ di
động,… hội tụ kiến trúc hạ tầng mạng, gia tăng thêm vào tính thông minh để có thể
cung cấp các dịch vụ cao cấp.