Công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức và ứng dụng công nghệ này vào cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo tại bưu điện Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO
THỨC VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ NÀY VÀO
CUNG CẤP DỊCH VỤ MẠNG RIÊNG ẢO
TẠI BƯU ĐIỆN HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội – 2007 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: huyỂn mẠch nhÃn Đa giao thỨc mpls1
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC - MPLS 1
1.1.1. Chuyển mạch nhãn là gì? 1
1.1.2. Tại sao lại sử dụng chuyển mạch nhãn ? 3
1.1.2.1. Tốc độ và trễ. 3
1.1.2.2. Biến đổi trễ (Jitter). 4
1.1.2.3. Khả năng mở rộng. 4
1.1.2.4. Tính đơn giản. 5
1.1.2.5. Tài nguyên. 5
1.1.2.6. Điều khiển tuyến (điều khiển con đƣờng chuyển tin). 5
1.1.3. Chuyển mạch nhãn đƣợc thực hiện nhƣ thế nào? 6
1.1.4. Thiết lập và sử dụng mạng MPLS. 8
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG MPLS. 10
1.2.1. Sự phân tách giữa mặt phẳng điều khiển và dữ liệu. 11
1.2.2. Mặt phẳng điều khiển và dữ liệu IP. 11
1.2.3. Mặt phẳng điều khiển và dữ liệu MPLS. 12
1.2.4. Mối quan hệ giữa mặt phẳng điều khiển IP và MPLS. 14
1.2.5. Lớp chuyển tiếp tƣơng đƣơng (FEC). 14
1.2.6. Cấu trúc nhãn và gói tin MPLS. 16

1.4.4.2. Mô hình mạng APLS 39
1.4.5. Ví dụ về sự thích nghi dữ liệu 39
CHƢƠNG 2 : MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA MPLS 42
2.1. øNG DôNG MPLS TE 43
2.1.1. Khái niệm điều khiển lƣu lƣợng. 43
2.1.2. Các thành phần trong kỹ thuật lƣu lƣợng MPLS. 45
2.1.3. Vận chuyển FEC qua LSP 46
2.1.4. Sử dụng TE trong miền MPLS 48
2.2. ỨNG DỤNG MPLS TRONG QOS 50
2.2.1. Khái niệm chất lƣợng dịch vụ QoS. 50
2.2.2. Các mô hình dịch vụ cơ bản. 52
2.2.3. Khả năng hỗ trợ các dịch vụ của MPLS. 54
2.3. KHÔI PHỤC ĐƢỜNG VỚI MPLS 58
2.3.1. Quy trình khắc phục sự cố 59
2.3.2. Khắc phục sự cố 60
2.4. ỨNG DỤNG MPLS TRONG MẠNG RIÊNG ẢO VPN 63
2.4.1. Khái niệm mạng riêng ảo VPN 63
2.4.2. Phân loại Mạng riêng ảo 65
2.4.2.1. Mạng riêng ảo từ xa. 65
2.4.2.2. Mạng riêng ảo trong 66
2.4.2.3. Mạng riêng ảo ngoài 66
2.4.3. Mạng riêng ảo BGP/MPLS 67
2.4.3.1. Các thành phần của BGP/MPLS 67
2.4.3.2. Lợi ích của mạng riêng ảo BGP/MPLS 73
2.4.4. Những yêu cầu và giải pháp với mạng riêng ảo có hỗ trợ MPLS. 74
2.4.4.1. Hỗ trợ việc chồng địa chỉ của khách hàng VPN. 75
2.4.4.2. Ràng buộc liên kết mạng (Constraining Network Connectivity) 77

mạng Internet đã và sẽ được phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, đặc biệt là các
dịch vụ thời gian thực và yêu cầu băng thông rộng như VoIP, hội nghị truyền hình,
truyền hình trực tuyến, hội thảo/đào tạo từ xa…Vì vậy vấn đề đặt ra là phải tìm một
giải pháp kỹ thuật có thể đáp ứng được các yêu cầu về quy mô cũng như chất lượng
các dịch vụ đối với mạng Internet.
Khi mạng Internet phát triển và mở rộng, lưu lượng Internet bùng nổ. Các ISP
xử lý bằng cách tăng dung lượng các kết nối và nâng cấp router nhưng vẫn không
tránh khỏi nghẽn mạch. Lý do là các giao thức định tuyến thường hướng lưu lượng
vào cùng một số các kết nối nhất định dẫn đến kết nối này bị quá tải trong khi một
số tài nguyên khác không được sử dụng. Đây là tình trạng phân bố tải không đồng
đều và sử dụng lãng phí tài nguyên mạng Internet.
Xu hướng của các ISP là thiết kế và sử dụng các router chuyên dụng, dung
lượng chuyển tải lớn, hỗ trợ các giải pháp tích hợp, chuyển mạch đa lớp cho mạng
trục Internet. Nhu cầu cấp thiết là phải ra đời một công nghệ lai có khả năng kết
hợp những đặc điểm tốt của chuyển mạch kênh ATM và chuyển mạch gói IP.
Công nghệ MPLS ra đời trong bối cảnh này đáp ứng được nhu cầu của thị
trường đúng theo tiêu chí phát triển của Internet đã mang lại những lợi ích thiết
thực, đánh dấu một bước phát triển mới của mạng Internet trước xu thế tích hợp
công nghệ thông tin và viễn thông (ICT - Information Communication Technology)
trong thời kỳ mới.
Công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS) là kết quả phát triển của
nhiều công nghệ chuyển mạch IP sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn như của ATM để
tăng tốc độ truyền gói tin mà không cần thay đổi các giao thức định tuyến của IP.
Công nghệ MPLS có thể được sử dụng kết hợp với nhiều công nghệ khác như IP,
ATM, chuyển mạch quang. Tuy nhiên một ứng dụng hết sức quan trọng của MPLS
là trong mạng IP để xây dựng mạng riêng ảo (VPN) cho các tổ chức doanh nghiệp.
Với khả năng đặc biệt về quản lý, mở rộng và dựa trên cơ sở hạ tầng là mạng
Internet hiện có, ứng dụng này càng được các doanh nghiệp quan tâm và yêu cầu
đáp ứng.
Với tính chất về định tuyến của mình, MPLS có khả năng đáp ứng được nhiều

1 CHƢƠNG 1
CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC - MPLS

Trong mạng Internet truyền thống, phương thức vận chuyển các gói đều dựa
vào địa chỉ IP đích, các router dựa vào địa chỉ IP có trong phần mào đầu của gói tin
và dựa vào bảng thông tin định tuyến có trên mỗi router và chuyển tiếp gói dữ liệu
dựa vào các thông tin này. Nhưng đối với chuyển mạch nhãn thì hoàn toàn khác, nó
thực hiện bằng việc gán nhãn (một hoặc một số nhãn) cho một gói tin. Và nhãn này
không phải là địa chỉ nên nó không liên quan đến cấu trúc mạng (network topology)
như phương pháp dùng địa chỉ IP, và khi ta chưa liên kết nhãn với một địa chỉ IP thì
thông tin về đường đi của nhãn sẽ chưa có ý nghĩa. Như vậy mạng chuyển mạch
nhãn cần phải liên kết nhãn với địa chỉ đích của gói tin, và các nút mạng sẽ dựa vào
giá trị trong nhãn đó để vận chuyển gói tin đến đích.
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS
1.1.1. Chuyển mạch nhãn là gì?
Khái niệm chuyển mạch nhãn rất đơn giản. Giả sử có một lưu lượng của người
sử dụng (ví dụ: một đoạn tin email) được chuyển từ máy tính của người sử dụng đó
đến máy tính của người nhận. Trong mạng internet không sử dụng chuyển mạch
nhãn, phương pháp để chuyển email này tương tự như trong hệ thống thư tín của
bưu điện: tức là một địa chỉ đích được xem xét bởi các thực thể chuyển thư như đối
với internet là các bộ định tuyến (Router) còn đối với hệ thống thư tín là nguời xử lý
thư (mail handler). Địa chỉ này quyết định việc bộ định tuyến hoặc người xử lý thư
chuyển gói dữ liệu hoặc phong bì chứa thư tới người nhận cuối cùng như thế nào.


định định tuyến thì một nhãn được gắn với gói tin đó. Trong hệ thống thư tín, một
giá trị nhãn được đặt lên phong bì thư và sau đó được sử dụng thay cho địa chỉ thư
tín để gửi thư tới người nhận. Trong các mạng máy tính, một nhãn được đặt trong
mào đầu của gói tin và được sử dụng thay cho địa chỉ IP để định tuyến lưu lượng tới
địa chỉ đích của gói tin.
Trong hình 1.1.1, một bức thư được chuyển đi thông qua hệ thống thư tín từ
người gửi tới người nhận. Địa chỉ thực tế của người nhận không được sử dụng trong
mạng thư tín để chuyển bức thư này. Thay vào đó một mã ZIP 88888 được sử dụng
như một nhãn để xác định nơi mà bức thư này sẽ tới. Sau khi bức thư này đến vùng
ZIP đích (cuối của con đường thư tín) thì địa chỉ thực tế của thư (số nhà, phố,…)
mới được sử dụng để chuyển thư này tới người nhận cuối cùng.
Chuyển mạch nhãn chính là sử dụng ý tưởng này. Trong hình 1.1.2, một gói
tin IP được gửi tới một bộ định tuyến chuyển mạch nhãn để chuyển tới một địa chỉ
IP đích. Bộ định tuyến gắn thêm một nhãn vào gói tin (giống như mã ZIP). Sau đó
nhãn này chứ không phải địa chỉ IP được sử dụng trong mạng để chuyển lưu lượng
đi. Khi lưu lượng này đến cuối con đường nhãn thì địa chỉ IP được sử dụng để
chuyển bức thư này tới người sử dụng cuối cùng.
"Công nghệ lớp 2,5" là một cụm từ khác thường được dùng để mô tả MPLS là
gì. Hình 1.1.3 chỉ ra MPLS thường được minh hoạ như một lớp chèn thêm mới đặt
vào giữa lớp mạng và lớp liên kết dữ liệu. Destination IP=191.168.1.1
Label=88888
The Internet Destination IP=191.168.1.1
Label= 88888


1.1.2. Tại sao lại sử dụng chuyển mạch nhãn ?
Sau đây sẽ đề cập đến một số chủ đề cũng là lý do mà chuyển mạch nhãn được
quan tâm trong những năm gần đây.
1.1.2.1. Tốc độ và trễ.
Việc chuyển gói tin trên cơ sở IP truyền thống quá chậm để xử lý tải lưu
lượng lớn trên Internet. Ngay cả khi các kỹ thuật nâng cao được phát triển như kỹ
thuật tra cứu bảng nhanh thì tải trên các bộ định tuyến vẫn lớn hơn nhiều so với khả 4 năng xử lý của nó. Kết quả là lưu lượng và các kết nối bị mất, chất lượng trên toàn
mạng giảm sút.
Ngược lại với phương thức chuyển gói tin của IP, chuyển mạch nhãn đưa ra
một giải pháp hết sức hiệu quả cho vấn đề này. Chuyển mạch nhãn nhanh hơn nhiều
bởi vì giá trị nhãn được đặt vào mào đầu gói tin được sử dụng để truy nhập vào
bảng định tuyến tại các bộ định tuyến. Có nghĩa là nhãn được sử dụng như một chỉ
mục hay con trỏ trỏ vào bảng định tuyến. Việc tra cứu này chỉ cần một lần truy nhập
vào bảng định tuyến. Điều này ngược hoàn toàn so với việc truy nhập bảng định
tuyến truyền thống có khi yêu cầu đến vài nghìn lần tra cứu.
Kết quả của hoạt động tra cứu bảng định tuyến này là lưu lượng của người sử
dụng được truyền đi trong mạng nhanh hơn, giảm thời gian trễ và thời gian đáp ứng
cho một lần giao dịch giữa những người sử dụng.
1.1.2.2. Biến đổi trễ (Jitter).
Trong các mạng máy tính ngoài tham số tốc độ và trễ còn có một tham số
khác đó là sự biến đổi trễ của lưu lượng người sử dụng sinh ra khi gói đi qua các
node trong mạng để tới đích. Biến đổi trễ này được tích luỹ trong suốt quá trình gói
tin được truyền từ bên gửi tới bên nhận. Tại mỗi node, địa chỉ đích trong gói tin
được xem xét và so sánh với một danh sách các địa chỉ đích trong bảng định tuyến

định thì không liên quan gì đến việc chuyển lưu lượng thực tế. Những cơ chế điều
khiển này khá phức tạp, nhưng chúng không ảnh hưởng đến hiệu quả của dòng lưu
lượng người sử dụng.
Một loạt các phương pháp được sử dụng để thiết lập việc kết hợp một nhãn với
lưu lượng người sử dụng. Sau khi kết hợp này được thực hiện, các hoạt động
chuyển mạch nhãn để chuyển lưu lượng rất đơn giản. Hoạt động chuyển mạch nhãn
có thể được thực hiện bằng phần mềm, hoặc các mạch tích hợp chuyên dụng (ASIC)
hoặc là các bộ xử lý chuyên dụng.
1.1.2.5. Tài nguyên.
Chuyển mạch nhãn không cần nhiều tài nguyên mạng để thực hiện các cơ
chế điều khiển để thiết lập các đường chuyển mạch nhãn cho lưu lượng người sử
dụng.
1.1.2.6. Điều khiển tuyến (điều khiển con đƣờng chuyển tin).
Ngoại trừ một vài ngoại lệ, định tuyến trong Internet được thực hiện thông
qua việc sử dụng địa chỉ đích IP. Nhiều sản phẩm hiện nay lại sử dụng các thông tin 6 khác như trường loại dịch vụ IP TOS (type of service) và số hiệu cổng như là một
phần của quyết định định tuyến. Nhưng định tuyến dựa trên địa chỉ đích vẫn là
phương thức chuyển tin phổ biến.



1.1.3. Chuyển mạch nhãn đƣợc thực hiện nhƣ thế nào?
MPLS có thể được xem như là một tập các công nghệ làm việc với nhau để
truyền các gói tin từ nguồn tới đích một cách hiệu quả nhất, có thể điều khiển và dự
tính trước được. Nó sử dụng các đường chuyển mạch (LSPs) được thiết lập với các
giao thức báo hiệu và định tuyến lớp 3 cho chuyển tiếp lớp 2. LSP được thiết lập
với các giao thức báo hiệu và định tuyến lớp 3.

Hình 1.1.5: Định tuyến, chuyển mạch và chuyển tiếp.
Một thiết bị router chuyển một gói từ nguồn tới đích bằng việc nhận gói,
chuyển mạch và sau đó chuyển tiếp nó tới thiết bị tiếp theo cho đến khi đạt tới đích
của nó. Hình 1.1.5 minh họa mô hình chung này. Mặt phẳng điều khiển duy trì một
tập các tuyến mà một gói có thể sử dụng để đạt đến chặng tiếp theo của nó.
Trong mô hình chung này, một gói đi vào một thiết bị mạng qua một giao diện
vào. Bộ nhận logic xử lý gói và chuyển thông tin cần thiết về gói tới bộ quyết định
logic. Bộ quyết định logic liên tục được cung cấp thông tin cần thiết từ mặt phẳng
điều khiển để duy trì các tuyến sẽ cung cấp thông tin cập nhật của gói cho bộ logic
phát, chuyển gói qua cổng ra tương ứng tới thiết bị đích tiếp theo.
Đây là một mô hình rất đơn giản nhưng nó là điểm bắt đầu rất tốt để thảo luận
MPLS được thực hiện thế nào. MPLS cung cấp một mô hình mới cho việc định
tuyến, chuyển mạch và chuyển tiếp gói cùng hoạt động với nhau để chuyển các gói
đi trong mạng Internet.
Upper layer
Maintain routes
Device which output port
Receive input packet
Transmit output packet
Input ports
Output ports
CONTROL PLANE

Control
“slow
path”
data
“fast
path”
Control path
Forwarding path
Software
Hardware
Control path
Forwarding path
Software
Hardware
data 9 1.1.4. Thiết lập và sử dụng mạng MPLS.
Công nghệ MPLS là tập hợp các thủ tục cho việc tổ hợp chức năng định
tuyến lớp 3 với mẫu trao đổi lớp 2. Tiền đề cơ bản đầu tiên của MPLS là gán nhãn
có độ dài cố định, gắn vào các gói sau đó sử dụng những nhãn đó để chuyển gói đi.
Có ba bước chính trong việc thiết lập và sử dụng một mạng MPLS :
 Các thiết bị có khả năng MPLS
 Thiết lập các lớp FEC và cấu hình LSP
 Chuyển lưu lượng MPLS, giám sát và điều khiển mạng
Bước đầu tiên là bổ sung công nghệ MPLS vào mạng và các thiết bị tương
ứng. Bao gồm bổ sung thêm các phần mềm và phần cứng tương ứng vào các thiết bị

Một điều cần lưu ý là sự quyết định thành viên FEC được thực hiện chỉ một
lần tại LSR vào. Trong định tuyến IP truyền thống, sự tra cứu phải được thực hiện
tại mỗi bộ định tuyến (router) để xác định chặng tiếp theo cho gói và sự phân tích
đầy đủ mào đầu của gói phải thực hiện tại mỗi chặng. Trong MPLS bởi vì đường
chuyển gói được thiết lập trước tiên, không có sự đòi hỏi phân tích thêm mào đầu
gói lớp mạng tại các node trung gian, chỉ có việc trao đổi các nhãn trong quá trình
chuyển dữ liệu. Việc quyết định LSP nào mà một gói vào sẽ sử dụng là một trong
các ưu điểm quan trọng so với định tuyến IP truyền thống trong sự định tuyến mềm
dẻo.
Trước khi sự phân loại FEC quyết định giá trị nhãn và giao diện ra cho bất cứ
đường LSP của gói, các giao thức báo hiệu và phân phối nhãn phải phân phối các
nhãn tương ứng trong miền để tạo ra các LSP đó.
Kiến trúc MPLS không yêu cầu một giao thức báo hiệu và phân phối nhãn
riêng nào, do đó có rất nhiều các giao thức đang được sử dụng rộng rãi ngày nay để
tạo ra rất nhiều loại LSP. Các giao thức nhãn MPLS chính bao gồm : LDP, RSVP-
TE và CR-LDP.
Quản trị mạng đóng một vai trò quan trọng trong việc cấu hình các LSR và
LSP. Qua SNMP (Simple Network Management Protocol) và giao diện dòng lệnh
CLI (Command Line Interface), người quản trị mạng có thể thiết lập các thông số
thích hợp trong mạng của họ.
Cuối cùng mạng sẵn sàng chuyển lưu lượng qua các LSP của nó.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG MPLS.
Chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS là cơ chế ánh xạ địa chỉ lớp 3 vào nhãn
ở lớp 2 và chuyển tiếp gói dữ liệu, tích hợp với cơ chế định tuyến ở tầng mạng. Do
làm việc với cơ chế này nên MPLS có những đặc điểm như khả năng mở rộng, tính 11

12 1.2.2. Mặt phẳng điều khiển và dữ liệu IP.
Đối với các giao thức Internet thì mặt phẳng điều khiển là các giao thức định
tuyến như OSPF, IS-IS, BGP, chúng cho phép IP (trong mặt phẳng dữ liệu) chuyển
tiếp lưu lượng chính xác.
Các bản tin điều khiển được trao đổi giữa các bộ định tuyến để thực hiện một
loạt các hoạt động như:
 Trao đổi các bản tin giữa các node để thiết lập một mối quan hệ định tuyến.
 Trao đổi các bản tin định kỳ để khẳng định rằng các node lân cận đang tồn
tại và hoạt động.
 Trao đổi các bản tin phát quảng bá tuyến và địa chỉ để xây dựng các bảng
định tuyến được sử dụng để chuyển lưu lượng.
Trong hình 1.2.1 dưới đây, mũi tên chỉ từ mặt phẳng điều khiển tới bảng định
tuyến có nghĩa là các tuyến được phát hiện bởi các giao thức định tuyến được lưu
trữ trong bảng định tuyến. Các mũi tên hai chiều nối giữa bảng định tuyến và mặt
phẳng dữ liệu có nghĩa là IP truy cập bảng định tuyến để thực hiện các hoạt động
chuyển phát của nó. Control Plane
(Routing Layer)
Routing
Table
Data Plane
(Forwarding Layer)
OSPF,
IS-IS,

nhận gói. LFIB đối với MPLS cũng giống với bảng định tuyến của IP.
Nhiều giao thức có thể hoạt động trong mặt phẳng điều khiển MPLS. Ví dụ,
như giao thức RSVP được mở rộng để cho phép phát quảng bá, phân phối và kết
hợp các nhãn với các địa chỉ IP. Ngoài ra còn một số giao thức khác như giao thức
phân phối nhãn LDP, OSPF và BGP cũng được sử dụng cho vận hành mặt phẳng
điều khiển MPLS.
Các bản tin điều khiển được trao đổi giữa các Router chuyển mạch nhãn để
thực hiện một loạt các hoạt động như:
 Trao đổi các bản tin giữa các node để thiết lập một mối quan hệ (bao gồm
các thoả thuận về bảo mật). Sau khi hoạt động này hoàn thành, các node được gọi là
các LSR đồng cấp.
 Trao đổi các bản tin định kỳ để đảm bảo rằng các node lân cận đang tồn tại
và hoạt động. 14  Trao đổi các bản tin nhãn và địa chỉ để kết hợp các địa chỉ với các nhãn và
tạo các bảng chuyển tiếp được sử dụng bởi mặt phẳng số liệu MPLS để chuyển lưu
lượng.

RSVP-TE,

OSPF-E
BGP-E
MPLS
Packet
MPLS
Packet
Router
LDP,
RSVP-TE,

OSPF-E
BGP-E
IP
Control Plane
Router
LFIB
MPLS
Control Plane 15


Tại sao lại sử dụng FEC?. FEC cho phép nhóm các gói tin thành các lớp. Từ
nhóm này, giá trị FEC trong một gói tin có thể được sử dụng để thiết lập giá trị ưu
tiên cho việc xử lý các gói tin. FECs cũng có thể hỗ trợ các hoạt động QoS. Ví dụ,
FECs có thể được kết hợp với giá trị ưu tiên cao đối với lưu lượng thoại thời gian
thực, giá trị ưu tiên thấp với lưu lượng kiểu số liệu bản tin nhóm.
Trong MPLS, việc ấn định một gói tin cụ thể cho một FEC cụ thể được thực
hiện duy nhất một lần khi gói tin đi vào mạng. Giá trị FEC mà gói tin gán được mã
hoá như một giá trị có độ dài cố định ngắn và được gọi là nhãn. Khi gói tin được
chuyển tới chặng tiếp theo thì nhãn được gửi cùng nó. Đối với các lớp dịch vụ khác
nhau, thì các FEC khác nhau và các nhãn khác nhau được sử dụng.
1.2.6. Cấu trúc nhãn và gói tin MPLS.
1.2.6.1. Nhãn MPLS (Label).
Một nhãn MPLS hay còn được gọi là “Shim Label” hoặc mào đầu “Shim
MPLS” là một thực thể có độ dài cố định ngắn và chỉ có ý nghĩa cục bộ được sử
dụng để nhận dạng một FEC[2]. Mặc dù thông tin trong mào đầu lớp mạng được
truy vấn cho việc ấn định nhãn, nhưng nhãn không trực tiếp mã hoá bất kỳ thông tin
nào từ mào đầu lớp mạng như địa chỉ nguồn hay địa chỉ đích.
Các nhãn chỉ có ý nghĩa cục bộ, nghĩa là nhãn chỉ có ý nghĩa đối với một con
đường đơn giữa các LSRs liền kề nhau. Hình dưới đây mô tả các trường của một
mào đầu.
IP
1
IP
2
LSR
LSR
LER
(ingress)
LER
(egress)

lớp mạng truyền thống (IPv4 là 32 bit, IPv6 là 128 bit), đặc điểm này sẽ làm tăng
tốc độ chuyển mạch gói MPLS qua mạng. Các nhãn là không cấu trúc và được lưu
trữ trong cơ sở thông tin nhãn LIB.
 Trƣờng EXP (Experimental Bits Field)
Trường EXP gồm 3 bit. EXP có thể tác động đến các thuật toán hàng đợi và từ
chối cung cấp cho gói khi nó chuyển qua mạng. Trường này đang được chuẩn hoá
để sử dụng với DiffServ và cung cấp các lớp dịch vụ khác nhau. Trường EXP ban
đầu gọi là CoS (Class of Service).
 Trƣờng ngăn xếp nhãn S
Trường ngăn xếp có độ dài 1 bit được sử dụng để hỗ trợ sự phân cấp nhãn
trong ngăn xếp nhãn. Ngăn xếp nhãn hoạt động theo phương thức Last-in First out
(LIFO).
 Trƣờng TTL (Time To Live)
Trường TTL trong mào đầu MPLS cũng hoạt động tương tự như trường TTL
trong mào đầu IP truyền thống: có chức năng ngăn loop. Nó chỉ thị một số lượng
chặng mà gói có thể đi qua. Nếu gói không đạt đến nút cục bộ hoặc đích của nó mà
bộ đếm đã trở về 0 thì gói đó có thể bị từ chối hoặc sẽ được phát lại. Trường TTL
có độ dài 8 bit.
Label
Exp
TTL
4 Octets
20
3
1
8

S

Trích đoạn KHÔI PHỤC ĐƢỜNG VỚI MPLS ỨNG DỤNG MPLS TRONG MẠNG RIÊNG ẢO VPN Các thành phần của BGP/MPLS Lợi ích của mạng riêng ảo BGP/MPLS Chất lƣợng trong MPLS VPN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status