ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT THỊ THU HẠNH CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2000
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
đoạn 1954 - 1975
16
1.2.5.
Chế định kết hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam giai
đoạn từ năm 1975 đến nay
20
Chương 2: Chế định kết hôn Theo luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 2000
25
2.1.
Kết hôn và các điều kiện kết hôn
25
2.1.1.
Khái niệm kết hôn
25
2.1.2.
Điều kiện kết hôn
28
2
2.1.2.1.
Điều kiện về nội dung
28
2.1.2.2.
Đăng ký kết hôn
43
2.2.
Hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý
48
gia đình Việt Nam năm 2000
83
3.3.
Kiến nghị hoàn thiện
87
KẾT LUẬN
94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95 3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thống kờ của Sở Tư phỏp Hà Nội về kết hụn cú yếu tố nước ngoài
năm 2005
69
3.1
Số lượng trẻ đăng ký khai sinh có cha mẹ chưa hoặc không đủ điều
kiện đăng ký kết hôn tại Hà Nội
dưỡng tinh thần, đem kinh nghiệm truyền lại cho con cháu.
Xét về mặt xã hội thì gia đình là tế bào, là nền tảng của xã hội. Gia
đình là một trong các tổ chức cơ sở để thực hiện chủ trương chính sách và
pháp luật của nhà nước về tất cả các mặt kinh tế - chính trị - gia đình - văn
hóa - dân sự - môi trường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời luôn nhấn mạnh vai trò của gia đình:
"Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt; gia
đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt" [29].
Hôn nhân được coi là phương thức để phát triển gia đình và kết hôn
chính là nền tảng của hôn nhân. Khi một người đàn ông và một người đàn bà
liên kết với nhau bằng việc đăng ký kết hôn trên "nguyên tắc hoàn toàn bình
đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau
suốt đời…" thì một gia đình được thiết lập. Nhà nước và nhân dân ta luôn coi
trọng đời sống hôn nhân và gia đình. Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận: "Gia
đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ chế độ hôn nhân và gia đình. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng " (Điều 64).
5
Ngày 9/6/2000, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 1/1/2001. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 bao gồm
nhiều chế định khác nhau, mỗi chế định đều có những vị trí và vai trò quan
trọng điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Kết hôn là một chế định quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình.
Kết hôn tạo cơ sở hình thành gia đình, tế bào của xã hội. Pháp luật đã quy
định điều kiện kết hôn, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, trình
tự kết hôn và đang từng bước hoàn chỉnh hơn nữa về chế định này. Thực tiễn
gần mười năm qua cho thấy việc áp dụng chế định kết hôn trong Luật Hôn
- Phân tích nội dung, ý nghĩa của chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam năm 2000; đồng thời tìm ra những vướng mắc, bất cập
trong quá trình áp dụng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 2000.
- Tìm hiểu thực trạng kết hôn ở Việt Nam trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại trong quá
trình áp dụng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 và hoàn thiện pháp luật về chế định này.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chế định kết hôn là một vấn đề rất rộng và phức tạp. Trong khuôn khổ
một luận văn tốt nghiệp cao học, đề tài chỉ tập trung vào phân tích chế định
kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
Đề tài bao gồm các vấn đề cơ bản:
- Khái niệm chế định kết hôn.
- Sự phát triển chế định kết hôn trong hệ thống pháp luật về hôn nhân
và gia đình ở Việt Nam.
7
- Nội dung chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp khoa học duy vật
biện chứng: phương pháp thống kê, quy nạp, so sánh đối chiếu… để phân tích
các nội dung liên quan đến chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định kết hôn trong
tình hình thực tế hiện nay.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo
hữu ích đối với những người nghiên cứu, học tập về chế định kết hôn theo
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, giúp người đọc có cái nhin sâu hơn về
- Mang tính chất nhóm, mỗi chế định có đặc điểm riêng nhưng đều có
mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau.
Một chế định pháp luật không bao giờ tạo nên được một ngành luật
mà cần phải có nhiều chế định pháp luật khác nhau. Sự tồn tại của nhiều chế
định pháp luật khác nhau đó đòi hỏi chúng phải có sự liên kết với nhau. Có
vậy mới tạo nên một ngành luật hoàn chỉnh. Vì thế, việc xác định tính chất
chung của nhóm quan hệ xã hội là yếu tố quan trọng để xây dựng một chế
định pháp luật, làm cơ sở để tạo nên một ngành luật.
9
- Là hệ thống các quy phạm pháp luật bao gồm những quy tắc xử sự
chung do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định.
Chế định pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật vì vậy nó phải
mang đặc điểm của quy phạm pháp luật.
Trước hết nó phải là những quy tắc xử sự chung. Nói đến xử sự
chung là có thể hiểu ngay nó không phải dành cho một cá nhân, một tổ chức
đơn lẻ nào mà nó phải dành cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia trong quan hệ
xã hội mà quy phạm pháp luật đó điều chỉnh. Những "khuôn mẫu" xử sự
chung đó tuy có những điểm riêng nhưng chúng thống nhất với nhau và đều
do Nhà nước ban hành. Nhà nước áp đặt ý chí của mình bằng các quy phạm
pháp luật đó. Theo đó, các đối tượng chịu sự điều chỉnh của nhóm quan hệ xã
hội nào sẽ có những quyền, nghĩa vụ pháp lý tương ứng với nhóm quan hệ xã
hội đó. Nhà nước đảm bảo cho những quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện
bằng quyền lực của Nhà nước. Đây chính là bản chất của pháp luật.
- Điều chỉnh nhóm các quan hệ xã hội tương đối giống nhau. Nói đến
nhóm quan hệ xã hội tức là nói đến nhiều quan hệ xã hội. Không phải quan hệ
nào cũng giống nhau. Ví dụ như quan hệ hôn nhân và gia đình bao gồm nhiều
quan hệ khác nhau như quan hệ giữa hai vợ - chồng, quan hệ giữa cha mẹ và
con cái, giữa anh chị em ruột thịt Mỗi quan hệ đều có những điểm riêng
nhưng chúng lại có điểm chung nhất đều là quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn
vợ và chồng như quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa vợ chồng …
Tất cả những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
được Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh là quan hệ pháp Luật Hôn nhân
và gia đình. Tuy rằng không phải lúc nào cũng chỉ giới hạn sự điều chỉnh bởi
quan hệ giữa các thành viên của một gia đình mà còn điều chỉnh cả những
quan hệ đã từng có quan hệ với gia đình đó. Ví dụ như không phải hai vợ
chồng sau khi ly hôn thì mọi quan hệ giữa hai vợ chồng chấm dứt mà họ vẫn
có trách nhiệm, nghĩa vụ với con chung… Mục đích của hôn nhân là nhằm
11
xây dựng gia đình, quan hệ vợ chồng lâu dài và bền vững dựa trên sự yêu
thương giữa vợ chồng. Để đạt được điều đó đòi hỏi vợ chồng phải yêu
thương, chung thủy, quý trọng và chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, có
những lúc, quan hệ vợ chồng có mâu thuẫn không thể giải quyết được và dẫn
họ đến ly hôn. Dù là kết hôn hay ly hôn thì yếu tố tình cảm gắn bó giữa các
chủ thể phần lớn quyết định việc xác lập, tồn tại hay chấm dứt quan hệ hôn
nhân và gia đình. Chính những sự kiện như kết hôn, ly hôn, các quan hệ huyết
thống hay nuôi dưỡng được gắn bởi yếu tố tình cảm đã khiến các quan hệ
pháp luật hôn nhân và gia đình trở nên đặc biệt so với các quan hệ khác.
Xét về mặt lý thuyết, quan hệ hôn nhân và gia đình không có yếu tố
hàng hóa và ngang giá mà mang tính chất bền vững lâu dài. Đây là lý do
không áp dụng thời hiệu kiện trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Quan
hệ hôn nhân và gia đình cũng bao gồm hai nhóm là quan hệ nhân thân và tài
sản nhưng chúng khác so với quan hệ pháp luật dân sự thông thường. Nếu
quan hệ pháp luật dân sự thông thường có nội dung chính là quan hệ tài sản
thì quan hệ hôn nhân và gia đình có nội dung chính là quan hệ nhân thân. Hai
nhóm quan hệ trong Luật Hôn nhân và gia đình tồn tại độc lập với nhau.
Chẳng hạn, khi hai vợ chồng ly hôn với nhau, quan hệ nhân thân giữa vợ
chồng chấm dứt nhưng quan hệ tài sản không hẳn đã chấm dứt. Giữa họ lúc
đó tồn tại quan hệ cha - con hoặc quan hệ mẹ - con, là quan hệ cấp dưỡng
Bộ luật quy định khá đầy đủ những vấn đề của thời đại đó như: Danh lệ, cấm
vệ, quân lính, điền sản, tăng bổ hương hỏa, gian thông, đạo tặc… Trong đó
quy định 60 điều về Hộ hôn (hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân và gia đình và những
tội phạm trong lĩnh vực này).
- Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Lúc bấy giờ Gia
Long lên ngôi ra lệnh soạn bộ luật mới để có cơ sở về pháp luật. Tổng trấn
Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đã theo lệnh vua chủ biên bao gồm 22 quyển và
398 điều và sau đó được vua Gia Long cho ban hành chính thức vào năm 1815.
13
Bộ luật gần như lấy nguyên mẫu là luật nhà Thanh và được sử dụng trong
suốt thời kỳ nhà Nguyễn.
Cả hai bộ luật đều đã chú ý đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Đây là
sự quan tâm của giai cấp thống trị trong xã hội nhằm duy trì sự thống trị của
vương triều, củng cố trật tự xã hội và chế độ gia đình gia trưởng trong xã hội
phong kiến thời xưa.
Vấn đề kết hôn đã được hai bộ luật này đề cập tới gồm những quy
định về điều kiện kết hôn và hình thức kết hôn.
* Về điều kiện kết hôn
Kết hôn phải có sự đồng ý của hai bên cha mẹ. Cả hai bộ luật đều quy
định việc kết hôn chỉ được thực hiện khi có cha mẹ hoặc một người tôn thuộc
đứng đầu làm chủ hôn (Điều 413 Quốc triều hình luật và Điều 94 Hoàng Việt
luật lệ). Có thể coi đây là điều cơ bản nhất, loại trừ hẳn quyền tự do kết hôn
của hai bên nam nữ. Điều này xuất phát từ quan điểm phong kiến cho rằng
hôn nhân là quan hệ xuất phát từ quyền lợi gia đình, dòng họ nhằm giao hiếu
giữa hai dòng họ và kế truyền dòng họ tông tộc. Tuy nhiên, pháp luật cũng
quy định trường hợp: việc kết hôn có thể do hai bên nam nữ quyết định vì họ
chỉ còn bà con xa hoặc trong trường hợp họ ở xa nhà.
Kết hôn không vi phạm những điều mà pháp luật cấm. Pháp luật thời
kỳ này quy định cấm kết hôn rất khắt khe nhằm mục đích bảo vệ vương
mang tính chất long trọng cùng với sự cáo tổ trước từ đường hai họ là bằng
chứng công khai và chắc chắn cho việc hứa hôn. Quốc triều hình luật cũng
quy định "gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt
80 trượng Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước" (Điều 315 -
Quốc triều hình luật).
Khác với Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ quy định hình thức
của sự đính hôn là các "hôn thư" hoặc tư ước. Đó là lời cam kết của hai người
chủ hôn (Điều 94 Hoàng Việt luật lệ). Hoàng Việt luật lệ cũng quy định nếu
15
đã hứa hôn, có hôn thư mà đổi ý, chủ hôn nhà gái bị phạt 50 roi, người con
gái vẫn phải về nhà chồng đã hứa gả. Nhà Nguyễn cũng quy định dù không
"hôn thư", nhưng nhà gái đã nhận sính lễ cũng có giá trị hứa hôn. Theo Điều
108 Hoàng Việt luật lệ quy định: 5 năm sau khi nộp sính lễ, đàng gái không
phạm lỗi mà đàng trai không cử hành lễ thân nghinh (lễ rước dâu) thì nhà gái
được phép xin quan cấp chấp chiếu cho phép kết hôn với người khác.
Về nghi lễ kết hôn, luật nhà Nguyễn không quy định cụ thể song luật
nhà Lê thì lại rất chú trọng quy định về hình thức giá thú. Hôn nhân theo luật
nhà Lê gồm 4 lễ: lễ nghị hôn (nhờ mối lái đi lại bàn định), lễ định thân (mang
lễ vật vấn danh đến nhà gái), lễ nạp trưng (mang sính lễ dẫn cưới đến nhà
gái), lễ thân nghinh (rước dâu). Nghi lễ kết hôn thời kỳ này đã phản ánh rất rõ
phong tục tập quán của người Việt Nam ta và cho đến ngày nay, nhiều nghi lễ
vẫn còn được gìn giữ thực hiện.
Có thể thấy, hai bộ luật đã có nhiều điểm tiến bộ, tuy Hoàng Việt luật
lệ không đề cao địa vị của người phụ nữ bằng Quốc triều hình luật, song so
với lúc bấy giờ, vai trò của người con gái - người phụ nữ đã được xã hội ghi
nhận tốt hơn.
Ngoài hai bộ luật chính là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ,
thời kỳ phong kiến còn xây dựng nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định
về vấn đề kết hôn mà chưa được tập hợp, thống nhất thành một chế định hoàn
định này thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn so với pháp luật thời Lê, thời Nguyễn.
Nhưng bên cạnh sự ưng thuận của đôi nam nữ khi kết hôn, pháp luật thời kỳ
này vẫn ghi nhận sự ưng thuận của cha mẹ, của người thân thích hay người đỡ
đầu và cũng coi đó là yếu tố cần thiết bảo đảm cho hôn nhân được coi là hợp
pháp, không kể người kết hôn đã thành niên hay chưa thành niên. Điều 77 dân
luật Bắc Kỳ quy định "phàm con cái đã thành niên hay chưa thành niên,
không khi nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được". Cùng với các
quy định về các điều kiện kết hôn, cả ba bộ luật trên còn quy định một số
17
trường hợp cấm kết hôn: Cấm lấy người thân thuộc về trực hệ và một số
người thuộc bàng hệ (anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ
khác cha, chị dâu, em dâu, anh chồng, em chồng… (Điều 74 dân luật Bắc
Kỳ); cấm kết hôn trong thời kỳ cư tang - khi có tang cha mẹ hoặc tang chồng
là hai mươi bảy tháng, tang vợ là mười hai tháng (Điều 84 dân luật Bắc Kỳ).
Về nghi lễ kết hôn có nhiều điểm giống quy định của pháp luật thời kỳ
phong kiến, nhưng pháp luật thời kỳ này có điểm mới là "việc kết hôn phải
được khai với chính quyền (hộ lại) thì mới có giá trị" (Điều 69 dân luật Bắc
Kỳ). Theo dân luật Trung Kỳ, nghi lễ kết hôn gồm: ước hôn (lễ hỏi) và kết
hôn (hôn lễ). Hôn lễ được cử hành theo phong tục tập quán. Trước hôn lễ phải
thi hành thủ tục công bố trong thời hạn tám ngày tại cư sở của cả nam lẫn nữ
và sau đó đăng ký vào nhân thế bộ địa phương. Nếu không đăng ký thì coi
như việc kết hôn của hai vợ chồng đó không có giá trị pháp lý.
Như vậy, quy định của pháp luật về vấn đề kết hôn tuy đã được cả ba
bộ luật sửa đổi theo hướng tiến bộ hơn như ghi nhận sự "tự nguyện": việc kết
hôn phải do hai bên nam nữ bằng lòng (Điều 76 dân luật Bắc Kỳ và dân luật
Trung Kỳ), công bố việc kết hôn…. Nhưng do ảnh hưởng của chế độ phong kiến
nên nhiều quy định về vấn đề kết hôn của pháp luật thời kỳ này giống với pháp
luật thời kỳ phong kiến, nhất là các quy định cấm kết hôn, nghi lễ kết hôn
Ba bộ luật trên được người Pháp xây dựng nhằm cai trị Việt Nam.
ngay sau khi có án tuyên ly dị, nếu dẫn chứng rằng mình không có thai hoặc
đương có thai" (Điều 4), "cha mẹ không có quyền xin giam cầm con cái"
(Điều 8). Nguyên tắc tự do kết hôn, tự do lựa chọn hôn nhân được đề cao.
Bên cạnh đó Sắc lệnh còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: quá đơn giản,
thiếu những quy định hết sức quan trọng như điều kiện về độ tuổi kết hôn…
quy định về việc kết hôn còn có điểm hạn chế: " … người vợ góa chỉ có thể
lấy chồng sau 10 tháng kể từ ngày chồng chết…" (Điều 3). Mặt khác, Sắc
lệnh mới chỉ đưa ra một vài quy định về xóa bỏ cấm kết hôn trong thời kỳ
tang chế, kết hôn không cần phải có sự ưng thuận của các bậc tôn thuộc.
19
Như vậy những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về kết hôn
trong Sắc lệnh số 97-SL tuy đã có nhiều điểm tiến bộ nhưng do văn bản pháp
luật này chỉ mang tính chất "tạm thời" nên các quy định về kết hôn mới chỉ
được xem xét, ghi nhận ở mức độ đơn giản, còn nhiều thiếu sót, không đáp
ứng được yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới. Các quy phạm điều
chỉnh về vấn đề kết hôn chưa được tập hợp thành nhóm riêng, chưa tạo thành
chế định pháp luật cụ thể.
1.2.4. Chế định kết hôn trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam giai đoạn 1954-1975
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07 tháng 5 năm 1954, theo Hiệp
định Giơ-ne-vơ, đất nước ta tạm thời vẫn còn bị chia cắt thành hai miền với
hai nhiệm vụ cách mạng khác nhau. Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ xây
dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân
dân, đấu tranh thống nhất nước nhà.
- Ở miền Bắc: Dưới tác động của cơ chế kinh tế mới, các quan hệ
trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình có nhiều thay đổi. Sắc lệnh số 97-
SL đã hoàn thành vai trò lịch sử, tuy đã góp phần vào việc xóa bỏ chế độ hôn
nhân và gia đình phong kiến lạc hậu nhưng không đáp ứng được tiến trình
phát triển của cách mạng. Do đó, việc ban hành một đạo luật mới về hôn nhân
quy định cấm kết hôn khi để tang, cấm người đàn bà góa tái giá trong hạn 30
ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật… thì Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1959 đã bãi bỏ những quy định không còn phù hợp ấy: "việc để
tang không cản trở việc kết hôn" (Điều 7); "đàn bà góa có quyền tái giá"
(Điều 8). Luật quy định rõ ràng hình thức kết hôn: "việc kết hôn phải được Ủy
ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người con trai hoặc bên người con gái
công nhận và ghi vào sổ kết hôn". Đây là điểm mới của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1959, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta là việc nam nữ kết hôn
phải được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước công nhận.
21
Những quy định trên của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 phù
hợp với điều kiện kinh tế-xã hội mới, đáp ứng được sự nghiệp giải phóng phụ
nữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nam nữ khi kết hôn, góp phần xóa
bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xây dựng chế
độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa. Các quy định của Luật về vấn
đề kết hôn đã thể hiện rõ bản chất của hôn nhân trong chế độ mới, tuân thủ
các điều kiện này chính là đảm bảo cho việc xác lập hôn nhân tiến bộ, hạnh
phúc và bền vững.
- Ở miền Nam: Trong thời kỳ này đế quốc Mỹ và chế độ ngụy quyền
Sài Gòn đã ban hành các văn bản pháp luật áp dụng trong các quan hệ hôn
nhân và gia đình:
+ Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm (Luật số 1-59).
+ Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng
đồng (Sắc luật số 15/64).
+ Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chính quyền ngụy Sài Gòn (Bộ
Dân luật năm 1972).
Vấn đề kết hôn cũng đã được các văn bản này quy định có nhiều điểm
tiến bộ, bãi bỏ các quy định không phù hợp với giai đoạn này. Cả ba văn bản
pháp luật này đã đề cập đến các điều kiện về nội dung và điều kiện về hình
yết trong vòng mười ngày liền. Bộ Dân luật năm 1972 cũng quy định về việc
"xuất trình bản toàn sao giấy khai sinh được cấp lâu nhất là ba tháng nếu cấp
ở Việt Nam và sáu tháng nếu cấp ở ngoại quốc" (Điều 124)… Những quy
định về hình thức kết hôn trên có thể nói là những quy định thể hiện rất rõ yếu
tố quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc kết hôn không chỉ là sự
ghi nhận của gia đình như trước kia mà việc kết hôn đòi hỏi bắt buộc phải có
sự ghi nhận của chính quyền địa phương. Điều này cũng chứng tỏ những quy
định của luật pháp Việt Nam ngày càng chặt chẽ hơn.
Cả ba văn bản luật này vẫn quy định một số vấn đề về kết hôn dựa vào
phong tục, tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến: quy định độ tuổi kết hôn
23
tối thiểu khi kết hôn rất thấp (nam tròn 18 tuổi, nữ tròn 16 tuổi thì được kết
hôn; trường hợp đặc biệt nguyên thủ quốc gia có quyền đặc cách cho phép hạ
thấp tuổi và đặc cách cho miễn tuổi kết hôn); phạm vi ngăn cấm quan hệ kết
hôn giữa những người có quan hệ thân thuộc hoặc thích thuộc vẫn còn rất
rộng (phạm vi 5 đời); ba văn bản luật vẫn còn quy định cấm người vợ khi hôn
nhân chấm dứt trước pháp luật đều phải chờ đợi sau hạn 300 ngày mới được
quyền kết hôn với người khác, trừ trường hợp chứng minh rằng mình không
có thai khi chồng chết hoặc khi ly hôn với chồng; mở rộng ngăn cấm kết hôn
khi mắc các bệnh mà luật dự liệu (hủi, hoa liễu, tâm thần…).
Mặc dù đã có những điểm tiến bộ như ghi nhận sự tự nguyện, ghi nhận
chế độ hôn nhân một vợ một chồng song nhìn chung cả ba văn bản luật được
áp dụng ở miền Nam thời kỳ này vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa
vợ và chồng, vẫn bảo vệ quyền gia trưởng trong gia đình… Điểm quan trọng
nhất là cả ba bộ luật đều là văn bản của chính quyền Ngụy Sài Gòn, vì thế vẫn
là công cụ của Nhà nước phản động, đi ngược với lợi ích của nhân dân lao
động Việt Nam.
Giai đoạn 1954 - 1975 là một giai đoạn có hoàn cảnh lịch sử đặc biệt,
pháp luật thời kỳ này điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình có sự khác