ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Công nghệ
o0o HOÀNG HẢI XANH
VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN
CỤM DỮ LIỆU TRONG DATA
MINING VỀ CÁC KỸ THUẬT PHÂN CỤM
DỮ LIỆU TRONG DATA MINING
Ngành : Công nghệ Thông tin
Mã số : 1.01.10
Luận văn Thạc sỹ
Người hướng dẫn khoa học : TS. Hoàng Xuân Huấn Hà Nội - 2005
8
1.3.2. Mạng số đa dịch vụ tích hợp tốc độ cơ bản
10
1.3.2.1. Nguồn gốc của ISDN tốc độ cơ bản
10
1.3.2.2. Khả năng và ứng dụng của ISDN tốc độ cơ bản
11
1.3.2.3. Truyền dẫn ISDN tốc độ cơ bản
11
1.3.2.4. ISDN tốc độ cơ bản mở rộng tầm phục vụ
12
1.3.2.5. DAML, chuyển đổi kênh B / kênh thoại tƣơng tự
13
1.3.2.6. IDSL
14
1.3.3. Đường dây thuê bao số tốc độ cao
14
1.3.3.1. Nguồn gốc của HDSL
14
1.3.3.2. Khả năng và ứng dụng của HDSL
16
1.3.3.3. Truyền dẫn HDSL
18
1.3.3.4. HDSL thế hệ thứ hai (SHDSL)
20
1.3.4. Đường dây thuê bao số bất đối xứng
22
1.3.4.1. Mô hình tham chiếu và định nghĩa của ADSL
22
1.3.4.2. Nguồn gốc của ADSL
35
2.1.2 Mô hình TCP/IP
40
2.1.3 ATM và mô hình tham chiếu OSI
45
2.2 Các cấu trúc ADSL
47
2.2.1 Giới thiệu một số cấu trúc mạng ADSL
47
2.2.2 Cấu trúc khai thác quy mô nhỏ
48
2.2.3 Mạng truy nhập ATM
51
2.2.4 RFC 1483
54
2.2.5 PPP qua ATM
56
2.2.6 Cấu trúc cổng tunnel
57
2.2.7 Tập hợp kêt cuối PPP
58
2.3 Cấu hình hệ thống ADSL trên thực tế 59
82
2.5.1. Tổng quan về mạng riêng ảo
82
2.5.2. Phân loại mạng riêng ảo
83
2.5.3. Dịch vụ mạng riêng ảo nội hạt (VPN local)
84
2.5.4. Dịch vụ mạng riêng ảo truy cập Internet
85
2.5.5. VPN MPLS
86 Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
5 CHƢƠNG 3: CÁC THUẬT TOÁN CẤP PHÁT BIT
91
3.1. Tham số hệ thống truyền dẫn
91
106
3.2.5. Tráo đổi bit
108
3.3 Kết quả thu đƣợc trên thực tế 110
KẾT LUẬN
130
TÀI LIỆU THAM KHẢO
132
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
7
Chương 3: Trình bày về các thuật toán cấp phát bit cho các kênh
truyền con của hệ thống truyền thông đa kênh. Áp dụng thuật toán
của Chow vào thực tế. So sánh kết quả tính toán trên lý thuyết với
kết quả thực hiện được trên hệ thống thực tế.
Kết luận: Tóm tắt kết quả đạt được của luận văn và đề xuất hướng
nghiên cứu trong thời gian tới.
Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã được sự hỗ trợ, khuyến
khích và động viên của rất nhiều người, đó là gia đình tôi, các thầy cô, bạn học
và đồng nghiệp. Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy
PGS. TS. Nguyễn Viết Kính, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản
luận văn này. Thầy cũng là người có nhiều ý kiến chân thành và quý báu trong
quá trình tiếp cận và giải quyết vấn đề. Gia đình tôi, bố mẹ và các anh chị, đã
luôn khuyến khích, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt
khóa học và luận văn này.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô tại Khoa Công Nghệ -
ĐHQG Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi kiến thức trong suốt bốn năm
học Đại học và hai năm học Cao học. Và tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các
bạn học và đồng nghiệp, đã khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều
để tôi có thể hoàn thành tốt công việc. Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
truyền dẫn song công tốc độ 1200 b/s, sử dụng điều chế PSK. Vào năm 1981,
modem V.22 bis cho phép truyền song công tốc độ 2400 b/s. V.32 giới thiệu
mã lưới và thực hiện một bước tiến táo bạo về truyền dẫn thông tin có triệt
tiếng vọng trong cả hai hướng, sử dụng trong cùng dải tần số. Các modem thế
hệ trước V.32 sử dụng hai băng tần khác nhau cho hướng xuống và hướng lên
(thực hiện phân kênh theo tần số - FDM). V.32 cho phép truyền dẫn song công
tốc độ 9600 b/s. Chuẩn V.34 tiếp theo, nhờ sử dụng các kỹ thuật tối ưu băng
thông, sắp xếp chòm sao và tiền mã hóa phụ thuộc kênh truyền, cho phép
truyền song công tốc độ lên tới 28,8 Kb/s. Vào năm 1995, các modem tốc độ
33,6 Kb/s đã xuất hiện trên thị trường. Các modem V.34 tận dụng được băng
thông tới 3,6 KHz, nhiều hơn băng tần sử dụng trong điện thoại truyền thống
(băng thông 3,4 KHz) một ít. Tuy nhiên, modem V.34 có thể dùng ít băng
thông hơn nhờ giảm tốc độ truyền dữ liệu xuống. Bằng việc truyền tốc độ 33,6
Kb/s trên băng thông 3,6 KHz, các modem V.34 đạt hiệu suất phổ gần 10 b/s
đối với mỗi Hz, một kỳ công hiếm có, tiệm cận tới giới hạn lý thuyết của
truyền dẫn dữ liệu băng tần thoại. Vào cuối năm 1996, các modem PCM tốc
độ 56 Kb/s xuất hiện, những modem này được chuẩn hóa trong khuyến nghị
ITU V.90 vào năm 1998. Các modem PCM (sử dụng điều chế mã xung) là bất
đối xứng khi hỗ trợ tốc độ lên tới 56 Kb/s cho hướng xuống (truyền tin về phía
khách hàng) và tốc độ lên tới 33,6 Kb/s cho hướng lên (truyền tin từ khách
hàng). Trong thực tế, hiếm khi các modem PCM đạt được tốc độ truyền dẫn
trên 50 Kb/s do giới hạn về công suất truyền, các chuyển đổi trung gian và suy
hao đường gây ra do các cuộn tải.
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
10
Kiến trúc mạng modem PCM dựa trên cơ sở mạng PSTN của các thế hệ
Ưu điểm nổi bật của các modem chính là sự phổ biến khắp nơi của
chúng. Một modem có thể nối tới bất cứ đường điện thoại nào và ngay lập tức
gọi được cho bất cứ modem nào khác trong hàng triệu modem đang được gắn
với đường điện thoại trên thế giới. Các modem có giá thấp hơn và dễ dàng cài
đặt hơn so với các thiết bị DSL. Tuy nhiên, nhu cầu về tốc độ truyền dữ liệu
của các ứng dụng đã vượt quá khả năng đáp ứng được của các modem băng
tần thoại. Một hạn chế khác của các modem là các cuộc gọi sẽ bị chặn khi tổng
đài nội hạt quá tải, không có khả năng kết nối tới nhiều điểm đồng thời và tỷ lệ
lỗi bit cao. Những hạn chế này đã được khắc phục trong DSL.
1.2. Công nghệ truyền dẫn đường dây thuê bao số
Thuật ngữ DSL đề cập tới tất cả các kiểu công nghệ đường dây thuê bao
số, bao gồm ADSL, HDSL, SHDSL, ISDN tốc độ cơ bản, VDSL và IDSL.
Thuật ngữ xDSL cũng được sử dụng trong ngành công nghệ khi đề cập tới các
kiểu DSL.
Công nghệ DSL đã đưa vào một sự thay đổi mới mẻ vào lợi ích của các
đường dây điện thoại. Đối với đường dây điện thoại, ban đầu được xây dựng
chỉ để mang một tín hiệu thoại đơn với một kênh băng thông 3,4 KHz nhưng
giờ đây chúng có thể truyền gần 100 tín hiệu thoại đã nén, hoặc tín hiệu video
có chất lượng tương đương như truyền hình. Việc truyền dẫn tín hiệu số tốc độ
cao trên đường dây điện thoại đòi hỏi khả năng xử lý tín hiệu rất cao để giảm
thiểu được mất mát khi truyền dẫn gây ra như: do suy hao tín hiệu, nhiễu
xuyên âm từ tín hiệu hiện có trên dây khác trong cùng một cáp, phản xạ tín
hiệu, can nhiễu tần số vô tuyến và nhiễu xung.
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
12
tiềm tàng của DSL có thể vượt các modem gấp hàng trăm lần. Tuy nhiên, các
modem vẫn có một ưu điểm quan trọng là các thiết bị này có thể vận hành trên
bất cứ một kết nối điện thoại nào tới bất cứ đâu trên thế giới. Ngoài ra, DSL
cũng vay mượn rất nhiều các công nghệ truyền dẫn đã được ứng dụng cho
modem băng tần thoại.
1.3. Các loại đường dây thuê bao số
Khi năng lực xử lý của các bộ xử lý tín hiệu số được cải thiện thì tốc độ
bit của DSL cũng tăng theo. Công nghệ DSL ban đầu chỉ đạt được có tốc độ
144 Kb/s của ISDN tốc độ cơ bản, sau đó tăng lên 1,5 Mb/s và 2 Mb/s của
phiên bản HDSL/SHDSL, rồi đến 8 Mb/s của ADSL và bây giờ là 52 Mb/s đối
với VDSL [15,4,17] .
1.3.1. Các thế hệ trƣớc của đƣờng dây thuê bao số
Có thể coi các đường trung kế T1, E1 và DDS là các DSL đầu tiên. Mặc
dù, các hệ thống truyền dẫn dùng T1 (có tốc độ 1,544Mb/s, dùng mã AMI, chỉ
được sử dụng ở Bắc Mỹ) và E1 (có tốc độ 2,048 Mb/s, dùng mã HDB3) ban
đầu được dùng làm đường trung kế giữa các tổng đài trung tâm, nhưng sau đó
chúng đã cho thấy ích lợi khi dùng làm các đường kết nối tốc độ cao từ tổng
đài trung tâm đến các vị trí của khách hàng. T1 được AT&T sử dụng lần đầu
tiên vào năm 1962. Ngày nay, các đường trung kế kết nối
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
14
giữa các tổng đài trung tâm hoàn toàn dựa trên cáp quang và viba. Các đường
T1/E1 hiện nay không còn được sử dụng đúng như chức năng ban đầu của
1.3.2.1. Nguồn gốc của ISDN tốc độ cơ bản
Chúng ta xem ISDN tốc độ cơ bản là thành viên đầu tiên trong gia đình
DSL [15] . ISDN đã được hình thành bắt đầu từ năm 1976 và đã được định
hình rõ ràng trong các Khuyến nghị của tổ chức CCITT (nay được gọi là ITU).
Tham vọng của những người phát triển là mong đợi ISDN sẽ trở thành một
mạng đồng nhất trên toàn thế giới phục vụ cho cả truyền thông dữ liệu và điện
thoại. Sự phát triển trong truyền dẫn ISDN bao gồm chuyển mạch, báo hiệu và
hệ thống vận hành. Nỗ lực để phát triển ISDN đã trải qua hàng thập kỷ với sự
đóng góp công sức của hàng nghìn người đến từ hàng trăm công ty khác nhau
tại hơn 20 quốc gia trên toàn thế giới. ISDN đã tập trung vào phục vụ các dịch
vụ thoại và dịch vụ dữ liệu dùng chuyển mạch gói tốc độ thấp. Và chính sự tập
trung vào các dịch vụ này lại là điểm yếu chính của ISDN. Các mạng ISDN
khó phù hợp cho dịch vụ chuyển mạch gói tốc độ cao và các phiên hoạt động
có thời gian dài, đặc tính khi truy nhập internet. Tuy nhiên, cũng có hàng triệu
khách hàng hài lòng về ISDN.
Dịch vụ ISDN được thử nghiệm đầu tiên vào năm 1985. Dịch vụ ISDN
đầu tiên được cung cấp tại Bắc Mỹ là của AT&T – Illinois Bell (bây giờ được
gọi là Ameritech) tại Oakbrock, bang Illinois vào năm 1986. Các hệ thống thử
nghiệm đầu tiên sử dụng giao diện tốc độ cơ bản (BRI) ứng dụng công nghệ
truyền dẫn TCM (ping-pong) hoặc dùng mã đảo dấu luân phiên. Mặc dù, các
hệ thống này rất đơn giản khi thực hiện, nhưng truyền dẫn 2B1Q đã được chọn
là chuẩn công nghệ truyền dẫn cho gần như toàn bộ thế giới. Chỉ có Liên bang
Đức và Áo là sử dụng truyền dẫn 4B3T và Nhật Bản
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
16
1.3.2.4. ISDN tốc độ cơ bản mở rộng tầm phục vụ
Các mạch vòng có thể đạt khoảng cách tới 5,5 km từ tổng đài trung tâm,
nhờ sử dụng các phương pháp thay thế: BRITE, bộ lặp trung gian và BRI mở
rộng.
BRITE
Mở rộng truyền dẫn ISDN tốc độ cơ bản (BRITE) sử dụng nhiều nhánh
kênh số và các bộ DLC là phương tiện để mở rộng ISDN đến các khu vực
được phục vụ bằng những nhánh kênh số trên. Các đơn vị kênh ISDN đặc biệt
sử dụng ba đường DS0 trong nhánh kênh để truyền BRI. Do các đơn vị kênh
bổ sung thêm đã làm cho cấu hình BRITE có giá thành đường kênh tương đối
cao. Tuy nhiên, khi sử dụng thiết bị SLC hoặc nhánh kênh có sẵn, thì giá thành
để triển khai hệ thống thấp của BRITE là lý tưởng để phục vụ cho một số
lượng đường truyền rất nhỏ tại một vùng xa tổng đài.
Bộ lặp trung gian
Kích thước của mạch vòng có thể tăng gần gấp đôi khi đặt một bộ lặp vào
giữa vòng. Khi bộ lặp là kết hợp của NT và LT, mạch vòng được chia thành
cặp DSL nối tiếp nhau. Từng vòng có thể chịu suy hao tới 40 dB tại tần số 40
KHz, tương ứng với khoảng cách tổng cộng của cả hai vòng lên xấp xỉ 9 km
(2 x 4,5km). Khi bộ phát lặp không nằm chính xác tại điểm giữa của vòng thì
kích thước của vòng có bộ lặp đạt được có thể hơi nhỏ hơn hai lần kích thước
của vòng không có bộ lặp. Các cuộn tải phải được loại bỏ khỏi vòng để BRI
hoạt động, có thể có hoặc không có các bộ lặp. Nguyên nhân là khi có cuộn tải
trên mạch vòng, dải tần số nằm bên trên băng tần thoại chịu suy hao rất lớn,
gây ảnh hưởng mạnh đến vùng băng tần cao của ISDN cũng như các DSL
khác.
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
19
sang giao diện kênh thoại tương tự. Vì thế, giao diện kênh thoại truyền thống
được cung cấp cho tổng đài trung tâm và điện thoại của khách hàng. Các hệ
thống DAML được sử dụng để cung cấp dịch vụ điện thoại bổ sung tới các vị
trí nằm trong vùng có một vài cặp dây dự phòng giữa tổng đài trung tâm và
các khách hàng. Khối DAML ở phía khách hàng thường được cấp nguồn từ bộ
cấp nguồn của tổng đài thông qua mạch vòng. Các hệ thống DAML sử dụng
công nghệ BRI có kích thước vòng tối đa là 5,5 Km. Các hệ thống DAML dựa
trên HDSL có thể truyền nhiều hơn hai kênh thoại trên chỉ một cặp dây.
1.3.2.6. IDSL
Một ứng dụng không phải ISDN khác của bộ truyền nhận BRI là IDSL
(ISDN DSL). Các kênh đối xứng BRI (kênh tốc độ 128 Kb/s hoặc 144 Kb/s)
được ghép lại thành một kênh để truyền dữ liệu gói giữa bộ định tuyến và máy
tính của khách hàng. Phần lớn các dạng của IDSL đều làm việc được với NT
ISDN thông thường ở phía khách hàng. Vì thế, với IDSL, tổng đài nội hạt
ISDN được thay thế bằng bộ định tuyến dữ liệu gói. Cấu hình này được sử
dụng để truy nhập internet.
1.3.3. Đƣờng dây thuê bao số tốc độ cao
1.3.3.1. Nguồn gốc của HDSL
Khái niệm ban đầu về định nghĩa của HDSL xuất hiện vào cuối năm
1986 tại phòng thí nghiệm Bell của AT&T và Bellcore [15,4,17]. Các thiết kế
của bộ truyền nhận HDSL đã mở rộng về quy mô của các thiết kế ISDN tốc độ
cơ bản. Các hệ thống HDSL được tạo trong phòng thí nghiệm đã xuất hiện vào
phần lớn các đường thuê bao. Vì thế, HDSL xuất hiện.
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
21
Lợi ích của HDSL là rất lớn nhờ loại bỏ các bộ lặp trung gian. Mỗi vị trí
đặt bộ lặp phải tùy biến theo yêu cầu khách hàng để đảm bảo mỗi cung đường
vẫn duy trì trong giới hạn suy hao của tín hiệu. Các tín hiệu được lặp có thể
gây ra xuyên âm mạnh, vì thế điều quan tâm đặc biệt trong thiết kế là tránh
xuyên âm quá mức sang các hệ thống truyền dẫn khác. Các bộ lặp được cấp
nguồn qua đường dây, điều này đòi hỏi một đường dây đặc biệt dùng cho cấp
nguồn từ tổng đài trung tâm. Phần lớn công suất cung cấp từ bộ cấp nguồn của
tổng đài trung tâm bị mất mát do trở kháng mạch vòng và sự không hiệu quả
của việc cấp nguồn.
HDSL cũng ưu tiên sử dụng hơn các đường T1 truyền thống bởi vì HDSL
cung cấp các đặc trưng chuẩn đoán (bao gồm việc đo SNR). HDSL tạo ra
xuyên âm nhỏ hơn sang các hệ thống truyền dẫn khác bởi vì các tín hiệu mang
của HDSL dùng băng thông hẹp hơn khi so với sóng mang T1 truyền thống.
1.3.2.2. Khả năng và ứng dụng của HDSL
HDSL cung cấp truyền dẫn hai chiều tốc độ 1,544 Mb/s và 2,048 Mb/s
qua đường dây điện thoại với chiều dài lên tới 3,7 Km sử dụng cặp cáp xoắn
đường kính 0,5 mm mà không cần bộ lặp trung gian. Khoảng cách có thể tăng
gần gấp đôi nếu có sử dụng một bộ lặp trung gian. Có hơn 95% các đường
HDSL không sử dụng bộ lặp. HDSL không đòi hỏi phải có điều hòa đường
dây hay phân tách nhóm cáp. HDSL cung cấp truyền dẫn tin cậy trên tất cả các
đường trong vùng phục vụ với một tỷ lệ lỗi bit điển hình từ 10
-9
người dùng tới mạng là ứng dụng chủ đạo của HDSL. HDSL là phương tiện
phổ dụng để kết nối các tổng đài mạng dùng riêng (PBX) và thiết bị dữ liệu
gói/ATM với mạng công cộng. Các đường liên kết HDSL được dùng để liên
kết các trạm vô tuyến vào mạng mặt đất. HDSL cũng được sử dụng để kết nối
các trạm DLC nhỏ tới tổng đài trung tâm. Trong những năm đầu, giá thành cao
của các thiết bị HDSL đã giới hạn việc sử dụng tại các nơi không có một vị trí
kinh tế để đặt hộp thiết bị lặp. Đến cuối năm 1994, giá thành của các thiết bị
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
23
HDSL đã giảm xuống mức mà HDSL trở nên kinh tế hơn so với các thiết bị
truyền dẫn T1/E1 truyền thống khi xây dựng một hệ thống mới. Các thiết bị
T1/E1 truyền thống vẫn sử dụng cho các đường rất ngắn (ngắn hơn 900 m) và
không đòi hỏi bộ lặp. Với các khoảng cách rất lớn (hơn 9 km), đòi hỏi nhiều
hơn hai bộ lặp của HDSL.
Chi phí bảo trì hàng năm của các đường HDSL cũng thấp hơn so với các
đường T1/E1 do các đường HDSL đòi hỏi ít bộ lặp hơn, mạnh mẽ trong truyền
dẫn cao cấp, khả năng chuẩn đoán được cải tiến. Tuy nhiên, các đường E1/T1
đang tồn tại ít được thay thế bằng các đường HDSL mới do giá thành để lắp
đặt đường mới cao.
Mặc dù, HDSL thường được các công ty điện thoại sử dụng trong mạng
nội hạt, vẫn có một số đường HDSL được dùng trong các mạng riêng để kết
nối tốc độ cao giữa các tòa nhà trong các khu trường sở.
1.3.3.3. Truyền dẫn HDSL
Phần lớn các hệ thống HDSL trên thế giới sử dụng truyền dẫn 2B1Q,
dụng truyền dẫn song công đơn.
Truyền dẫn đơn công kép sử dụng hai cặp dây nối, trong đó, một cặp
mang tải tin toàn bộ cho một hướng và cặp thứ hai mang toàn bộ tải tin cho
hướng ngược lại. Điều này cung cấp một cách thức đơn giản để tách các tín
hiệu vào hai hướng truyền khác nhau. Sóng mang đường T1 truyền thống sử
dụng truyền dẫn đơn công kép. Truyền dẫn đơn công kép gặp bất lợi khi
truyền tín hiệu có băng tần rộng, bị suy hao lớn và xuyên âm ở các tần số cao
hơn. Do xuyên âm, tín hiệu gửi trên hai cặp cáp không hoàn toàn tách biệt. Vì
thế, bộ truyền nhận đơn công kép có thể đơn giản hơn nhưng hiệu suất đạt
được kém hơn so với truyền dẫn song công kép.
Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI
Lâm Quang Trung Cao Học K8Đ 2001-2003
25
Truyền dẫn song công kép cải tiến kích thước vòng tối đa và tính tương
thích phổ bằng cách chỉ gửi một nửa của toàn bộ thông tin trên mỗi cặp cáp.
Hơn nữa, HDSL giảm băng thông của tín hiệu truyền nhờ sử dụng truyền dẫn
ECH để gửi theo hai hướng truyền trên cùng một dải tần số. Công suất tín hiệu
truyền trong hệ thống HDSL song công kép tăng ít đối với các tần số cao hơn
196 KHz. Kết quả là xuyên âm tín hiệu và suy hao giảm. Một lợi ích
khác của truyền dẫn song công kép là khi sử dụng một cặp dây có thể dễ dàng
cung cấp hệ thống truyền dẫn nửa tốc độ.
Hệ thống HDSL tốc độ từng phần - một cặp dây, được sử dụng để truyền
các dịch vụ đường thuê riêng tốc độ từng phần của 768 Kb/s và thấp hơn và
cũng cho các hệ thống vòng nhỏ hỗ trợ 12 kênh thoại hoặc ít hơn. HDSL tốc
độ từng phần gắn vào nhánh kênh D4 cho phép tới 12 đường DS0 của HDSL
truyền thông tin được dồn kênh với thông tin từ các đơn vị kênh khác trong