ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ VĂN MINH PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: MÔ
̣
T SÔ
́
VÂ
́
N ĐÊ
̀
CHUNG VÊ
̀
PHÂN CHIA DI SA
̉
N
THƯ
̀
A KÊ
́
5
1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 5
1.1.1. Khái niệm thừa kế 5
2.3. Phân chia theo di chúc 45
2.3.1. Phân chia di sản trong trường hợp có di tă
̣
ng 45
2.3.2. Phân chia di sa
̉
n t hư
̀
a kế theo di chu
́
c trong trươ
̀
ng hơ
̣
p co
́
di
sản dng vào việc thờ cúng 46
2.3.3. Phân chia di sa
̉
n thư
̀
a kế theo di chu
́
c trong trươ
̀
ng hơ
̣
p co
́
2.5. Hạn chế phân chia di sản 54
2.6. Thư
̣
c trạng a
́
p du
̣
ng pha
́
p luâ
̣
t về phân chia di sa
̉
n thư
̀
a kế 56
2.6.1. Phân chia di sa
̉
n la
̀
quyền sư
̉
du
̣
ng đất va
̀
nha
̀
ơ
̉
m xa
́
c lâ
̣
p quyền sơ
̉
hư
̃
u cho ngươ
̀
i thư
̀
a kế va
̀
như
̃
ng
ngươ
̀
i hươ
̉
ng di sa
̉
n thư
̀
a kế khác 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
2
nhân, việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp Tòa án là những
yếu tố làm cho các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài,
ảnh hưởng không tốt đến truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có từ lâu đời của
dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, một trong những khó khăn vướng mắc lớn khi áp
dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp thừa kế chính là vấn
đề phân chia di sản thừa kế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng
tỏ một số nội dung về "Phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ Luật Dân
sự năm 2005" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học. Đây là một đề tài có ý
nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Do tầm quan trọng của vấn đề thừa kế nên nội dung này đã được rất
nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, nghiên cứu. Tiến sĩ Phng Trung
Tập đã giới thiệu với bạn đọc tác phẩm "Thừa kế theo pháp luật của công
dân Việt Nam từ năm 1945 từ trước đến nay"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện
là tác giả của cuốn "Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật dân sự
Việt Nam"; Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Thanh - Trần Hữu Biền có tác
phẩm "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế" Tuy nhiên, tất cả các công trình
nghiên cứu trên có phạm vi rộng, mang tính toàn diện, bao quát cả chế định
pháp luật về thừa kế, và đưa ra những kiến nghị để ngày càng hoàn thiện
hơn hệ thống pháp luật về thừa kế. Riêng với đề tài "Phân chia di sản thừa
kế theo quy định Bộ Luật Dân sự năm 2005", tác giả tập trung đi sâu
nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của phân chia di sản thừa kế
được quy định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra
một số kiến nghị mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những
quy định về nội dung này trong Luật.
4
về pháp luật. Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về thừa kế
trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập.
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài ra, tác giả còn sử
dụng một số phương pháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp
logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp 5
Chương 1
MÔ
̣
T SÔ
́
VÂ
́
N ĐÊ
̀
CHUNG VÊ
̀
PHÂN CHIA
DI SA
̉
N THƯ
̀
A KÊ
́
Ngoài ra, cũng trong chế độ thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ, các con không
thuộc thị tộc của người cha, do đó khi mà con cái chết, tài sản mà chúng
làm ra cũng không thuộc về thị tộc, bộ lạc của người cha mà thuộc về thị
tộc, bộ lạc của người mẹ.
Như vậy, chế độ thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã tạo ra mối quan hệ về
quyền kế thừa, hưởng dụng sản của các con và những người thân thuộc về
huyết thống trong thị tộc, bộ lạc của người mẹ, không thừa nhận quyền kế
thừa, hưởng dụng tài sản của các con theo người cha. Ngược lại, nếu người đàn
ông chết đi thì tài sản của họ làm ra lại thuộc thị tộc mà người mẹ của người
cha đó là thành viên và những người thân thuộc về huyết thống trong thị tộc, bộ
lạc này được kế thừa, hưởng dụng các tài sản đó.
Thừa kế nguyên thủy trong xã hội thị tộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã đặt nền
móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của quan hệ thừa kế
tài sản theo huyết thống, cho d theo huyết thống của người mẹ. Có thể nhận
thấy rằng, d cho xã hội loài người mới chỉ phát triển ở trình độ sơ khai, quan
hệ kinh tế cơ bản cũng chưa phát triển rõ nét, nhưng trong một chừng mực
nào đó khi tài sản đã có sự dư thừa, thì việc kế thừa, hưởng dụng tài sản do
các thành viên của thị tộc, bộ lạc làm ra khi họ chết đã thể hiện như một phạm
tr kinh tế, một tất yếu của xã hội. Cng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn, không những bảo đảm
cho sinh hoạt và đời sống của cộng đồng thị tộc, bộ lạc, mà còn có nhiều của
cải dư thừa. Khi mà tư liệu sản xuất đóng vai trò quan trọng trong quá trình
làm ra của cải vật chất và quan hệ xã hội cũng có sự phân hóa thì việc
chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất dư thừa đã trở thành nguyên 7
nhân của việc phân hóa giữa các tầng lớp người trong mỗi thị tộc, bộ lạc. Sự
phân hóa này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà
họ chiếm hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản
sang đời khác. Trên cơ sở chế độ tư hữu về tài sản đã được pháp luật bảo vệ,
pháp luật về thừa kế được hình hành, phát triển như một tất yếu khách quan
và là nhu cầu của xã hội có giai cấp.
Như vậy, do sự phân công lao động, ở thời kỳ này xã hội đã có nhiều
biến đổi sâu sắc. Cng với sự phân công lao động xã hội, chăn nuôi và trồng
trọt ngày càng phát triển, năng xuất lao động ngày một nâng cao đã xuất hiện
sự dư thừa sản phẩm. Quá trình phân hoá của cải trong xã hội được hình
thành và dẫn đến sự phân biệt kẻ giàu người nghèo trong xã hội. Những người
có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải
dư thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu xuất hiện và từ đó chế độ thị tộc, chế
độ cộng sản nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ và hoàn toàn tan rã, nhường chỗ
cho một chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phân hoá giai cấp.
Nếu trước đây tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến
mâu thuẫn nội tại, trong đó mọi thành viên xã hội hầu như hoàn toàn “hoà
tan” vào cuộc sống cộng đồng thì xã hội mới ra đời đã có sự phân chia giai
cấp, trong đó các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau, “luôn luôn mâu thuẫn và
đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình”. Trước bối
cảnh đó, dĩ nhiên tổ chức thị tộc trở thành bất lực trước xã hội, không thể ph
hợp được nữa. Lúc này, “ xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để
dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cng lắm là để cho
cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi
là hợp pháp. Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện.”
Khi chưa xuất hiện Nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong
tục, tập quán của các thị tộc, bộ lạc, thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch 9
chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động
bằng ý chí của Nhà nước. Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để
áp dụng các phương pháp cưỡng chế nhằm tác động đến các quan hệ xã hội
dựa vào điều kiện vật chất của xã hội, Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền
cũng như xác định các nghĩa vụ trong lĩnh vực thừa kế cho các cá nhân và các
chủ thể khác.
Pháp luật của bất kỳ nhà nước nào cũng phải xuất phát từ cơ sở kinh tế,
ph hợp với thực tế khách quan và do cơ sở kinh tế của xã hội quyết định. Khi
chế độ kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong sự quy định
của pháp luật. Vì vậy, dẫu rằng pháp luật là ý chí của Nhà nước (do Nhà nước
đặt ra) nhưng nó vẫn mang tính khách quan. Như vậy, khi xem xét quyền thừa
kế dưới góc độ một chế định pháp luật thì có nghĩa là xem xét, nhìn nhận ở
phương diện khách quan. Ngoài ra, quyền thừa kế còn được xem xét ở một
phương diện khác, phương diện chủ quan.
- Về phương diện khách quan, quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các
quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển
dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản) của người chết cho người còn
sống, đồng thời bảo vệ quyền của người để lại tài sản và quyền của người
hưởng thừa kế di sản.
Mặc d, mỗi thời kỳ pháp luật thừa kế của nước ta có những quy định
khác nhau, nhưng bản chất của các quy định pháp luật thừa kế của nước ta
không những bảo đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của
mình, mà còn kết hợp hài hòa với những truyền thống tốt đẹp trong nhân dân
được thể hiện trong quan hệ gia đình, trong dòng tộc và quan niệm về đạo đức
mang nội dung mới.
Cng với việc tôn trọng ý chí của cá nhân người có tài sản trong việc
lập di chúc để định đoạt tài sản của họ sau khi họ chết, chế định thừa kế trong 11
Bộ luật Dân sự còn ghi nhận quyền của vợ chồng trong việc lập di chúc để
định đoạt tài sản chung của họ và các quy định có liên quan đến di chúc
thừa kế của một số nước trong khu vực và trên thế giới.
Quyền thừa kế về phương diện khách quan còn được thể hiện ở việc
pháp luật bảo đảm cho công dân có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản
thừa kế, không phân biệt giới tính, già trẻ, có năng lực hành vi dân sự hay
không có năng lực hành vi dân sự.
- Về phương diện chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền dân
sự cơ bản của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn
sống và quyền của công dân được nhận di sản theo sự định đoạt của người
có tài sản (bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất
định (thừa kế theo pháp luật). Theo phương diện này thì mọi công dân đều
có quyền như nhau trong việc để lại tài sản của mình cho những người thừa
kế và đều có quyền như nhau trong việc nhận di sản thừa kế do người khác để
lại. Tuy nhiên, quyền thừa kế của công dân do pháp luật quy định chỉ là khả
năng khách quan để công dân thực hiện quyền để lại di sản và hưởng di sản
thừa kế ph hợp với những quy định của pháp luật. Quyền thừa kế được bảo
đảm khi một người được xác định có quyền thừa kế hợp pháp hoặc theo di
chúc hoặc theo pháp luật, nhưng trên thực tế, quyền của người thừa kế hoặc
không được thực hiện đầy đủ hoặc không thực hiện được do di sản không còn
đầy đủ hay hoàn toàn không còn để chia cho những người thừa kế
Quyền định đoạt tài sản bằng di chúc của cá nhân được pháp luật ưu
tiên bảo vệ thực hiện. Khi cá nhân thực hiện quyền thừa kế của mình bằng
việc lập di chúc, thì quyền định đoạt ý chí của người lập di chúc phải ph hợp
với pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Pháp luật quy định, cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình bằng
việc lập di chúc để lại tài sản cho những người thừa kế theo ý chí của họ, ý 13
chí của người định đoạt tài sản bằng di chúc được pháp luật bảo hộ, nhưng
không phải được bảo hộ một cách tuyệt đối. Bằng việc quy định và bảo vệ
thừa kế. Những người bị pháp luật tước quyền thừa kế chỉ được thừa kế trong
trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi trái pháp luật của người đó,
nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc [6, Đ. 646]. Quyền thừa kế còn
bị triệt tiêu trong trường hợp những người có quyền thừa kế của nhau cng
chết vào một thời điểm.
Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng: Quyền thừa kế là
một phạm tr pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử
phát triển kinh tế xã hội nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cng với sự xuất
hiện và phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài
sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xã hội hiện đại ngày nay). Với tư cách là
một phạm tr pháp luật, thừa kế chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở
hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho những người còn sống theo điều
kiện, hình thức, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
1.2. Khái niệm di sản thừa kế và cơ cấu của di sản thừa kế
1.2.1. Khái niệm di sản thừa kế
Từ xa xưa người Việt Nam ta đã có truyền thống lao động cần c, chịu
thương chịu khó dành dụm chắt chiu cho con cháu, điều đó thể hiện tình cảm
gia đình và trách nhiệm của thế hệ trước đối với thế hệ sau. Khi người cha,
người mẹ về nơi suối vàng họ để lại gia tài cho con cái kế tục. Để nói về những
gì đời trước, người trước để lại cho đời sau, người sau người ta sử dụng thuật
ngữ “di sản”.
Di sản là toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cng
với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ
khác, từ đời này sang đời khác, được bảo hộ về mặt pháp lý [2. Tr 21].
Thuật ngữ “di sản” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực 15
của đời sống. Song, trong từng lĩnh vực cụ thể như: văn hóa - xã hội, kinh tế
thì thuật ngữ này lại được hiểu với những nghĩa khác nhau. Trên lĩnh vực
- Quan điểm thứ hai: Di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của người
chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản. Đây là quan điểm ph hợp
với những quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm
2005. Vì thừa kế là thừa hưởng của cải của người đã khuất. Theo từ điển
Tiếng Việt, thì thừa kế được định nghĩa là: “hưởng của người chết để lại cho”
[11, Tr 972]. Với ý nghĩa này thì không thể nói người thừa kế “ được hưởng
nghĩa vụ tài sản” hay “ được hưởng các tài sản nợ”. Những “giá trị” không
mang đến lợi ích cho người tiếp nhận thì không được coi là di sản.Vì vậy,
không thể coi các nghĩa vụ là được thừa hưởng.
Mặt khác, về phương diện đạo đức truyền thống, theo suy nghĩ của
người Việt Nam cha mẹ sinh con thì có nghĩa vụ chăm lo, nuôi nấng con nên
người. Những việc làm mang tính “bổn phận” không chỉ là trong hiện tại mà
còn cho cả tương lai sau này của người con, tạo ra “tiền đề vật chất” ban đầu
cho con, cho cháu. Người con, người cháu được thừa hưởng tài sản khi cha
mẹ chết đi, dựa vào đó mà làm ăn phát triển cuộc sống và sau này lại tích lũy
tài sản cho con cái của họ. Và tất nhiên những tài sản mà người chết để lại
cho người được hưởng phải thuộc quyền sở hữu của họ, không trái với các
quy định của pháp luật. Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Do tính chất vĩnh viễn và tuyệt đối của quyền sở hữu mà
nguyên tắc liên tục của việc đảm nhận tư cách chủ sở hữu đối với tài sản được
đặt ra:“ Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những
người còn sống khác” [2. Tr 33]. Như vậy, với ý nghĩa trên thì di sản chỉ là
tài sản của người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ về tài sản.
Về phương diện pháp luật thì: “Những người hưởng thừa kế có trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại ” 17
(Khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2005). Cng với việc nhận di sản
thừa kế thì người thừa kế có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ mà người
trung trong tay địa chủ phong kiến, nông dân phải cày thuê cuốc mướn, cuộc
sống vô cng khó khăn nên sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt
Nam thành công, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1946 để
quy định, bảo hộ các quyền công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
mà quan trọng hơn cả là quyền sở hữu tài sản và các quyền tài sản khác để
thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Bởi, quyền sở hữu là tiền đề phát
sinh các quyền kinh tế, dân sự khác như quyền thừa kế tài sản, quyền tham
gia các giao dịch Điều 12 Hiến pháp năm 1946 ghi: “Quyền tư hữu tài sản
của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Tài sản là quyền lợi mà thần thánh
không thể xâm phạm được, trừ khi có những nhu cầu xã hội cần thiết và với
điều kiện được bồi thường một cách thoả đáng. Quy định này của Hiến pháp
năm 1946 thật sự dân chủ, nhân quyền, xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm
vụ của cách mạng khi đó là: “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và
kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”.
Hiến pháp năm 1959: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc Việt
Nam được giải phóng, nhân dân miền Bắc xây dựng hậu phương vững mạnh
để chi viện sức người, sức của cho đồng bào miền Nam tiếp tục thực hiện
cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam. Để tạo cơ sở pháp lý cho
các chủ thể trong các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội, Nhà nước
công nhận và bảo hộ quyền sở hữu của người lao động riêng lẻ và quyền sở
hữu của các nhà tư bản đối với các tư liệu sản xuất họ đang được phép sản
xuất kinh doanh. Điều 11 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Ở nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư
liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân,
hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân
lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu
của nhà tư sản dân tộc”. 19
nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình
phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường
biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ
quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ
sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản
khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước – đều thuộc sở hữu toàn dân”.
Nếu như Hiến pháp năm 1959 ghi nhận sở hữu riêng là quyền cơ bản
của công dân thì ở Hiến pháp năm 1980, nó không còn được thừa nhận. Điều
27 của Hiến pháp chỉ quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công
dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những
công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.
Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”. Như vậy, Nhà nước
không thừa nhận sự tồn tại của sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế
tương ứng, coi nó là kinh tế phi Xã hội chủ nghĩa và tìm cách thủ tiêu. Tư duy
làm chủ tập thể, bao cấp bao trm hầu hết các quy định của Hiến pháp năm
1980, do vậy, tuy Hiến pháp quy định cho công dân có rất nhiều quyền,
nhưng trên thực tế chỉ có một số quyền được thực hiện đối với một số người.
Hiến pháp quy định cá nhân, hộ gia đình không có quyền sở hữu về đất
đai nhưng có quyền sử dụng khai thác đất đai, có quyền chuyển nhượng tài
sản trên đất. Nếu trên đất không có tài sản thì không có quyền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, kể cả việc thừa kế quyền sử dụng đất. Trường hợp người
được giao đất chết thì quyền sử dụng đất được chuyển cho người đang trực
tiếp sử dụng cng người đã chết tiếp tục sử dụng.
Hiến pháp năm 1992: Hiến pháp năm 1980 là Hiến pháp của thời kỳ
cải tạo Xã hội chủ nghĩa ở miền Nam và xây dựng nền tảng cho Chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi cả nước, vì vậy, không còn ph hợp với công cuộc đổi mới,
cho nên Nhà nước đã ban hành Hiến pháp mới năm 1992. Hiến pháp năm 21