ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Nguyễn Quang Hưng
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ MỞ RỘNG
MẠNG ĐẾN THÔNG LƯỢNG TỔNG CỘNG
CỦA MẠNG ADHOC BẰNG MÔ PHỎNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và mạng máy tính
Mã số: 60 48 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.NGUYỄN ĐÌNH VIỆT
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
4.2.1 Xây dựng một mạng Ad hoc với các thông số cơ bản của node: 27
4.2.2 Xây dựng các hàm có chức năng mô phỏng mạng Ad hoc 27
4.3. Xây dựng kịch bản di chuyển và thiết lập nguồn sinh lƣu lƣợng 28
4.4. Kết quả mô phỏng 29
4.5. Nhận xét 30
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN 31
5.1. Kết luận 31
5.2. Hƣớng phát triển 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Mô hình mạng Ad hoc 2
Hình 2: Một số ứng dụng của mạng phân phối những điểm thu nhận thông tin 5
Hình 3: Cấu trúc của NS - 2 17
Hình 4: Luồng các sự kiện cho file Tcl chạy trong NS-2 18
Hình 5: Lược đồ của một mobilenode dưới chuẩn wireless của Monarch của CMU mở rộng
ra NS. 21
Hình 6: Quá trình chạy mô phỏng 29
Hình 7: Đồ thị thông lượng tổng cộng của mạng theo thời gian 29
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AODV
Adhoc On-demand Distance
Vector
MANET
Mobile Adhoc NETwork
CSMA/CA
Carrier Sense Multiple Access
Local Area Network
TORA
Temporally-Ordered
Routing Algorithm
MAC Media Access Control WLAN
Wireless LAN
1
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ mạng Ad hoc là một công nghệ mới và hữu dụng trong số các công
nghệ mạng không dây. Công nghệ này cho phép các nút mạng giao tiếp trực tiếp với
nhau bằng cách sử dụng máy thu phát vô tuyến mà không cần có cơ sở hạ tầng cố
định. Đây là một đặc trưng riêng của mạng Ad hoc so với các mạng truyền thống trước
đây như mạng di động kiểu tế bào (cellular) hay mạng LAN không dây, trong đó các
nút giao tiếp với nhau thông qua trạm gốc (Base Station). Tuy nhiên, mạng Ad hoc
phải đối mặt với một số thách thức như giới hạn phạm vi truyền dẫn, vấn đề trạm ẩn,
mất gói do lỗi đường truyền, sự chuyển động của các nút mạng làm thay đổi tuyến
đường, sự ràng buộc về băng thông và năng lượng, sự mở rộng của số lượng nút mạng.
Trong phạm vi luận văn này, tôi tập trung đưa ra đánh giá ảnh hưởng của sự mở
rộng mạng đến thông lượng tổng cộng của mạng Ad hoc bằng phương pháp mô phỏng.
Khoá luận được chia làm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan về mạng Ad hoc
- Chương 2: Ảnh hưởng của sự mở rộng mạng Ad hoc đến thông lượng tổng
cộng của mạng.
3
Những ứng dụng trong tương lai theo xu hướng công nghệ mạng Ad hoc chắc
chắn sẽ chứng minh được rằng nó rất hữu dụng.Ví dụ, hãy xem xét những tình huống
sau đây. Một trận động đất đã phá hủy hầu hết mọi thứ, các cơ sở hạ tầng thông tin
liên lạc của một thành phố lớn (gồm: hệ thống đường dây điện thoại, các trạm cơ sở
của mạng cellular …). Một vài đội cứu hộ (chữa cháy, cảnh sát, y tế …) đang làm việc
trên vùng bị thảm họa đó để cứu người. Để mang lại một sự giúp đỡ tốt hơn cho người
dân thì những đội cứu hộ phải được phối hợp với nhau. Rõ ràng, một hành động phối
hợp chỉ có thể đạt được nếu những người cứu hộ có khả năng giao tiếp với những
người trong đội của mình vả cả những đội khác nữa (ví dụ như cảnh sát với cảnh sát
hay cứu hỏa với y tế). Với công nghệ có sẵn, những nỗi nỗ lực phối hợp của những
người cứu hộ trong hoàn cảnh cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc bị phá hủy nghiêm trọng
là rất khó khăn: thậm chí nếu các thành viên trong nhóm được trang bị những máy bộ
đàm hoặc là các thiết bị tương tự, khi không có quyền truy cập vào các cơ sở hạ tầng
truyền thông cố định có sẵn thì những người cứu hộ chỉ có thể liên lạc trong một phạm
vi gần. Vì vậy một trong những ưu tiên ngày nay trong quản lý thiên tai đó là làm thế
nào để khôi phục lại được hệ thống cơ sở thông tin liên lạc càng nhanh càng tốt, việc
này thường được thực hiện bằng cách sửa chữa các cơ sở hạ tầng đã bị phá hủy và
triển khai các thiết bị thông tin liên lạc tạm thời.
Tình hình có thể khác đi rất nhiều nếu công nghệ mạng Ad hoc đã sẵn sàng:
bằng cách sử dụng đầy đủ các hình thức truyền thông không dây phân cấp hay truyền
thông không dây đa chặng, những người cứu hộ sẽ có khả năng giao tiếp trong một
khoảng cách tương đối xa. Đối với môt khu vực bị thiên tai có một mật độ dân cư
đông hay là một thành phố thì công nghệ mạng Ad hoc có thể mang lại thành công
trong những nỗ lực cứu hộ mà không cần sử dụng một cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc
nào.
Ví dụ trên phần nào mô tả được những tính năng nối bật của những ứng dụng
sử dụng công nghệ mạng Ad hoc; Phần dưới đây trình bày các đặc điểm chính của
mạng này.
truyền thông không dây những điểm thu nhận thông tin có thể phân phối hoặc thu thập
thông tin từ những người sử dụng. Ví dụ thu nhận thông tin về một chuyến du lịch,
các sự kiện xung quanh, thông tin về các cửa hàng, nhà ăn trong khu một khu vực. …
Ứng dung cho ma 5 Hình 2: Một số ứng dụng của mạng phân phối những điểm thu nhận thông tin
1.2. Những sự thách thức
Mặc dù các công nghệ có thể áp dụng cho mạng Ad hoc là tương đối hoàn
thiện, nhưng những ứng dụng trên nó hầu như hoàn toàn không có. Một trong các
nguyên nhân chính của thực tế này là một số vấn đề trong mạng Ad hoc còn chưa có
hướng giải quyết. Trong phần này chúng ta sẽ mô tả những trạng thái của công nghệ
mạng Ad hoc hiện thời và đối điện với thách thức trong việc thiết kế mạng Ad hoc.
Mạng không dây Ad hoc đã thu hút được nhiều sự quan tâm của của các nhà
nghiên cứu và các ngành công nghiệp trong những năm gần đây; kết quả của một loạt
các hoạt động nghiên cứu là các cơ chế truyền thông không dây Ad hoc cơ bản đã
được thiết kế và chuẩn hóa. Thí dụ một số chuẩn được sử dụng phổ biến nhất là chuẩn
IEEE 802.11 và Bluetooth đã được thực thi trong hàng loạt các thiết bị không dây
thương mại, và những chuẩn này cho phép các thiết bị không dây giao tiếp với nhau
mà ít sử dụng các cơ sở hạ tầng.
Vì vậy, giao tiếp không dây đa chặng (multihop) giữa các thiêt bị khác nhau
như điện thoại di động, máy tính xách tay, PDA hay các thiết bị thông minh đều có thể
trở thành hiện thực với công nghệ được cung cấp hiện thời.
rộng khắp thì các vấn đề sau đây cũng nên được quan tâm:
Phân chia mạng toàn cầu: Trong viễn cảnh của một mạng rộng khắp được mô
tả trong phần 1.1 thì dữ liệu sẽ đi qua hầu hết các các mạng thành phần của mạng hỗn
hợp này: Ad hoc, cellular, vệ tinh, wireless LAN, Internet, v.v. Một lý thuyết lý tưởng
là người sử dụng có thể chuyển dữ liệu thông suốt từ một mạng này tới một mạng
khác mà không cần những ứng dụng chuyển đổi hoặc ngắt chuyển đổi. Để thực hiện
được điều này thì quả thực là một nhiệm vụ rất khó khăn về công nghệ.
Mô phỏng sự liên kết giữa các node: Khi thiết kế một giao thức mạng, việc
thiết kế thường được giả định rằng tất cả các node đều tình nguyện tham gia thực thi
mạng này. Trong tương lai của những ứng dụng mạng Ad hoc, những node mạng
thường được sở hữu bởi các đối tượng khác nhau (người dùng cá nhân, các chuyên gia
hay những tổ chức lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận), và những node này sẽ tự động tham
gia thực thi các giao thức trong mạng Ad hoc. Vì vậy những node trong mạng phải
được mô phỏng theo một giao thức nào đó một cách chi tiết và đặc biệt.
7
1.3. Kết luận
Chương này đã trình bày tổng quan về mạng Ad hoc. Trong mạng Ad hoc, topo
mạng thường xuyên thay đổi. Do vậy, các nút mạng đều phải thực hiện chức năng của
một router và giao thức định tuyến trong mạng Ad hoc cần giải quyết sự di chuyển của
nút, ràng buộc năng lượng và băng thông.
8
CHƢƠNG 2. ẢNH HƢỞNG CỦA SỰ MỞ RỘNG ĐẾN THÔNG LƢỢNG
TỔNG CỘNG CỦA MẠNG AD HOC
Do trong mạng Ad hoc, các nút mạng đều sử dụng sóng radio để truyền thông
với nhau, nên khi có một nút đang truyền, tất cả các nút mạng trong vùng không gian
xung quanh nó, nếu nhận được tín hiệu với cường độ lớn hơn một ngưỡng nhất định,
đều coi là môi trường truyền bận (đã được sử dụng) và không truyền. Như vậy, việc
mở rộng mạng, có thể là sự tăng mật độ nút, hoặc là tăng số nút trong mạng, đều ảnh
hình Giao thức (Protocol Model) và Mô hình Vật lý (Physical Model), chúng sẽ được
miêu tả chi tiết dưới đây. Trong đó, X
i
biểu hiện vị trí của node, chúng ta cũng sẽ
thường dùng X
i
để chỉ chính node đó cho tiện.
2.2.1 Mô hình giao thức [1]
Giả định node X
i
truyền qua kênh phụ (sub-channel) thứ m đến node X
j
; Việc
truyền này được nhận thành công tại node X
j
nếu
jijk
XXXX )1(
(1)
Với mọi node X
k
khác truyền đồng thời qua cùng kênh phụ nêu trên.
Có thể giải thích một cách đơn giản hơn như sau: nếu có 2 nút mạng i và k cùng
truyền đến nút j, việc truyền từ i đến j sẽ thành công nếu khoảng cách từ i đến j nhỏ
hơn khoảng cách từ k đến j.
Đại lượng >0 mô hình hóa cho các tình huống mà giao thức chỉ rõ cần có
vùng bảo vệ nhằm tránh việc các node lân cận đồng thời truyền trên cùng một kênh
phụ. Nó cũng cho phép độ sai số nhất định trong miền nhận tin cậy.
Dưới đây trình bày một mô hình khác gần với các vấn đề cần khảo sát của tầng
vật lý hơn.
Có thể giải thích ý nghĩa của biểu thức (2) như sau: nếu có 2 nút mạng i và k
cùng truyền đến nút j, việc truyền từ i đến j sẽ thành công nếu mật độ công suất tín
hiệu của nút i tại nút nhận j lớn hơn lần mật độ công suất tín hiệu của nút k tại j.
Trong đó mật độ công suất tín hiệu là công suất trên một đơn vị diện tích.
Biểu thức này là mô hình cho tình huống khi tỉ số tín hiệu trên nhiễu (SIR) cần
phải không được nhỏ hơn β để việc nhận là thành công, mức năng lượng nhiễu của
môi trường là N, và độ suy giảm công suất tín hiệu theo khoảng r là
r
1
. Chúng ta giả
thiết rằng α > 2, đây chính là giá trị thường được sử dụng trong các mô hình tính công
suất tín hiệu ngoài vùng lân cận của thiết bị truyền.
2.2.3 Dung lƣợng vận chuyển của Mạng tùy chỉnh [1]
Giả thiết đã có một số sự kiện truyền thành công xảy ra trong một khoảng thời
gian và trong một không gian nào đó, chúng ta đưa ra một đơn vị đo lượng vận chuyển
của mạng là bit-meter, tương ứng với việc truyền đi được 1 bit qua khoảng cách 1m
hướng đến đích. (Chúng tôi không xét trường hợp truyền multicast). Đơn vị đo này
tương tự đơn vị tấn/km mà người ta vẫn hay sử dụng để đánh giá năng lực vận chuyển
của các phương tiện vận tải. Khi sử dụng đơn vị đo này, lượng vận chuyển của mạng
sẽ là tổng của các tích giữa số bit mà mạng vận chuyển với chiều dài quãng đường,
được cộng lại đối với tất cả các kết nối. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá dung
lượng vận chuyển của mạng.
Đối với phần được trình bày tiếp dưới đây, chúng tôi xin lưu lý rằng, nếu như
diện tích của miền mà các nút mạng được đặt là A m
2
thay vì 1m
2
như chúng ta đã
chuẩn hóa, thì tất cả các kết quả tính dung lượng vận chuyển phải được nhân với
A
W
) bit/giây.
Cận trên của dung lượng vận chuyển không phụ thuộc vào việc truyền phải là
đẳng hướng như đã ngầm chỉ ra trong biểu thức (1), mà phụ thuộc vào việc các nút
hàng xóm của nút nhận được phân bố như thế nào.
Kết quả chính 2. Đối với Mô hình vật lý, có thể đạt được thông lượng vận
chuyển bằng cW
n
bit-met/giây, nhưng không thể đạt được giá trị
1
'Wnc
bit-
met/giây, với các giá trị c, c’ thích hợp.
Cụ thể,
8
))
2
6
2(16(
1
1
2
2
n
Wn
bit-met/giây (với n là bội của 4) là khả thi
khi mạng được thiết kế một cách thích hợp, trong đó cận trên là
11
)
22
nhiên
Trong kịch bản ngẫu nhiên, n node được đặt ở các vị trí ngẫu nhiên, tức là có
phân bố độc lập và đều, hoặc trên bề mặt có diện tích S
2
của mặt cầu 3 chiều với diện
tích 1 m
2
, hoặc trên một hình tròn với diện tích 1 m
2
trên mặt phẳng. Mục đích của
việc chọn nghiên cứu diện tích S
2
là để loại bỏ hiệu ứng biên khỏi các hiện tượng khác.
Mỗi node có một nút đích được chọn ngẫu nhiên để gửi với tốc độ λ(n) bit/giây. Nút
đích của mỗi node được chọn một cách độc lập và là node gần nhất với một điểm được
xác định ngẫu nhiên, nghĩa là phân bố nút mạng là độc lập và đều. (Do vậy, khoảng
cách trung bình giữa các nút đích và nút nguồn trong toàn mạng là 1m)
Chúng ta cũng giả định rằng các node là đồng nhất, tức là mọi việc truyền đều
có cùng công suất và phạm vị truyền (radio range) danh định. Đối với Mạng tùy chỉnh,
chúng ta cho phép sử dụng cả hai mô hình: mô hình giao thức và mô hình vật lý.
2.2.1 Mô hình giao thức [1]
Tất cả các node đều sử dụng miền r chung cho tất cả các lần truyền. Khi node X
i
truyền đến node X
j
qua kênh phụ thứ m, việc truyền này sẽ được nhận thành công tại
X
j
nếu:
jk
ji
XX
P
TkN
XX
P
(5)
Ý nghĩa của biểu thức này có thể được giải thích hoàn toàn tương tự như đối
với mô hình vật lý của mạng tùy chỉnh, đã được trình bày ở phần trên.
2.2.3 Thông lƣợng của Mạng ngẫu nhiên [1]
Khái niệm về thông lượng được định nghĩa theo cách thông thường là số bit
trung bình truyền được từ nguồn đến đích trong 1 đơn vị thời gian, được tính bằng
bit/giây:
Định nghĩa: Thông lƣợng khả thi. Thông lượng λ(n) bit/giây với mỗi node
được coi là khả thi nếu tồn tại một biểu đồ thời gian và không gian cho việc truyền,
sao cho bằng cách vận hành mạng theo kiểu đa chặng và lưu tạm thời các gói tin các
node trung gian trong khi chờ được truyền đi, mỗi node có thể gửi trung bình λ(n)
bit/giây tới node đích được chọn sẵn của nó. Điều đó có nghãi là, có một giá trị T<∞
sao cho trong mọi khoảng thời gian [(i-1)T, iT] mọi node đều có thể gửi T*λ(n) bit đến
node đích tương ứng của nó.
Mức thông lượng cụ thể có khả thi hay không phụ thuộc vào vị trí các node.
Các vị trí này đều là ngẫu nhiên. Điểm đích cho lưu lượng vào mỗi node cũng vậy.
14
Như trong Lý thuyết Học thuật PAC, giả định tính ngẫu nhiên bao hàm trong
báo cáo sự cố, chúng ta cho phép triệt tiêu các xác suất nhỏ khi xác định “thông
lượng”. [1]
Định nghĩa: Thông lƣợng của Mạng không dây ngẫu nhiên. Chúng ta cho
rằng thông lượng của loại mạng ngẫu nhiên có bậc là (f(n)) bit/giây nếu có các hằng
Wc
log)1(
2
"
) bit/giây khả thi, và (n)=(
nn
Wc
log
2
"'
) bit/giây
khả thi, cả hai đều có xác suất tiến tới 1 khi n →∞.
Do các điểm nóng về định tuyến (routing hot spots) có thể hình thành tại trung
tâm trong trường hợp của đĩa phẳng, và bậc của thông lượng là giống nhau cho cả hai
trường họp nói trên, điều đó thể hiện rằng nguyên nhân của việc thông lượng không
tăng lên được không phải là do sự hình thành các điểm nóng về định tuyến, mà là nhu
cầu của tất cả các node cần chia sẻ kênh cục bộ với các node khác.
15
Kết quả chính 4. Đối với mô hình vật lý, thông lượng (n)=(
nn
cW
log
) bit/giây
là khả thi, trong khi (n)=(
n
Wc
'
) bit/giây thì không, cho các giá trị thích hợp c, c’ , cả
hai biểu thức trên đều tiến tới 1 khi n →∞.
1
L
W
bit/giây khả thi và có xác suất tiến tới 1
khi n →∞.
16
CHƢƠNG 3. GIỚI THIỆU BỘ MÔ PHỎNG NS-2
3.1. Giới thiệu bộ mô phỏng NS-2
Hiện nay, các hệ thống mạng ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải đáp ứng được
yêu cầu của nhiều loại dịch vụ khác nhau, về tốc độ truyền, độ trễ, biến động trễ
(jitter), Vì vậy, việc sử dụng phương pháp giải tích để nghiên cứu hoạt động của các
giao thức mạng càng trở nên phức tạp. Ngoài ra, khó có những mô hình thực tế để đo
thực nghiệm nên việc sử dụng các hệ thống mô phỏng máy tính trở nên thuận lợi hơn
nhiều.
Phương pháp mô phỏng sử dụng chương trình phần mềm để xây dựng các đối
tượng trong mạng dựa theo Topology mạng đã được thiết kế; Thiết lập bảng các sự
kiện hoạt động cho từng node mạng, thiết lập các thông số đường truyền, thời gian
truyền
NS2 là phần mềm mô phỏng mạng kiểu điều khiển theo các sự kiện rời rạc
hướng đối tượng, được phát triển tại UC Berkely, viết bằng ngôn ngữ C++ và OTcl.
NS rất hữu ích cho việc mô phỏng mạng diện rộng (WAN) và mạng cục bộ (LAN).
Bốn lợi ích lớn nhất của NS-2 phải kể đến đầu tiên là:
- Khả năng kiểm tra tính ổn định của các giao thức mạng đang tồn tại
- Khả năng đánh giá các giao thức mạng mới trước khi đưa vào sử dụng
- Khả năng thực thi những mô hình mạng lớn mà gần như ta không thể thực thi
Mạng (hay các mô đun Plumbing).
Để sử dụng NS-2, cần lập trình bằng ngôn ngữ kịch bản OTcl. Người sử dụng
có thể thêm các mã nguồn Otcl vào NS-2 bằng cách viết các lớp đối tượng mới trong
OTcl. Những lớp này khi đó sẽ được biên dịch cùng với mã nguồn gốc. Kịch bản OTcl
có thể thực hiện những việc sau:
- Khởi tạo Bộ lập lịch Sự kiện
- Thiết lập Mô hình mạng dùng các đối tượng Thành phần Mạng
- Báo cho nguồn traffic khi nào bắt đầu truyền và ngưng truyền packet trong Bộ
lập lịch Sự kiện
Thuật ngữ plumbing được dùng để chỉ việc thiết lập mạng, vì thiết lập một
mạng nghĩa là xây dựng các đường dữ liệu giữa các đối tượng mạng bằng cách thiết
lập con trỏ “neighbour” cho một đối tượng để chỉ đến địa chỉ của đối tượng tương ứng.
Mô đun plumbing OTcl trong thực tế thực hiện việc trên rất đơn giản. Plumbing làm
nên sức mạnh của NS.
Thành phần lớn khác của NS bên cạnh các đối tượng Thành phần Mạng là Bộ
lập lịch Sự kiện. Bộ lập lịch Sự kiện trong NS-2 thực hiện những việc sau:
- Tổ chức Bộ định thời Mô phỏng
- Huỷ các sự kiện trong hàng đợi sự kiện
- Triệu gọi các Thành phần Mạng trong mô phỏng
Phụ thuộc vào mục đích của user đối với kịch bản mô phỏng OTcl mà kết quả mô
phỏng có thể được lưu trữ như file trace. Định dạng file trace sẽ được tải vào trong các
ứng dụng khác để thực hiện phân tích:
- File nam trace (file.nam) được dùng cho công cụ Minh họa mạng NAM
18
- File Trace (file.tr) được dùng cho công cụ Lần vết và Giám sát Mô phỏng
XGRAPH hay TRACEGRAPH
- NAM Visual Simulation - Mô phỏng ảo NAM
- Tracing and Monitoring Simulation - Mô phỏng Lần vết và Giám sát
khả năng nhận và truyền các tín hiệu đến hoặc từ một kênh wireless. Sự khác nhau cơ
bản giữa chúng là một MobileNode được kết nối giữa các liên kết (link) đến các node
khác hay các mobilenode. Trong phần này, chúng ta sẽ trình bày các đặc tính của
MobileNode, các cơ chế định tuyến của nó, các giao thức định tuyến dsdv, aodv, tora
và dsr, quá trình tạo ra ngăn xếp mạng cho phép kênh truy suất bên trong MobileNode,
trình bày một cách ngắn gọn mỗi thành phần cấu thành của ngăn xếp, vết hỗ trợ (trace
support) và di chuyển/vận chuyển (movement/traffic) chuỗi cho các trình mô phỏng
wireless.
3.4.2 Tạo topo mạng không dây
MobileNode là đối tượng nsNode cơ sở cùng với các chức năng như sự di
chuyển, khả năng truyền và nhận trên một kênh cho phép tạo môi các truờng mobile,
môi trường mô phỏng wireless. Lớp MobileNode có xuất phát từ lớp cơ sở Node.
MobileNode là một đối tượng tách biệt. Các tính năng mobile gồm có di chuyển node,
cập nhập vị trí định kỳ, duy trì đường biên của topo,… được thực thi trong C++ trong
quá trình dò tìm các thành phần của mạng bên trong của MobileNode (như các phân
lớp, dmux, LL, Mac, Channel,…) được thực thi trong Otcl. Các chức năng và các thủ
tục được trình bày trong phần này có thể được tìm thấy trong ~ns/mobilenode.{cc,h},
~ns/tcl/lib/ns-mobilenode.tcl, ~ns/tcl/mobility/dsdv.tcl, ~ns/tcl/mobility/dsr.tcl,
ns/tcl/mobility/tora.tcl. Các tập lệnh minh hoạ có thể được tìm thấy trong
~ns/tcl/ex/wireless-test.tcl and ~ns/tcl/ex/wireless.tcl.
Bốn giao thức định tuyến Ad hoc hiện được NS2 hỗ trợ là DSDV (Destination
Sequence Distance Vector), DSR (Dynamic Source Routing), TORA (Temporally
ordered Routing Algorithm) và OADV (Adhoc On-demand Distance Vector).
Cơ sở tạo một mobilenode được trình bày sau dây:
20
$ns_ node-config -adhocRouting $opt(adhocRouting)
-llType $opt(ll)
-macType $opt(mac)
-ifqType $opt(ifq)