đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng tác ngang hàng - Pdf 10

-1-

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGH
NGUYỄN XUÂN LÔ
ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG TRONG CÁC ỨNG DỤNG
CỘNG TÁC NGANG HÀNG
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và Mạng máy tính
Mã số: 60 48 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ SĨ ĐÀM
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Công nghệ Thông tin
trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội; các Thầy, Cô giáo trong và
ngoài trường Đại học Công nghệ đã giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em học tập,
nghiên cứu để có tri thức bậc Sau đại học.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - Phó Giáo sư Tiến sĩ
Hồ Sĩ Đàm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tất cả các bạn học viên cao học K14 ngành
Công nghệ thông tin trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ
tôi trong thời gian học tập và làm luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ năng lực còn hạn chế, nên luận
văn không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý, quan tâm của các Thầy,
Cô cùng toàn thể các bạn và những ai quan tâm tới luận văn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Người làm luận văn
Nguyễn Xuân Lô

-4-

MỤC LỤC
Trang
Chương Mở đầu 5
Lý do chọn đề tài 5

Lý do chọn đề tài
Hiện nay mạng ngang hàng Peer - to - Peer (P2P) cùng với các ứng dụng của
nó đang nổi lên và ngày càng chiếm nhiều thị phần trong đời sống. Các mô hình
ứng dụng chia sẻ file dữ liệu đã được triển khai nhiều ở các công ty, xí nghiệp,
trường học và đã và đang đem lại nhiều lợi ích. Để có thể sử dụng mạng P2P
hiệu quả thì người sử dụng phải cộng tác với nhau. Chia sẻ file và cộng tác trong
các ứng dụng P2P là đặc trưng tiêu biểu của mạng ngang hàng. Tuy nhiên trong
quá trình cộng tác với nhau nảy sinh nhiều vấn đề, ví dụ như cách chia sẻ file,
quyền truy cập lấy tài liệu, thứ tự ưu tiên lấy tài liệu, kiểm tra tính tín cậy trong
cộng tác, ảnh hưởng trong giao dịch đến băng thông và hiệu năng của mạng,
vấn đề bảo mật, đặc biệt là trong môi trường cộng tác nhưng có tính phí. Để có
thể cải thiện được một môi trường cộng tác hiệu quả hơn trong các ứng dụng
P2P, làm cho nó ngày càng phát triển, thì đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu trong và ngoài nước và cũng đạt được nhiều thành tựu. Với những lý do trên
mà tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đảm bảo công bằng trong các ứng dụng cộng
tác ngang hàng”, với mong muốn nghiên cứu về một lĩnh vực nhỏ trong ứng
dụng P2P, và góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả trong ứng dụng cộng tác
ngang hàng.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Phân biệt ứng dụng (người) cộng tác và không cộng tác.
- Tìm được giải thuật định giá và kiểm tra tính tin cậy của ứng dụng cộng
tác.
- Áp dụng kết quả nghiên cứu vào các ứng dụng cộng tác trong mạng P2P.
Nội dung nghiên cứu
- Ứng dụng cộng tác trong mạng P2P
- Suy luận tin cậy trong mạng P2P, mô hình độ tin cậy ngang hàng của
NICE.
- Đảm bảo công bằng cho các ứng dụng cộng tác trong mạng P2P.
-6-

Các vấn đề chủ yếu cần quyết định khi xây dựng ứng dụng phân tán
– Ứng dụng cần bao nhiêu module phần mềm
– Triển khai các module phần mềm trên các máy tính khác nhau như
thế nào
– Bằng cách nào mỗi module phần mềm phát hiện ra các module
khác nó cần giao tiếp
b) Kiến trúc client/server
Kiến trúc client/server là cách tổ chức một ứng dụng phân tán bao gồm
hai modules phần mềm khác nhau:
– Module server với chỉ một thể hiện trong hệ thống.
– Module client với nhiều thể hiện trong hệ thống.
Về mặt giao tiếp trong hệ thống: Chỉ diễn ra giữa module server và các
module client. Đặc trưng của kiến trúc client/server là có một module server làm
điểm trung tâm trong giao tiếp. Các client không giao tiếp trực tiếp với nhau mà
chỉ giao tiếp với module server.
Trong kiến trúc client/server, server thường chứa nhiều phần mềm phức
tạp, trong khi clients thì đơn giản. Với lợi ích của trình duyệt web trong hầu hết
các máy tính, thì đây là kiến trúc hầu như dành để phát triển các ứng dụng phân
tán vì rằng chúng có thể sử dụng một trình duyệt web chuẩn làm client.
Vấn đề phát hiện để giao tiếp: Mỗi client cần phát hiện địa chỉ mạng của
server:
 Server chạy trên cổng và địa chỉ IP biết trước với các client
 Client kết nối với server theo địa chỉ mạng đã biết
-8-

 Server không cần biết trước bất kỳ thông tin nào về các client
Trên Internet, client chỉ cần biết địa chỉ IP của server vì số hiệu cổng của
client đã được chuẩn hóa.
• Ưu điểm
– Đơn giản hóa công việc bảo trì và nâng cấp

đòi hỏi nhiều công sức cấu hình.
1.2. Ứng dụng cộng tác ngang hàng
Một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng chia sẻ các thành phần tài
nguyên của chúng để cho các thành viên khác trong nhóm cộng tác sử dụng. Nói
một cách khác, một ứng dụng cộng tác là một ứng dụng phân bổ một tập con tài
nguyên của nó cho việc sử dụng của các máy khác trong ứng dụng.
Tài nguyên phân bổ ở đây là bộ xử lí, băng thông, dữ liệu lưu trữ,…, của
ứng dụng cộng tác.
Khi các ứng dụng cộng tác với nhau, chúng tạo thành các nhóm cộng tác.
Các nhóm cộng tác, trong thực tế, hiện nay có thể kể đến một lớp rộng lớn
các ứng dụng, bao gồm các ứng dụng dòng đa phương tiện trực tuyến, các ứng
dụng hội nghị đa thành phần và các ứng dụng P2P…, và có thể là một hạ tầng cơ
sở cộng tác.
Tuy vậy các hệ thống cộng tác chỉ thi hành tốt nhất nếu tất cả mọi người
sử dụng làm việc, cộng tác và cung cấp chia sẻ tài nguyên của họ tới hệ thống.
Quan điểm của hệ thống cộng tác là không duy nhất trong liên mạng.
Trong thực tế các gói tin vận chuyển trong Internet là sự cộng tác mạo hiểm khi
dùng các tài nguyên chia sẻ ở các bộ định tuyến (router).
Mục đích hướng tới đối với những ứng dụng cộng tác là các ứng dụng đầu
cuối, nơi cung cấp một platform trong việc thực hiện các ứng dụng phân tán
rộng lớn theo kiểu cộng tác. Rõ ràng, một số các tài nguyên phân tán rộng lớn có
thể có được qua Internet trong sự cộng tác. Đây cũng chính là xu hướng của các
ứng dụng cộng tác ngang hàng Peer-to-Peer (P2P), và những thế hệ tiếp theo của
các ứng dụng P2P dựa trên các khái niệm của sự chia sẻ tài nguyên phân tán
cộng tác.
-10- 1.3. Mạng ngang hàng Peer – to - Peer (P2P)
Định nghĩa: Theo tài liệu của Ralf Steinmetz [7] trang 21 thì Oram et al

- Có thể nói ứng dụng được sử dụng nhiều nhất của mạng ngang hàng đó
là chia sẻ file.
- Theo ước tính khoảng 50% (có thời điểm đến 75% ) lưu lượng mạng
trên Internet được cho là để trao đổi các file đặc biệt là các file âm nhạc (hơn 1
tỷ các file âm nhạc được download mỗi tuần).
- Đặc điểm của vấn đề chia sẻ file là các máy (Peer) có các file được
download với vai trò là một Client làm cho chúng luôn sẵn sàng với các Peer
khác trong vai trò của một Server.
- Vấn đề chủ yếu cho mạng ngang hàng nói chung và cho vấn đề chia sẻ
file nó riêng là vấn đề tìm kiếm. Trong ngữ cảnh của hệ thống chia sẻ file, có ba
mô hình khác nhau được phát triển: mô hình flooded request, mô hình thư mục
trung tâm và mô hình hướng tài liệu. Các mô hình này được minh hoạ qua các
ứng dụng thực của mạng ngang hàng sau: Gnutella, Naspter và FreeNet.
Gnutella : Trong hệ thống Gnutella, không có sự tập trung hoá, các file
được lưu trữ trên các Peer của hệ thống, khi có yêu cầu tìm kiếm một file máy
tính sẽ gửi yêu cầu này tới tất cả các peer là láng giềng của nó và quá trình này
được lặp lại cho tới khi tìm thấy máy chứa file cần tìm. Tiếp theo là quá trình
trao đổi file trực tiếp giữa hai máy tính trong mạng. Hiện nay phần mềm nổi
tiếng sử dụng phương pháp tìm kiếm và chia sẻ file dạng này là Bittorent.
Naspter : Trong hệ thống Naspter, có sự tập trung hoá. Khi một máy
tham gia vào mạng, danh mục các file sẽ được đăng ký và lưu trữ trên Server
trung tâm, khi có yêu cầu tìm kiếm, máy tính sẽ hỏi Server trung tâm về vị trí
của file. Sau đó việc trao đổi file được thực hiện giữa hai máy tính với nhau.
FreeNet: Trong hệ thống Freenet, file không được lưu trữ trên đĩa cứng
của các peer cung cấp chúng mà được lưu trữ ở các vị trí khác trong mạng. Mục
đích của việc phát triển mạng Freenet là làm cho thông tin được lưu trữ và truy
cập mà không cần biết định danh. Với các tổ chức như vậy, chủ sở hữu của một
node mạng cũng không biết được tài liệu gì được lưu trữ trên đĩa cứng của máy
anh ta. Vì lý do này mà các Peer và các file được cung cấp các số định danh
khác nhau. Khi một file được tạo, nó được truyền qua các peer láng giềng tới các

vài nút khác trong hệ thống. Như vậy các máy trong hệ thống tiêu thụ tài nguyên
của chúng để phục vụ các tài liệu đối với các nút khác trong hệ thống. Tình
trạng này là không duy nhất đối với Chord; tất cả các hệ thống xác định dựa trên
việc băm, bao gồm CAN, Bayeux, Pastry, đều có tính chất này. Điều đó có thể
làm được nhằm xây dựng một hệ thống trong đó các nút chỉ phục vụ một điểm
tới tài liệu và cũng để thực hiện các hệ thống cân bằng tải khác nhau. Như vậy,
-13-

ngay cả trong hệ thống được cân bằng tải tốt nhất, có thể nhất thời xảy ra quá tải
khi một lượng lớn các tài nguyên cục bộ được tiêu thụ do các dịch vụ mở rộng.
c) Một số các giao thức dòng phương tiện dựa trên chuyển mạch
Trong các giao thức này, các nút dành hết tài nguyên (giống như băng
thông) để phục vụ cho các nút con của nó.
Trong mỗi ví dụ trên, bất kì một người sử dụng riêng lẻ có thể chọn không
để dành tài nguyên cục bộ cho các yêu cầu mở rộng, nhưng vẫn nhận được đầy
đủ lợi ích của hệ thống. Trong các trường hợp khác, được tích hợp và chính xác
các hàm của hệ thống tiêu thụ trong mỗi người sử dụng đang thực hiện toàn bộ
giao thức phân tán không ích kỉ và đúng đắn. Như vậy, bằng kinh nghiệm triển
khai các hệ thống, như Gnutella và Napster trước đó, diễn tả rằng chỉ một tập
nhỏ các máy đưa ra như vậy ích kỉ dịch vụ đối với cộng đồng chung, trong khi
phần lớn những người sử dụng sử dụng các dịch vụ được đưa ra bởi một ít hào
phóng này. Mục đích của công việc này là xác định hiệu quả số ít hào phóng và
dạng tất cả những người sử dụng mà đưa ra các dịch vụ cục bộ đối với cộng
đồng chung.
1.5. Thuật toán và độ phức tạp thuật toán
1.5.1. Thuật toán [14]
Thuật toán (algorithm) là một trong những khái niệm quan trọng nhất
trong tin học, là một trong hai thành tố cấu tạo nên chương trình máy tính (cấu
trúc dữ liệu + giải thuật = chương trình).
Theo PGS.TS Hồ Sĩ Đàm [13] định nghĩa thì thuật toán là một dãy hữu

• Nếu số nguyên tiếp sau lớn hơn đặt max = số nguyên tiếp
sau
– Bước 3: Lặp lại bước trên nếu còn số nguyên trong dãy
– Bước 4: Dừng khi không còn số nguyên nào.
 Số nguyên = max chính là phần tử lớn nhất
• Chứng minh: thuật toán trên hội đủ các tính chất của thuật toán
– Đầu vào: dãy các số nguyên a1,…. an
– Đầu ra: số lớn nhất trong dãy đó
– Tính xác định và khả thi: thuật toán gồm 1 phép gán, 1 vòng lặp
hữu hạn và phép so sánh  các bước đều được xác định chính xác
và có thể thi hành.
-15-

– Tính hữu hạn: thuật toán luôn luôn kết thúc sau khi tất cả các số
nguyên được kiểm tra
– Tính hiệu quả: thuật toán luôn kết thúc trong 1 khoảng thời gian
hữu hạn.
– Tính phổ dụng: có thể áp dụng thuật toán này tìm số cực đại cho
bất kỳ dãy số nguyên nào
1.5.3. Độ phức tạp của thuật toán
Hiệu quả của thuật toán được phân tích như thế nào?
Khi giải một bài toán, chúng ta cần chọn trong số các thuật toán, một
thuật toán mà chúng ta cho là “tốt” nhất.
Các thước đo tính hiệu quả của 1 thuật toán:
– Thời gian mà máy tính sử dụng để giải bài toán theo thuật toán
đang xét khi các giá trị đầu vào có kích thước xác định
 Độ phức tạp thời gian
– Dung lượng bộ nhớ để thực hiện thuật toán khi các giá trị đầu vào
có kích thước xác định
 Độ phức tạp không gian

T(n) >= c.g(n)
- Hàm O lớn: T(n) là hàm Omega lớn của g(n), T(n) =O (g(n))
nếu  c và n
0
sao cho với mọi n>= n
0
:
T(n) <=c g(n)
g(n) còn gọi là giới hạn trên của T(n).
c) Các tính chất
(i) Tính bắc cầu: nếu f(n)= O(g(n)) và g(n)= O(h(n)) thì f(n)= O(h(n))
(ii) Tính phản xạ: f(n)=O(f(n))
d) Xác định độ phức tạp
- Quy tắc hằng số:
Nếu P có T(n)= O(c
1
f(n)) thì gọi P là có độ phức tạp O(f(n)).
CM: T(n)= O(c
1
f(n)) nên tồn tại c
0
>0 và n
0
>0 để T(n) <= c
0
.c
1
f(n) với mọi
n>= n
0

O(f(n) +g(n)).
CM: Vì T
1
(n)= O(f(n)) nên  các hàng số c
1
và n
1
sao cho T(n) <= c
1
.f(n)
n: n>= n
1
.
Vì T
2
(n) =O(g(n)) nên  các hàng số c
2
và n
2
sao cho T(n) <= c
1
.g(n) n:
n>= n
2
Chọn c= max (c
1
,c
2
) và n
0

T
>=0 và n
T
>0 để T(n) <= c
T
f(n) với mọi n>= n
T
Vậy với mọi n >= max(n
T
,n
k
) ta có k(n)T(n) <= c
k
c
T
(f(n)g(n)).
e) Áp dụng đánh giá chương trình
- Câu lệnh đơn thực hiện một thao tác => Áp dụng qui tắc hằng số
- Câu lệnh hợp thành là dãy các câu lệnh => Áp dụng qui tắc tổng
- Câu lệnh rẽ nhánh dạng If Then Else. => Áp dụng qui tắc Max
- Các câu lệnh lặp => Áp dụng qui tắc Nhân
Các thuật ngữ dùng cho độ phức tạp của thuật toán
Độ phức tạp Thuật ngữ
O(1) Độ phức tạp hằng số
O(logn) Độ phức tạp logarit
O(n) Độ phức tạp tuyến tính
O(nlogn) Độ phức tạp nlogn
O(n
b
) Độ phức tạp đa thức

b) Quản lí tin cậy [4]: Là cơ cấu cho phép thiết lập tin cậy lẫn nhau. Nổi
tiếng là phép đo giúp nhận biết được (bằng trực tiếp hay gián tiếp) các tương tác
sớm của các agent và được sử dụng để định giá mức độ tin cậy của một agent so
với một agent khác.
Tồn tại nhiều phương pháp quản lí tin cậy, tập trung vào các đặc trưng về
mặt ngữ nghĩa của mô hình tin cậy. Các phương pháp này chưa tương xứng với
độ tin cậy của chúng trong cơ sở dữ liệu tập trung hoặc đòi hỏi tới sự duy trì
trong nhận biết tổng thể một agent để cung cấp dữ liệu trong các tương tác sớm.
Cũng có những phương pháp quản lí tin cậy dựa trên cả hai phương diện: quản lí
dữ liệu và mức ngữ nghĩa.
2.2. Mô hình tin cậy
Trong phần này sẽ trình bày tin cậy được định nghĩa như thế nào trong mô
hình tin cậy do Alfarez Abdul-Rahman & Stephen Hailes [1] đề xuất thông qua
mô tả các phần tử của nó.
2.2.1. Agents
Các agent là những thực thể có khả năng thực thi giao thức đề cử
(Recommendation Protocol). Đây là điểm khác biệt giữa các agent với các thực
thể tĩnh (như máy in hay ổ đĩa chẳng hạn). Mọi thực thể đều có thể được đề cử,
nhưng chỉ có các agent là có thể gửi và nhận các đề cử.
2.2.2. Các quan hệ tin cậy
-20-

Một quan hệ tin cậy tồn tại giữa Alice và Bob khi Alice nắm giữ niềm tin
về những điều tin cậy của Bob. Tuy vậy, niềm tin theo hướng ngược lại không
cần thiết ở cùng thời điểm. Trong trường hợp khác, quan hệ tin cậy của Alice chỉ
là một hướng.
Các đặc tính của quan hệ tin cậy là:
- Nó luôn xảy ra giữa hai thực thể
- Nó không đối xứng (chỉ là một hướng)
- Nó là điều kiện chuyển tiếp (bắc cầu)

Ý nghĩa
-1 Không tin cậy
0 Bỏ qua, không thể tạo được quan hệ tin cậy về agent
1 Giá trị tin cậy cực tiểu (thấp nhất)
2 Giá trị tin cậy trung bình. Hầu hết các thực thể có giá trị tin cậy này
3 Giá trị tin cậy tốt
4 Hoàn toàn tin cậy thực thể này Giá trị

Ý nghĩa
-1 Không tin cậy
0 Bỏ qua, không thể tạo được quan hệ tin cậy về agent
1
2
3
4
Tính chính xác của quyết định của đề cử cho sở hữu tính chất tin
cậy Ngữ nghĩa giá trị tin cậy trực tiếp
Ngữ nghĩa giá trị tin cậy đề cử
-22-

2.2.5. Danh tiếng và đề cử
Danh tiếng của một agent là chuỗi ba thành phần: định danh (hoặc tên)
của agent, loại tin cậy và giá trị tin cậy của agent.
Reputation = {Name, Trust-Category, Trust-Value}

trữ thông tin rõ ràng có thể sử dụng đối với lợi ích sở hữu của họ. Một giải thuật
phân chia công bằng với lượng dự trữ được giới hạn ở mỗi nút, và có thể sử
dụng để thực hiện hiệu quả các ứng dụng phân tán rộng lớn. Hơn nữa các giải
pháp trong hệ thống tin cậy cho phép những người sử dụng đơn lẻ tính toán các
giá trị tin tưởng cục bộ đối với những người sử dụng khác sử dụng giải thuật suy
luận lựa chọn của chính họ, và vì vậy có thể sử dụng để thực hiện một loạt chính
sách khác.
2.4. Mô hình suy luận
Trong bài viết này, giả sử rằng các hệ thống P2P có thể được phân tích
bên trong tập các giao dịch 2 thành phần: Một giao dịch đơn có thể có quan hệ
hoạt động nhẹ giống như vận chuyển một truy vấn Gnutella hoặc tiềm tàng một
họat động tài nguyên nặng hơn giống như thuê máy chủ tài liệu Chord. Đồng
thời cũng giả sử rằng hệ thống gồm có một tập các nút “tốt” mà luôn luôn thực
hiện dưới các giao thức chính xác và trọn vẹn, nghĩa là những người tốt luôn thi
hành cuối của một giao dịch của họ. Mục đích công việc ở đây là phát triển các
giải thuật cho phép những người sử dụng “tốt” định danh được những người
“tốt” khác, và như vậy tạo được các nhóm cộng tác thiết thực (robust). Đây là
các nhóm máy, với xác suất cao, mỗi thành phần tham gia hoàn thành đầy đủ
cuối mỗi giao dịch của họ. Một đề cử về họ các giải thuật phân tán có thể được
sử dụng bởi người sử dụng để tính toán giá trị tin cậy đối với mỗi người sử
dụng. Giá trị tin cậy đối với nút B ở nút A là độ đo giống như nút A tin tưởng
giao dịch với nút B sẽ thành công. Trong hệ thống, mỗi người sử dụng lưu trữ
một số giới hạn các thông tin về bao nhiêu người sử dụng khác tin cậy họ, và
giải thuật chọn những thông tin gì để lưu trữ và làm thế nào để tìm lại được
những thông tin này. Một trong những thông tin thích hợp được tập hợp, những
người sử dụng đơn lẻ có thể sử dụng các giải thuật suy luận cục bộ khác để tính
toán các giá trị tin cậy.
Điều quan trọng cần lưu ý là thừa nhận các nút tốt có khả năng xác định
được khi một giao dịch thành công. Rõ ràng trong nhiều trường hợp không rõ
được có hay chăng một giao dịch thất bại (ví dụ khi một nút thỉnh thoảng không

Mục đích của NICE là cung cấp phạm vi các giải thuật tính toán tin cậy
phân tán. NICE là một platform đối với việc thực hiện các ứng dụng phân tán
cộng tác. Các ứng dụng trong NICE mở rộng truy cập tới các tài nguyên ở xa
bằng việc trao đổi các tài nguyên cục bộ. Các giao dịch trong NICE bao gồm các
trao đổi an toàn các chứng thực tài nguyên. Các chứng thực này có thể được giữ
lại với các tài nguyên được đặt tên (ở xa). Những người không cộng tác có thể
mở rộng truy cập “tự do” tới các tài nguyên ở xa bằng cách phát hành các chứng
thực mà các chứng thực này rốt cuộc không được giữ lại.
-25- NICE cung cấp một dịch vụ API tới các ứng dụng đầu cuối và được phân
tầng giữa các giao thức tầng ứng dụng và tầng vận chuyển. Kiến trúc thành phần
của NICE được giới thiệu ở hình trên. Các ứng dụng tương tác qua lại với NICE
sử dụng NICE API, và phát ra lời gọi để tìm các tài nguyên thích ứng. Tất cả các
giao thức đổi chác, mua bán, bồi thường được thực hiện bên trong NICE và
không bộc lộ tới ứng dụng. Các giao thức con này chia sẻ thông tin bên trong
chính nó và được điều khiển bởi người sử dụng sử dụng các chính sách theo nút
(per-node). Các máy NICE được sắp xếp bên trong giao thức báo hiệu
(signaling) sử dụng giao thức đa phát tầng ứng dụng. Tất cả các thông báo đặc
trưng giao thức NICE khi gửi sử dụng đơn phát trực tiếp hoặc đa phát qua giao
thức báo hiệu này.
Định danh người sử dụng NICE: sau đây sử dụng thuật ngữ nhóm người
sử dụng (user) và nút (node) theo dạng tổng quát. Trong NICE, mỗi người sử
dụng chọn một định danh kiểu PGP (See www.pgpi.org). Định danh chứa một
bản mã chuỗi nhận dạng và một khóa công cộng. Khóa kết hợp với định danh
NICE được sử dụng trong việc kí các chứng thực tài nguyên, trong trao đổi tài
nguyên và trong việc gán các giá trị tin cậy.
Điều đó là quan trọng để lưu ý rằng không khóa với cả không định danh
NICE cần thiết để được đăng kí ở một trung tâm ủy quyền bất kì; tuy vậy, cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status