Đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng tác ngang hàng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NGUYỄN XUÂN LÔ
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG CÁC ỨNG DỤNG
CỘNG TÁC NGANG HÀNG
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG CÁC ỨNG DỤNG
CỘNG TÁC NGANG HÀNG
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và Mạng máy tính
Mã số: 60 48 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SĨ ĐÀM
3.5. Áp dụng mô hình tin cậy NICE đảm bảo công bằng trong ứng dụng chia sẻ file BitTorrent 50
3.6. Chương trình Demo và các kết quả thu được 57
Kết luận và hướng nghiên cứu 68
Tài liệu tham khảo 69

-4-

Chương Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Hiện nay mạng ngang hàng Peer - to - Peer (P2P) cùng với các ứng dụng của
nó đang nổi lên và ngày càng chiếm nhiều thị phần trong đời sống. Các mô hình
ứng dụng chia sẻ file dữ liệu đã được triển khai nhiều ở các công ty, xí nghiệp,
trường học và đã và đang đem lại nhiều lợi ích. Để có thể sử dụng mạng P2P
hiệu quả thì người sử dụng phải cộng tác với nhau. Chia sẻ file và cộng tác trong
các ứng dụng P2P là đặc trưng tiêu biểu của mạng ngang hàng. Tuy nhiên trong
quá trình cộng tác với nhau nảy sinh nhiều vấn đề, ví dụ như cách chia sẻ file,
quyền truy cập lấy tài liệu, thứ tự ưu tiên lấy tài liệu, kiểm tra tính tín cậy trong
cộng tác, ảnh hưởng trong giao dịch đến băng thông và hiệu năng của mạng,
vấn đề bảo mật, đặc biệt là trong môi trường cộng tác nhưng có tính phí. Để có
thể cải thiện được một môi trường cộng tác hiệu quả hơn trong các ứng dụng
P2P, làm cho nó ngày càng phát triển, thì đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu trong và ngoài nước và cũng đạt được nhiều thành tựu. Với những lý do trên
mà tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng
tác ngang hàng”, với mong muốn nghiên cứu về một lĩnh vực nhỏ trong ứng
dụng P2P, và góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả trong ứng dụng cộng tác
ngang hàng.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Phân biệt ứng dụng (người) cộng tác và không cộng tác.
- Tìm được giải thuật định giá và kiểm tra tính tin cậy của ứng dụng cộng


Chương 1: Những vấn đề chung
1.1. Ứng dụng phân tán
Theo tác giả Dinesh C. Verma [2]. Phần này trình bày những khái niệm
cơ bản về ứng dụng phân tán, lĩnh vực liên quan đến cộng tác ngang hàng.
a) Khái niệm ứng dụng phân tán: Bao gồm hai hoặc nhiều module phần
mềm chạy trên các máy tính khác nhau, tương tác với nhau thông qua mạng
truyền thông kết nối giữa các máy tính.
Các vấn đề chủ yếu cần quyết định khi xây dựng ứng dụng phân tán
– Ứng dụng cần bao nhiêu module phần mềm
– Triển khai các module phần mềm trên các máy tính khác nhau như
thế nào
– Bằng cách nào mỗi module phần mềm phát hiện ra các module
khác nó cần giao tiếp
b) Kiến trúc client/server
Kiến trúc client/server là cách tổ chức một ứng dụng phân tán bao gồm
hai modules phần mềm khác nhau:
– Module server với chỉ một thể hiện trong hệ thống.
– Module client với nhiều thể hiện trong hệ thống.
Về mặt giao tiếp trong hệ thống: Chỉ diễn ra giữa module server và các
module client. Đặc trưng của kiến trúc client/server là có một module server làm
điểm trung tâm trong giao tiếp. Các client không giao tiếp trực tiếp với nhau mà
chỉ giao tiếp với module server.
Trong kiến trúc client/server, server thường chứa nhiều phần mềm phức
tạp, trong khi clients thì đơn giản. Với lợi ích của trình duyệt web trong hầu hết
các máy tính, thì đây là kiến trúc hầu như dành để phát triển các ứng dụng phân
tán vì rằng chúng có thể sử dụng một trình duyệt web chuẩn làm client.
Vấn đề phát hiện để giao tiếp: Mỗi client cần phát hiện địa chỉ mạng của
server:
Server chạy trên cổng và địa chỉ IP biết trước với các client

+ Cố định số cổng, cho tất cả các module biết địa chỉ IP và số cổng của
các module khác. Điều này làm được bằng cách: Có thể mã cứng vào chương
-8-

trình, tuy nhiên cũng giống như phương pháp cấu hình địa chỉ IP tĩnh trên mạng
-> cần phối hợp tổng thể tránh đụng độ số cổng.
+ Địa chỉ IP và số cổng của các module khác được cung cấp như các tham
số cấu hình. Phương pháp này có nhược điểm đối với các ứng dụng quy mô lớn
đòi hỏi nhiều công sức cấu hình.
1.2. Ứng dụng cộng tác ngang hàng
Một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng chia sẻ các thành phần tài
nguyên của chúng để cho các thành viên khác trong nhóm cộng tác sử dụng. Nói
một cách khác, một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng phân bổ một tập con tài
nguyên của nó cho việc sử dụng của các máy khác trong ứng dụng.
Tài nguyên phân bổ ở đây là bộ xử lí, băng thông, dữ liệu lưu trữ,…, của
ứng dụng cộng tác.
Khi các ứng dụng cộng tác với nhau, chúng tạo thành các nhóm cộng tác.
Các nhóm cộng tác, trong thực tế, hiện nay có thể kể đến một lớp rộng lớn
các ứng dụng, bao gồm các ứng dụng dòng đa phương tiện trực tuyến, các ứng
dụng hội nghị đa thành phần và các ứng dụng P2P…, và có thể là một hạ tầng cơ
sở cộng tác.
Tuy vậy các hệ thống cộng tác chỉ thi hành tốt nhất nếu tất cả mọi người
sử dụng làm việc, cộng tác và cung cấp chia sẻ tài nguyên của họ tới hệ thống.
Quan điểm của hệ thống cộng tác là không duy nhất trong liên mạng.
Trong thực tế các gói tin vận chuyển trong Internet là sự cộng tác mạo hiểm khi
dùng các tài nguyên chia sẻ ở các bộ định tuyến (router).
Mục đích hướng tới đối với những ứng dụng cộng tác là các ứng dụng đầu
cuối, nơi cung cấp một platform trong việc thực hiện các ứng dụng phân tán
rộng lớn theo kiểu cộng tác. Rõ ràng, một số các tài nguyên phân tán rộng lớn có
thể có được qua Internet trong sự cộng tác. Đây cũng chính là xu hướng của các

phần mềm ứng dụng phù hợp cho máy tính của mình.
+ Có nhiều mạng P2P và phần mềm ứng dụng P2P tồn tại hiện nay. Một
số phần mềm chỉ sử dụng được cho 1 mạng P2P nhất định, một số hoạt động
được với nhiều mạng P2P khác nhau.
+ Một số mạng P2P nổi tiếng trên Internet như: BitTorent, Gnutella,
-10-

1.4.2. Chia sẻ file trong mạng ngang hàng
- Có thể nói ứng dụng được sử dụng nhiều nhất của mạng ngang hàng đó
là chia sẻ file.
- Theo ước tính khoảng 50% (có thời điểm đến 75% ) lưu lượng mạng
trên Internet được cho là để trao đổi các file đặc biệt là các file âm nhạc (hơn 1
tỷ các file âm nhạc được download mỗi tuần).
- Đặc điểm của vấn đề chia sẻ file là các máy (Peer) có các file được
download với vai trò là một Client làm cho chúng luôn sẵn sàng với các Peer
khác trong vai trò của một Server.
- Vấn đề chủ yếu cho mạng ngang hàng nói chung và cho vấn đề chia sẻ
file nó riêng là vấn đề tìm kiếm. Trong ngữ cảnh của hệ thống chia sẻ file, có ba
mô hình khác nhau được phát triển: mô hình flooded request, mô hình thư mục
trung tâm và mô hình hướng tài liệu. Các mô hình này được minh hoạ qua các
ứng dụng thực của mạng ngang hàng sau: Gnutella, Naspter và FreeNet.
Gnutella : Trong hệ thống Gnutella, không có sự tập trung hoá, các file
được lưu trữ trên các Peer của hệ thống, khi có yêu cầu tìm kiếm một file máy
tính sẽ gửi yêu cầu này tới tất cả các peer là láng giềng của nó và quá trình này
được lặp lại cho tới khi tìm thấy máy chứa file cần tìm. Tiếp theo là quá trình
trao đổi file trực tiếp giữa hai máy tính trong mạng. Hiện nay phần mềm nổi
tiếng sử dụng phương pháp tìm kiếm và chia sẻ file dạng này là Bittorent.
Naspter : Trong hệ thống Naspter, có sự tập trung hoá. Khi một máy
tham gia vào mạng, danh mục các file sẽ được đăng ký và lưu trữ trên Server
trung tâm, khi có yêu cầu tìm kiếm, máy tính sẽ hỏi Server trung tâm về vị trí

Việc tìm kiếm trong mạng ngang hàng theo cơ chế lan truyền giữa các
máy gây ra sự chiếm dụng băng thông đường truyền lớn. Trong Gnutella, các
máy vận chuyển truy vấn của các máy khác làm ngập lụt hệ thống. Mỗi thông
báo vận chuyển tiêu thụ băng thông và bộ xử lí ở mỗi nút nó viếng thăm. Cải
thiện vấn đề này chính là khả năng cân bằng tải của mạng.
b) Hệ thống dựa trên giải thuật Chord
Trong Chord, tài liệu được ánh xạ tới nút đặc biệt sử dụng hàm băm. Tuy
vậy mỗi máy phục vụ một tài liệu, tài liệu này trong thực tế được sở hữu bởi một
vài nút khác trong hệ thống. Như vậy các máy trong hệ thống tiêu thụ tài nguyên
của chúng để phục vụ các tài liệu đối với các nút khác trong hệ thống. Tình
trạng này là không duy nhất đối với Chord; tất cả các hệ thống xác định dựa trên
việc băm, bao gồm CAN, Bayeux, Pastry, đều có tính chất này. Điều đó có thể
làm được nhằm xây dựng một hệ thống trong đó các nút chỉ phục vụ một điểm
tới tài liệu và cũng để thực hiện các hệ thống cân bằng tải khác nhau. Như vậy,
-12-

ngay cả trong hệ thống được cân bằng tải tốt nhất, có thể nhất thời xảy ra quá tải
khi một lượng lớn các tài nguyên cục bộ được tiêu thụ do các dịch vụ mở rộng.
c) Một số các giao thức dòng phương tiện dựa trên chuyển mạch
Trong các giao thức này, các nút dành hết tài nguyên (giống như băng
thông) để phục vụ cho các nút con của nó.
Trong mỗi ví dụ trên, bất kì một người sử dụng riêng lẻ có thể chọn không
để dành tài nguyên cục bộ cho các yêu cầu mở rộng, nhưng vẫn nhận được đầy
đủ lợi ích của hệ thống. Trong các trường hợp khác, được tích hợp và chính xác
các hàm của hệ thống tiêu thụ trong mỗi người sử dụng đang thực hiện toàn bộ
giao thức phân tán không ích kỉ và đúng đắn. Như vậy, bằng kinh nghiệm triển
khai các hệ thống, như Gnutella và Napster trước đó, diễn tả rằng chỉ một tập
nhỏ các máy đưa ra như vậy ích kỉ dịch vụ đối với cộng đồng chung, trong khi
phần lớn những người sử dụng sử dụng các dịch vụ được đưa ra bởi một ít hào
phóng này. Mục đích của công việc này là xác định hiệu quả số ít hào phóng và

khi thay đổi đầu vào (input).
h) Tính hiệu quả [13]: Được đặc trưng bởi 2 yếu tố: Thời gian (Tốc độ xử
lý) và không gian (Dung lượng lưu trữ).
• Ví dụ minh họa: Bài toán: tìm phần tử lớn nhất trong 1 dãy hữu hạn các số
nguyên a1, a2, ,an.
• Thuật toán:
– Bước 1:Đặt giá trị cực đại tạm thời max = a1
– Bước 2: So sánh số nguyên tiếp sau với max
• Nếu số nguyên tiếp sau lớn hơn đặt max = số nguyên tiếp
sau
– Bước 3: Lặp lại bước trên nếu còn số nguyên trong dãy
– Bước 4: Dừng khi không còn số nguyên nào.
 Số nguyên = max chính là phần tử lớn nhất
• Chứng minh: thuật toán trên hội đủ các tính chất của thuật toán
– Đầu vào: dãy các số nguyên a1,…. an
– Đầu ra: số lớn nhất trong dãy đó
– Tính xác định và khả thi: thuật toán gồm 1 phép gán, 1 vòng lặp
hữu hạn và phép so sánh  các bước đều được xác định chính xác
và có thể thi hành.
-14-

– Tính hữu hạn: thuật toán luôn luôn kết thúc sau khi tất cả các số
nguyên được kiểm tra
– Tính hiệu quả: thuật toán luôn kết thúc trong 1 khoảng thời gian
hữu hạn.
– Tính phổ dụng: có thể áp dụng thuật toán này tìm số cực đại cho
bất kỳ dãy số nguyên nào
1.5.3. Độ phức tạp của thuật toán
Hiệu quả của thuật toán được phân tích như thế nào?
Khi giải một bài toán, chúng ta cần chọn trong số các thuật toán, một

sao cho với
mọi n>= n
0
thì
-15-

T(n) >= c.g(n)
- Hàm O lớn: T(n) là hàm Omega lớn của g(n), T(n) =O (g(n))
nếu c và n
0
sao cho với mọi n>= n
0
:
T(n) <=c g(n)
g(n) còn gọi là giới hạn trên của T(n).
c) Các tính chất
(i) Tính bắc cầu: nếu f(n)= O(g(n)) và g(n)= O(h(n)) thì f(n)= O(h(n))
(ii) Tính phản xạ: f(n)=O(f(n))
d) Xác định độ phức tạp
- Quy tắc hằng số:
Nếu P có T(n)= O(c
1
f(n)) thì gọi P là có độ phức tạp O(f(n)).
CM: T(n)= O(c
1
f(n)) nên tồn tại c
0
>0 và n
0
>0 để T(n) <= c

2
(n)= O(g(n)), khi đó: T
1
(n) +T
2
(n) =
O(f(n) +g(n)).
CM: Vì T
1
(n)= O(f(n)) nên các hàng số c
1
và n
1
sao cho T(n) <= c
1
.f(n)
n: n>= n
1
.
Vì T
2
(n) =O(g(n)) nên các hàng số c
2
và n
2
sao cho T(n) <= c
1
.g(n) n:
n>= n
2

k
>0 để k(n) <= c
k
(g(n)) với mọi n>= n
k
c
T
>=0 và n
T
>0 để T(n) <= c
T
f(n) với mọi n>= n
T
Vậy với mọi n >= max(n
T
,n
k
) ta có k(n)T(n) <= c
k
c
T
(f(n)g(n)).
e) Áp dụng đánh giá chương trình
- Câu lệnh đơn thực hiện một thao tác => Áp dụng qui tắc hằng số
- Câu lệnh hợp thành là dãy các câu lệnh => Áp dụng qui tắc tổng
- Câu lệnh rẽ nhánh dạng If Then Else. => Áp dụng qui tắc Max
- Các câu lệnh lặp => Áp dụng qui tắc Nhân
Các thuật ngữ dùng cho độ phức tạp của thuật toán
Độ phức tạp
Thuật ngữ
-18-

Chương 2: Suy luận tin cậy trong mạng ngang hàng
2.1. Khái niệm tin cậy và quản lí tin cậy
a) Khái niệm tin cậy [1]: Tin cậy là mức đặc thù của sự khẳng định chủ
quan theo nghĩa một agent sẽ thực hiện một hành động đặc thù trước khi bị giám
sát và trước khi gây ảnh hưởng trong phạm vi của hành động.
Có ba vấn đề trong định nghĩa tin cậy trên, đó là:
Tin cậy là chủ quan
Tin cậy là ảnh hưởng của những hành động mà không thể giám sát
Mức độ tin cậy phụ thuộc vào các hành động chính nó gây ảnh
hưởng như thế nào.
b) Quản lí tin cậy [4]: Là cơ cấu cho phép thiết lập tin cậy lẫn nhau. Nổi
tiếng là phép đo giúp nhận biết được (bằng trực tiếp hay gián tiếp) các tương tác
sớm của các agent và được sử dụng để định giá mức độ tin cậy của một agent so
với một agent khác.
Tồn tại nhiều phương pháp quản lí tin cậy, tập trung vào các đặc trưng về
mặt ngữ nghĩa của mô hình tin cậy. Các phương pháp này chưa tương xứng với
độ tin cậy của chúng trong cơ sở dữ liệu tập trung hoặc đòi hỏi tới sự duy trì
trong nhận biết tổng thể một agent để cung cấp dữ liệu trong các tương tác sớm.
Cũng có những phương pháp quản lí tin cậy dựa trên cả hai phương diện: quản lí
dữ liệu và mức ngữ nghĩa.
2.2. Mô hình tin cậy
Trong phần này sẽ trình bày tin cậy được định nghĩa như thế nào trong mô
hình tin cậy do Alfarez Abdul-Rahman & Stephen Hailes [1] đề xuất thông qua
mô tả các phần tử của nó.
2.2.1. Agents
Các agent là những thực thể có khả năng thực thi giao thức đề cử

nhau mà một agent có thể có với các agent khác.
-20-

Theo nghĩa tự nhiên thì không có một hệ thống giá trị vũ trụ vì nó sử dụng
ứng dụng riêng biệt. Tuy vậy việc chuẩn hóa là quan trọng để một hệ thống
được đề xuất.
Các giá trị tin cậy trong mô hình này là tương phản với mỗi loại và độc
lập với các giá trị tin cậy của loại khác.
Có hai kiểu giá trị tin cậy được sử dụng:
a) Giá trị tin cậy trực tiếp: thích hợp với quan hệ tin cậy trực tiếp.
b) Giá trị tin cậy đề cử : thích hợp với các quan hệ tin cậy đề cử.
Sau đây là mô tả cho từng trường hợp cụ thể:
Giá trị
Ý nghĩa
-1
Không tin cậy
0
Bỏ qua, không thể tạo được quan hệ tin cậy về agent
1
Giá trị tin cậy cực tiểu (thấp nhất)
2
Giá trị tin cậy trung bình. Hầu hết các thực thể có giá trị tin cậy này
3
Giá trị tin cậy tốt
4
Hoàn toàn tin cậy thực thể này Giá trị
Ý nghĩa

Phân tích vấn đề suy luận tin cậy theo các giải pháp phân tán trong 2
phần:
+ Một là thành phần suy luận tin cậy cục bộ mà yêu cầu thông tin tin cậy
giữa những thành phần đứng đầu trong hệ thống như đầu vào (input)
+ Hai là thành phần tìm kiếm phân tán mà có khả năng tập hợp thông tin
tin cậy riêng lẻ này để sử dụng như đầu vào đối với các giải thuật suy luận cục
bộ.
Các hệ thống tồn tại như vậy, ví dụ e-bay, có hệ thống định giá người sử
dụng tập trung. Các hệ thống trao đổi tài nguyên khác, như MojoNation cũng
thực hiện các giải pháp suy luận tin cậy tập trung. Mục đích đặt ra của các hệ
thống là cho phép các ứng dụng mở nơi người sử dụng không đăng kí với một
ủy quyền trở thành một thành phần của hệ thống. Các giải pháp tập trung không
phân chia trong các hệ thống mở, từ đó những người sử dụng nguy hiểm có thể
vượt qua dịch vụ “tin cậy” ở trung tâm với các giao dịch giả mạo. Sử dụng
nhiều nhất hệ thống suy luận tin cậy được phân quyền có lẽ là trang Web PGP.
Trong hệ thống suy luận tin cậy được phân quyền có thể sử dụng để dự đoán
qua các mức tin cậy tùy ý. Không có thành phần thứ 3 tin cậy hoặc nơi tập trung
thông tin tin cậy trong hệ thống. Những người sử dụng trong hệ thống chỉ dự
-22-

trữ thông tin rõ ràng có thể sử dụng đối với lợi ích sở hữu của họ. Một giải thuật
phân chia công bằng với lượng dự trữ được giới hạn ở mỗi nút, và có thể sử
dụng để thực hiện hiệu quả các ứng dụng phân tán rộng lớn. Hơn nữa các giải
pháp trong hệ thống tin cậy cho phép những người sử dụng đơn lẻ tính toán các
giá trị tin tưởng cục bộ đối với những người sử dụng khác sử dụng giải thuật suy
luận lựa chọn của chính họ, và vì vậy có thể sử dụng để thực hiện một loạt chính
sách khác.
2.4. Mô hình suy luận
Trong bài viết này, giả sử rằng các hệ thống P2P có thể được phân tích
bên trong tập các giao dịch 2 thành phần: Một giao dịch đơn có thể có quan hệ

phân loại tất cả những người sử dụng thành các lớp cộng tác hoặc không cộng
tác mà không có lỗi. Tuy vậy, điều này không có khả năng trong thực tế vì
những người không cộng tác có thể khởi động bên ngoài những người cộng tác.
Một số hệ thống, chẳng hạn NICE [8], đã đưa ra được các giải thuật với
các mục đích sau:
Cho phép các nút “tốt” tìm các nút khác nhanh hiệu
quả: Các nút tốt sẽ có khả năng xác định các nút tốt khác ngoài sự
mất mát một lượng lớn các tài nguyên tác động qua lại với các nút
nguy hiểm. Điều này cho phép NICE nhanh chóng hình thành các
nhóm cộng tác thiết thực.
Các nút nguy hiểm và tương tự sẽ không có khả năng
bẻ gãy các nhóm cộng tác bằng cách đưa các thông tin thiếu tới các
nút tốt. Đặc biệt, NICE phát triển các giao thức trong đó các nút
nguy hiểm nhanh chóng bị tỉa bớt ra ngoài các nhóm cộng tác. Xa
hơn, NICE giả thiết các nút nguy hiểm có thể khuếch tán tùy ý
thông tin tin cậy, và tập các nút tốt cùng dạng sẽ nhanh chóng
chống lại các cuộc tấn công dạng này.
2.5. Mô hình hệ thống tin cậy NICE:
NICE là viết tắt của “NICE is the Internet Cooperative Environment”
(NICE là môi trường cộng tác trên Internet).
Mục đích của NICE là cung cấp phạm vi các giải thuật tính toán tin cậy
phân tán. NICE là một platform đối với việc thực hiện các ứng dụng phân tán
cộng tác. Các ứng dụng trong NICE mở rộng truy cập tới các tài nguyên ở xa
bằng việc trao đổi các tài nguyên cục bộ. Các giao dịch trong NICE bao gồm các
trao đổi an toàn các chứng thực tài nguyên. Các chứng thực này có thể được giữ
lại với các tài nguyên được đặt tên (ở xa). Những người không cộng tác có thể
mở rộng truy cập “tự do” tới các tài nguyên ở xa bằng cách phát hành các chứng
thực mà các chứng thực này rốt cuộc không được giữ lại.
-24-


Trong NICE, các hành động ứng dụng ở xa được chuyển thành các yêu
cầu tài nguyên cục bộ, và nếu tiện lợi, các tài nguyên cục bộ này được đổi chác
với các tài nguyên khác ở các nút ở xa (Nó cũng được tham gia để mua bán các
tài nguyên thành phần thứ 3 mà lẽ ra chỉ là đổi chác các tài nguyên cục bộ). Hy
vọng không phải mọi yêu cầu ở xa chuyển qua NICE; thay vào đó, những người
sử dụng trao đổi và mua bán các đơn vị tài nguyên (giống như 100Mb lưu trữ
trong 10 ngày, vv). Các tài nguyên đã được xác định sử dụng một phiên bản đơn
giản của W3 RDF. NICE cung cấp các dịch vụ sau đây:
Xác định và quảng cáo tài nguyên
Bảo đảm việc trao đổi và mua bán tài nguyên
Định giá “tin cậy” phân tán.
Các máy trong NICE đổi chác tài nguyên bằng việc trao đổi các thông báo
“giao dịch”. Một thông báo giao dịch định danh tập các tài nguyên chủ yếu tự
nguyện để trao đổi. Sự tích hợp của thông báo giao dịch để đảm bảo sử dụng
chữ kí băm đồng hành theo thông báo.
Trong NICE sử dụng sơ đồ dựa trên Beaconing để mở rộng việc thông
báo và xác định các tài nguyên có hiệu lực. NICE sử dụng một giải thuật trao
đổi mới dựa trên các giao thức vận chuyển để trao đổi các chứng thực tài
nguyên. Giao thức này đảm bảo rằng không bộ phận nào có thể thu được một
chứng thực có thể dùng được ngoài những chứng thực có hiệu lực được phát
hành. Các chứng thực tài nguyên này cuối cùng được giữ ở các nút phát hành.
Các nút tốt luôn luôn giữ bất kì chứng thực mà chúng phát ra, trong khi các nút
nguy hiểm có thể chọn không làm như vậy. Trong phạm vi của NICE, mục đích
đặc biệt của bài viết này là phát triển các giải thuật để định danh các nút mà
phát ra (hoặc giữ) các chứng thực tốt. NICE mô tả thành phần suy luận tin cậy,
các kết quả của hệ thống này được sử dụng để định giá các tài nguyên trong
NICE như thế nào.
Chính sách định giá và mua bán :
Mục đích của các chính sách mặc định trong NICE là giới hạn các tài
nguyên mà có thể bị tiêu thụ bởi các nhóm người nguy hiểm. Các chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status