Nghiên cứu chế tạo bạc nano gắn trên silica dùng làm chất kháng khuẩn bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 - Pdf 25

iii
TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ THUẬT NGỮ KHOA HỌC

:
Hiệu quả diệt khuẩn, %
Co-60:
Bức xạ gamma Cobalt-60

max
:
Bước sóng hấp thụ quang phổ UV-Vis cực đại
Ag
+
:
Bạc ion
Ag
0
:
Bạc nguyên tử
CFU/ml:
Số lượng tế bào sống có khả năng hình thành khuẩn lạc/ml
Cluster:
Tập hợp khối của các nguyên tử bạc dưới dạng cụm
CNBX:
Công nghệ bức xạ
d:
Kích thước hạt (nm)
D

Vật liệu nano
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ THUẬT NGỮ KHOA HỌC III
MỤC LỤC IV
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 4
TỔNG QUAN 4
1.1. Giới thiệu vật liệu nano: 4
1.1.1. Tính chất chung của vật liệu nano 4
1.1.2. Phân loại vật liệu nano 7
1.2. Hạt nano kim loại 8
1.2.1. Tính chất của hạt nano kim loại 9
1.2.2. Chế tạo hạt nano kim loại 11
1.2.2.1. Phương pháp ăn mòn laser 12
1.2.2.2. Phương pháp khử hóa học 13
1.2.2.4. Phương pháp khử hóa lý 13
1.2.2.5. Phương pháp khử vật lý 14
1.3. Ứng dụng của vật liệu nano 14
1.3.1. Ứng dụng của vật liệu nano nói chung 14
1.3.2. Ứng dụng của bạc nano và tính chất kháng khuấn 16
1.3.2.1. Ứng dụng của bạc nano 16
1.3.3.2. Tính chất kháng khuấn 17
1.4. Giới thiệu sơ lược về công nghệ bức xạ 29
1.4.1. Một số khái niệm và định nghĩa 29

2.2. Phương pháp 43
2.2.1. Chế tạo Ag nano/SiO
2
bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 43
2.2.2. Xác định các đặc trưng tính chất của Ag nano/SiO
2
44
2.2.2.1. Đo phổ UV-Vis 44
2.2.2.2. Tạo mẫu Ag nano/SiO
2
dạng bột 45
2.2.2.3. Chụp ảnh TEM 45
2.2.2.4. Đo phổ XRD 45
2.2.2.5. Xác định hàm lượng bạc trong mẫu 45
2.2.2.6. Khảo sát độ ổn định kích thước của Ag nano/SiO
2
khi phối trộn
trong sơn 46
2.2.2.7. Khảo sát hoạt tính kháng nấm của Ag nano/SiO
2
46
2.2.2.8. Đánh giá khả năng kháng nấm Aspergillus niger var Tieghn của
sơn đã được pha trộn với Ag nano/SiO
2
48
CHƢƠNG 3 50
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 50
3.1. Đặc trưng phổ hấp thụ UV-Vis của Ag nano/SiO
2
sau chiếu xạ 50

nhiều lĩnh vực như điện tử, lý, hóa, sinh học, y dược, môi trường, [36,31]. Ý
tưởng đầu tiên về công nghệ nano được đưa ra bởi nhà vật lý học người Mỹ
Richard Feynman vào năm 1959, ông cho rằng khoa học đã đi vào chiều sâu của
cấu trúc vật chất đến từng phân tử, nguyên tử. Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghệ
nano” mới bắt đầu được sử dụng vào năm 1974 do Nario Taniguchi một nhà nghiên
cứu tại trường đại học Tokyo sử dụng khi đề cập khả năng chế tạo cấu trúc vi hình
của vi mạch điện tử [35].
Vật liệu ở thang đo nano bao gồm lá nano, sợi, ống nano và hạt nano có những
tính chất đặc biệt do sự thu nhỏ kích thước và tăng diện tích bề mặt. Một trong số
đó, bạc kim loại kích thước nano thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Bạc nano
có vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất thủy tinh, gốm sứ, xúc tác và xử lý
các vấn đề nhiễm khuẩn do bạc nano có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm cao [30,
47]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chế tạo và ứng dụng bạc nano được thực
hiện.
Một số phương pháp được áp dụng để chế tạo bạc nano như khử hóa học, khử
quang học, sol-gel, chiếu xạ, [16-18, 21, 26]. Phương pháp chiếu xạ được sử dụng
khá phổ biến do sản phẩm của quá trình phân ly bức xạ nước như electron solvat (e
-
aq
) và gốc tự do hydro (

H) là tác nhân khử mạnh, khử bạc ion thành bạc nguyên tử
[39]. Trong quá trình chế tạo cần sử dụng các chất ổn định để bạc tạo thành ở kích
thước nano và hạn chế quá trình kết tụ. Nhiều nghiên cứu sử dụng polyme
polyvinyl alcohol (PVA), polyvinyl pyrrolidon (PVP), chitosan (CTS), alginat,
polyacrylate, [6, 13, 32, 39] làm chất ổn định hạt bạc nano. Sản phẩm tạo thành là
2


3

MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

1. Mục tiêu: Ứng dụng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 để chế tạo bạc nano
gắn trên SiO
2
(Ag nano/SiO
2
) để làm hoạt chất kháng nấm và vi khuẩn dùng trong
sơn nước.
2. Nội dung nghiên cứu:
- Chế tạo mẫu Ag nano/SiO
2
.
- Khảo sát liều xạ chuyển hóa bão hòa Ag
+

lại từng nguyên tử, phân tử để tạo nên vật liệu, thiết bị, hệ thống hữu ích [9].
Khoa học nano (nano science) là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện
tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu ở quy mô nguyên tử, phân tử và
đại phân tử. Tại các quy mô đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của
chúng tại các quy mô lớn hơn [9].
Vật liệu nano: là đối tượng nghiên cứu của hai lĩnh vực khoa học nano và
công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau [9].
Ngày nay, khoa học và công nghệ nano là một trong những thuật ngữ được sử
dụng rộng rãi do đối tượng nghiên cứu là vật liệu có kích thước trong khoảng 0,1-
100 nm và những tính chất mới khác hẳn với các tính chất của vật liệu khối đã
được nghiên cứu trước đó. Sự khác biệt về tính chất của vật liệu nano so với vật
liệu khối do hai hiệu ứng sau đây:
1.1.1.1. Hiệu ứng bề mặt
Khi vật liệu có kích thước nanomet thì tỉ số giữa số nguyên tử trên bề mặt và
tổng số nguyên tử của vật liệu gia tăng đáng kể, nghĩa là các số nguyên tử nằm trên
bề mặt sẽ chiếm một tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử. Chính vì điều này mà
5
các hiệu ứng liên quan đến bề mặt của vật liệu trở nên quan trọng, làm cho tính chất
của vật liệu có kích thước nanomet khác biệt so với vật liệu ở dạng khối. Ta xét ví
dụ sau đây : Nếu gọi n
s
là số nguyên tử nằm trên bề mặt của vật liệu được tạo thành
từ các hạt nano hình cầu, n là tổng số nguyên tử thì ta có mối liên hệ như sau
n
s
=4n
(2/3)6

Bảng 1.1 : Số nguyên tử và năng lượng bề mặt của hạt nano hình cầu [9].
Đường kính
hạt nano
(nm)
Số
nguyên
tử
Tỷ số nguyên tử
trên bề mặt (%)
Năng lượng bề
mặt (erg/mol)
Năng lượng bề
mặt/ Năng lượng
tổng (%)
10
30.000
20
4,08×10
11

7,6

đổi đột ngột và chúng khác hẳn so với những tính chất mà chúng ta đã biết trước
đó. Trong trường hợp này không có sự chuyển tiếp từ vật liệu khối đến vật liệu
nano. Ví dụ, vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men, trong lòng một đô
men, các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất
thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô
7
men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men
phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo
thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất
khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men
này tác động lên nguyên tử ở đô men khác. Theo nhiều nhà khoa học, thuật ngữ
nano chỉ áp dụng cho những vật có kích thước trong khoảng từ 0,1 (kích thước
nguyên tử hydro) đến 100 nm (kích thước của virus). Bảng 2 cho thấy giá trị độ dài
đặc trưng và một số tính chất của vật liệu [9, 3].
Bảng 1.2: Độ dài đặc trưng của một số tính chất của vật liệu [9]
Tính chất
Thông số
Thông số
Điện
Hiệu ứng đường ngầm
1-10
Từ
Giới hạn siêu thuận từ
5-100
Xúc tác
Hình học topo bề mặt
1-10

 Vật liệu nano sinh học
Nhiều khi người ta phối hợp hai cách phân loại với nhau, hoặc phối hợp hai
khái niệm nhỏ để tạo ra các khái niệm mới. Ví dụ, đối tượng chính của chúng ta
sau đây là "hạt nano kim loại" trong đó "hạt" được phân loại theo hình dáng, "kim
loại" được phân loại theo tính chất hoặc "vật liệu nano từ tính sinh học" trong đó cả
"từ tính" và "sinh học" đều là khái niệm có được khi phân loại theo tính chất [3].
1.2. Hạt nano kim loại
Hạt nano kim loại là một khái niệm để chỉ các hạt có kích thước nano được tạo
thành từ các kim loại. Người ta biết rằng hạt nano kim loại như hạt nano vàng, nano
bạc được sử dụng từ hàng nghìn năm nay. Nổi tiếng nhất có thể là chiếc cốc
Lycurgus được người La Mã chế tạo vào khoảng thế kỉ thứ tư trước công nguyên
và hiện nay được trưng bày ở bảo tàng Anh. Chiếc cốc đó đổi màu tùy thuộc vào
9
cách người ta nhìn nó. Nó có màu xanh lục khi nhìn ánh sáng phản xạ trên cốc và
có màu đỏ khi nhìn ánh sáng đi từ trong cốc và xuyên qua thành cốc. Các phép
phân tích ngày nay cho thấy trong chiếc cốc đó có các hạt nano vàng và bạc có kích
thước 70 nm và với tỉ phần mol là 14:1. Tuy nhiên, phải đến năm 1857, khi
Michael Faraday nghiên cứu một cách hệ thống các hạt nano vàng thì các nghiên
cứu về phương pháp chế tạo, tính chất và ứng dụng của các hạt nano kim loại mới
thực sự được bắt đầu. Khi nghiên cứu, các nhà khoa học đã thiết lập các phương
pháp chế tạo và hiểu được các tính chất thú vị của hạt nano. Một trong những tính
chất đó là màu sắc của hạt nano phụ thuộc rất nhiều vào kích thước và hình dạng
của chúng. Ví dụ, ánh sáng phản xạ lên bề mặt vàng ở dạng khối có màu vàng. Tuy
nhiên, ánh sáng truyền qua lại có màu xanh nước biển hoặc chuyển sang màu da
cam khi kích thước của hạt thay đổi. Hiện tượng thay đổi màu sắc như vậy là do
một hiệu ứng gọi là cộng hưởng plasmon bề mặt. Chỉ có các hạt nano kim loại,
trong đó các điện tử tự do có hấp thụ quang học ở vùng ánh sáng khả kiến làm cho

thuộc vào nhiều yếu tố nhưng các yếu tố về hình dạng, độ lớn của hạt nano và môi
trường xung quanh là các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất. Ngoài ra, mật độ hạt nano
cũng ảnh hưởng đến tính chất quang. Nếu mật độ loãng thì có thể coi như gần đúng
hạt tự do, nếu nồng độ cao thì phải tính đến ảnh hưởng của quá trình tương tác giữa
các hạt [9].
1.2.1.2. Tính chất điện
Tính dẫn điện của kim loại rất tốt hay điện trở của kim loại nhỏ nhờ vào mật
độ điện tử tự do cao trong đó. Đối với vật liệu khối, các lí luận về độ dẫn dựa trên
cấu trúc vùng năng lượng của chất rắn. Điện trở của kim loại đến từ sự tán xạ của
điện tử lên các sai hỏng trong mạng tinh thể và tán xạ dao động với nhiệt của nút
mạng. Tập thể các điện tử chuyển động trong kim loại dưới tác dụng của điện
trường (U) có liên hệ với nhau thông qua định luật Ohm: U = IR, trong đó R là điện
trở kim loại. Định luật Ohm cho thấy đường I-U là một đường tuyến tính. Khi kích
thước của vật liệu giảm dần, hiệu ứng lượng tử do giam hãm làm rời rạc hóa cấu
11
trúc Coulomb (Coulomb blockade) làm cho đường I-U bị nhảy bậc với giá trị mỗi
bậc sai khác nhau một lượng e/2C cho U và e/RC cho I, với e là điện tích của điện
tử, C và R là điện dung và điện trở kháng nối hạt nano với điện cực [9].
1.2.1.3. Tính chất từ
Các kim loại quý như vàng, bạc có tính nghịch từ ở trạng thái khối do sự bù
trừ cặp điện tử. Khi vật liệu thu nhỏ kích thước thì sự bù trừ trên sẽ không toàn diện
nữa và vật liệu có từ tính tương đối mạnh. Các kim loại có tính sắt từ trạng thái
khối như kim loại chuyển tiếp sắt, coban, niken thì khi kích thước nhỏ sẽ phá vỡ
trật tự sắt từ làm chúng chuyển sang trạng thái siêu thuận từ. Vật liệu ở trạng thái
siêu thuận từ có từ tính mạnh khi có từ trường và không có từ tính khi từ trường bị
ngắt đi, tức là từ dư và lực kháng từ hoàn toàn bằng không [9, 3].
1.2.1.4. Tính chất nhiệt

lượng vật liệu nano còn nhiều hạn chế. Trong kỹ thuật nghiền vật liệu được chuẩn
bị ở dạng bột sẽ được trộn lẫn với những viên bi được làm từ những vật liệu rất
cứng và cùng để trong một cái cối. Máy nghiền có thể là nghiền lắc, nghiền rung
hay là nghiền quay (còn gọi là nghiền kiểu hành tinh). Trong kỹ thuật này các viên
bi cứng sẽ va chạm với nhau và phá vỡ vật liệu bột tới kích thước nano, kết quả là
ta thu được vật liệu nano không chiều (hạt nano).
 Phương pháp từ dưới lên hình thành vật liệu nano từ các nguyên tử hoặc từ
các ion. Phương pháp này được hình thành và phát triển rất mạnh mẽ nhờ tính linh
động của phương pháp và chất lượng của sản phẩm thu được có nhiều ưu điểm hơn
so với các phương pháp khác. Phần lớn các vật liệu nano mà chúng ta dùng ngày
nay như bình sữa nano, máy giặt, máy điều hòa, màn hình LCD, hay tủ lạnh đều
được chế tạo từ phương pháp này. Phương pháp từ dưới lên có thể dùng phương
pháp vật lý, hóa học hay là sự kết hợp cả hai phương pháp hóa-lý.
Các hạt nano kim loại như vàng, bạc, bạch kim, được chế tạo chủ yếu theo
kiểu “từ dưới lên” theo nguyên tắc các ion kim loại như Ag
+
, Au
3+
, Pt
2+
bị khử
thành dạng nguyên tử Ag
0
và Au
0
, Pt
0
. Các nguyên tử này sẽ liên kết với nhau tạo
thành tụ hợp nhỏ rồi phát triển thành hạt nano [4].
1.2.2.1. Phƣơng pháp ăn mòn laser

+
, Au
3+
thành Ag
0
, Au
0
ở đây là các chất hóa học
như citric acid, vitamin C, sodium borohydride NaBH
4
, ethanol (cồn), ethylene
glycol (phương pháp sử dụng các nhóm rượu đa chức như thế này còn có một cái
tên khác là phương pháp polyol) [18, 14]. Để các hạt phân tán tốt trong dung môi
mà không bị kết tụ thành đám, người ta sử dụng phương pháp tĩnh điện để làm cho
bề mặt các hạt nano có cùng điện tích và đẩy nhau hoặc dùng phương pháp bao bọc
chất hoạt hóa bề mặt. Phương pháp tĩnh điện đơn giản nhưng bị giới hạn bởi một số
chất khử. Phương pháp bao phủ phức tạp nhưng vạn năng hơn, hơn nữa phương
pháp này có thể làm cho bề mặt hạt nano có các tính chất cần thiết cho các ứng
dụng. Các hạt nano Ag, Au, Pt, Pd, Rh… với kích thước từ 10 đến 100 nm có thể
được chế tạo từ phương pháp này [49].
1.2.2.3. Phƣơng pháp khử sinh học
Dùng vi khuẩn là tác nhân khử ion kim loại. Người ta cấy vi khuẩn vào trong
dung dịch có chứa ion bạc để thu được hạt nano bạc. Phương pháp này đơn giản,
thân thiện với môi trường [8].
1.2.2.4. Phƣơng pháp khử hóa lý
Đây là phương pháp kết hợp giữa hóa học và vật lý, dùng điện phân kết hợp
với siêu âm để tạo hạt nano. Phương pháp điện phân thông thường chỉ có thể tạo
được màng mỏng kim loại. Trước khi xảy ra sự hình thành màng, các nguyên tử
kim loại sau khi được điện hóa sẽ tạo các hạt nano bám lên điện cực âm. Lúc này
người ta tác dụng một xung siêu âm đồng bộ với xung điện phân thì hạt kim loại

15
Những tính chất của vật chất nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
nano có thể được quan sát và khảo sát ở quy mô vi mô hoặc vĩ mô và được ứng dụng
để phát triển các nguyên liệu, dụng cụ với những chức năng và tính năng mới. Nhiều
lĩnh vực của công nghệ nano vẫn còn trong giai đoạn phát triển ban đầu, nhưng một
số ứng dụng đã được thương mại hoá một cách thành công, nhất là trong lĩnh vực
của vật liệu polyme. Công nghệ nano cũng đã xâm nhập vào ngành sản xuất vật
liệu công nghiệp. Một số ứng dụng cụ thể như sau:
Y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano, các ứng dụng hạt nano để
dẫn truyền thuốc (drug delivery) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong
những ví dụ về ứng dụng của hạt nano. Trong ứng dụng này, thuốc được liên kết
với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở
một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan
mong muốn.
Bằng cách kết hợp các chất độn nano tính năng cao, ví dụ bentonit cỡ nano đã
biến đổi bề mặt, công nghệ nano cho phép sản xuất các vật liệu có tính ổn định cơ
học ở nồng độ chất độn rất thấp. Điều này tạo ra lợi thế rõ ràng về mặt trọng lượng,
nhất là khi áp dụng trong sản xuất các phụ tùng ô tô. Khác với các chất độn thông
thường, nếu sử dụng chất độn bentonit cỡ nano với lượng rất nhỏ thì có thể tăng
tính ổn định nhiệt của polyamit thêm khoảng 50
o
C. Nếu chỉ bổ sung các chất độn
nano ở mức 2% trọng lượng của vật liệu composit thì có thể giảm 50% độ thẩm
thấu đối với oxy, CO
2
và hơi nước. Kích thước hạt đặc biệt mịn của các chất độn
bentonit cỡ nano, cho phép tạo ra các lớp vật liệu silicat vô cơ 3 chiều, trong chất

10
5s
1
, hoá trị +1, +2, phổ biến là hoá trị +1,
bán kính nguyên tử 1,442A
o
(0,1 nm), thế ion hoá (Ag  Ag
+
) = 7,576 eV, thế điện
cực chuẩn E
o
( Ag
+
+ e
-
 Ag
o
) = -1,8V [5].
Bạc nano là một trong những chất được tập trung nghiên cứu do khả năng
kháng khuẩn rất tốt, thân thiện môi trường, tương hợp sinh học…[32]. Với sự phát
17
triển của công nghệ nano, các nhà khoa học hướng tới việc sử dụng các hạt bạc có
kích thước cực nhỏ để diệt khuẩn. Sử dụng công nghệ nano sẽ làm tăng đặc tính sát
khuẩn, khử trùng của bạc do các hạt nano bạc có kích thước từ 1-100 nm dễ dàng
xâm nhập vào các tế bào làm ức chế sự sinh trưởng và tiêu diệt vi khuẩn [41]. Thực
tế đã chứng minh bạc nano có khả năng kháng 650 loài gồm vi khuẩn, virus và vi
nấm [6].

CFU/ml) của keo bạc nano ổn định trong PVP lần lượt là 9 và 4 mm, xem hình 1.1.
Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của bạc nano đối với S. aureus và E. coli là 5 ppm
và 10 ppm. S. aureus và E. coli hoàn toàn bị ức chế tại nồng độ bạc nano 50 và 100
ppm. Các bề mặt tế bào S. aureus và E. coli đã bị bạc nano làm phá vỡ.

Hình 1.1: Hoạt tính kháng khuẩn của bạc nano ổn định trong PVP, nghiên cứu trên
S. aureus và E. coli [11]
19

Hình 1.2: Ảnh TEM của S. aureus và E. coli. Tế bào bình thường (A) và tế bào (B)
nuôi trên Agar chứa dung dịch bạc nano (10 ppm) [11].
Lee et al. [24], đã khảo sát khả năng kháng khuẩn của 2 mẫu keo bạc nano với
kích thước hạt bạc lần lượt là 2-3 nm và 30 nm. 1ml dung dịch môi trường vi khuẩn
mật độ 1,2-1,3 × 10
5
CFU/ml được cho tiếp xúc 5, 10 và 30 phút với 5ml dung dịch
keo bạc nồng độ 3ppm. Kết quả trên bảng cho thấy dung dịch keo bạc với đường
kính hạt 2-3 nm có hiệu quả kháng khuẩn (99,99%), 30 nm đạt hiệu suất kháng
khuẩn 31,25% đối với E. coli và 47,65% đối với S. aureus. Tác giả cho rằng keo
bạc với hạt bạc kích thước nhỏ hơn thì có tính kháng khuẩn tốt hơn.

20
5
1,3 × 10
5

KPH
-
<10
99,99
15
1,4 × 10
5

KPH
-
<10
99,99
30
1,6 × 10
5

1,1 × 10
5
31,25
<10

E.
coli

99,99
KPH, không phát hiện
 Hoạt tính kháng khuẩn của bạc nano liên quan với nhiều yếu tố
Sondi et al. [42] cho rằng sự ức chế vi khuẩn phụ thuộc vào nồng độ bạc nano
cũng như CFU vi khuẩn được sử dụng trong các thử nghiệm. Tác giả khảo sát sự
thay đổi OD của môi trường chứa vi khuẩn E. coli (mật độ 10
5
CFU/ml) khi bổ
sung 10, 50, và 100 μg cm
-3
bạc nano (kích thước hạt trung bình 12,3 nm, độ lệch
chuẩn 4,2 nm). Tại tất cả các nồng độ nghiên cứu, bạc nano làm giảm tốc độ tăng
trưởng của E. coli, nồng độ bạc nano tăng thì hiệu quả ức chế càng tăng. Nồng độ
21
50-60 μg cm
-3
gây ức chế 100% tốc độ tăng trưởng vi khuẩn. Khả năng gây ức chế
tốc độ tăng trưởng vi khuẩn phụ thuộc vào số lượng các tế bào áp dụng trong thử
nghiệm. Nếu sử dụng 10
4
CFU/ml, bạc nano nồng độ 20 μg cm
-3
ngăn chặn hoàn
toàn sự tăng trưởng của vi khuẩn.

Hình 1.3: Đường cong tăng trưởng của 10
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status