Danh mục các bảng Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1.
Tổng hợp số vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự từ
năm 2004 - 2008 tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
76
3.2.
Tổng hợp số vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự bị
kháng cáo, kháng nghị từ năm 2004 - 2008 tại Toà án nhân
dân thành phố Hà Nội
77
3.3.
Tổng hợp số vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự bị
kháng cáo, kháng nghị phần dân sự từ năm 2004 - 2008 tại
Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
77
3.4.
Tổng hợp kết quả xét xử phúc thẩm số vụ án hình sự có
giải quyết vấn đề dân sự bị kháng cáo, kháng nghị phần
dân sự từ năm 2004 - 2008 tại Toà án nhân dân thành phố
Hà Nội
78
Khái niệm
6
1.1.2.
Đặc điểm của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự
12
1.2.
Mối quan hệ giữa nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự với một số nguyên tắc liên quan của luật tố
tụng hình sự
20
1.2.1.
Mối quan hệ với các nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nguyên tắc trách
nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 12, 12 Bộ luật
Tố tụng hình sự)
20
1.2.2.
Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
23
1.2.3.
Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước
Toà án
24
1.2.4.
Mối quan hệ với nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân
26
1.3.
Lịch sử nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
pháp luật tố tụng hình sự Việt nam
47
2.1.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về việc
giải quyết vấn đề dân sự đồng thời với việc giải quyết vụ án
hình sự
47
2.2.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về việc
tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
57
2.3.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
62
2.3.1.
Giai đoạn khởi tố
62
2.3.2.
Giai đoạn điều tra và truy tố
64
2.3.3.
Giai đoạn xét xử
67
2.3.4.
Giai đoạn thi hành án
73
Chương 3: thực tiễn thi hành và việc nâng cao hiệu quả áp dụng
nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
danh mục tài liệu tham khảo
105
1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng được quy định
trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam năm 2003, giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự có ưu điểm là rút ngắn được tiến trình tố tụng, làm giảm
chi phí về tiền bạc, công sức, thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng
như của các đương sự. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được
hiểu là giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong
vụ án hình sự như đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài
sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa
chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử
dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài
sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Luật tố tụng hình sự và những văn bản pháp luật khác đã quy định nội
dung, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Những quy định
này là cơ sở pháp lý cho Tòa án khi tiến hành tố tụng, đồng thời cũng là công
cụ để người tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, thực tế
xét xử cho thấy những quy định của pháp luật về vấn đề này còn chưa đầy đủ,
chưa thống nhất nên khó áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác,
do là vấn đề phát sinh trong vụ án hình sự nên các cơ quan tiến hành tố tụng
cũng như những người tiến hành tố tụng thường không quan tâm đúng mức
nghị giám đốc thẩm về "dân sự" trong vụ án hình sự, của Đinh Văn Quế, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 9/2009; Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự, của Hoàng Thị Sơn, Tạp chí Luật học, số 6/1998; Những vấn đề rút
ra từ những vụ án hình sự sơ thẩm bị hủy ở cấp phúc thẩm trung ương, của
Hồ Quốc Thái, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2007; Bàn về thủ tục tố tụng khi điều
3
tra lại hoặc xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự, của Nguyễn Văn
Trượng, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2007
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến
nguyên tắc như: khái niệm, đặc điểm của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự, phân loại vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phân tích
mối quan hệ giữa nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với
một số nguyên tắc liên quan của luật tố tụng hình sự, những nội dung cơ bản
của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo luật tố tụng
hình sự Việt Nam.
Từ thực tiễn xét xử chỉ ra những điểm bất cập để đề xuất những kiến
nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng nguyên tắc giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cụ thể là:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về nguyên tắc giải quyết vấn đề
dân sự trong vụ án hình sự.
- Nghiên cứu nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự ở Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện nguyên tắc giải quyết vấn đề
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên,
có tính hệ thống và tương đối toàn diện về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân
5
sự trong vụ án hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với những đóng
góp về mặt khoa học đã nêu trên.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các cơ quan
tiến hành tố tụng xác định và áp dụng đúng đắn, thống nhất nguyên tắc giải
quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong quá trình giải quyết vụ án, đưa
ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo trong công
tác giảng dạy và nghiên cứu môn luật tố tụng hình sự. Những kết quả nghiên
cứu của luận văn có thể được vận dụng trong công tác lập pháp và hoạt động
thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân
sự trong vụ án hình sự.
Chương 2: Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thi hành và việc nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên
tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
vô cùng quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Khi
thực hiện hành vi phạm tội, bên cạnh việc phải chịu trách nhiệm hình sự thì bị
can, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm dân sự với tính chất là một chế tài được
áp dụng đối với người gây thiệt hại. Do đó, nó có ý nghĩa giáo dục đối với
bản thân người gây thiệt hại và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Hơn
nữa, quan hệ dân sự trong vụ án hình sự không đơn thuần chỉ là một quan hệ
dân sự mà việc thực hiện trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo còn nhằm thực
hiện trách nhiệm hình sự của họ. Ví dụ: người phạm tội trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại là để thực hiện một biện pháp tư pháp được
quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự, tức là để thực hiện một yêu cầu của
trách nhiệm hình sự. Trong một số trường hợp, việc giải quyết vấn đề dân sự
(xác định rõ ràng tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra) có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội, đồng thời còn có giá trị như là chứng cứ để chứng minh về tội phạm, là cơ
sở để áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.
Bên cạnh đó, việc quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm cho các quyền cơ bản của
công dân được bảo vệ và tôn trọng. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
thì công dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản,
quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Mọi
hành vi gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức và xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, của
cá nhân đều phải bồi thường và xử lý theo pháp luật.
Hơn nữa, việc quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
còn có ý nghĩa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh gọn,
8
đỡ tốn kém về thời gian, công sức, bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên
đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan khi bị tội phạm xâm hại. Nhiều
chứng cứ trong vụ án hình sự có thể làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề dân
định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc giải quyết vụ án hình sự bao gồm giải quyết
phần trách nhiệm hình sự và giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án
phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, có hiệu quả đồng thời phải tôn
trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thứ ba: Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là
bảo đảm pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, đồng thời chúng còn là những bảo đảm pháp lý cho việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra. Bên cạnh đó, quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là
nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự còn góp phần vào việc bảo đảm
cho quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện một cách thống nhất.
Để đưa ra được khái niệm nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự trước hết chúng ta phải đưa ra được khái niệm vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự.
Hiện nay, việc xác định vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn có
nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự là tất cả những gì không phải là tội phạm và hình phạt có liên quan đến tiền
hoặc tài sản như việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại
tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; tiền, tài sản bị kê biên, bị thu giữ
trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
nhưng không thuộc trường hợp bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước nên Tòa án
quyết định hủy bỏ quyết định kê biên hoặc trả lại cho chủ sở hữu hoặc người
quản lý hợp pháp; án phí và những khoản tiền hoặc tài sản mà cơ quan tiến
hành tố tụng quyết định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế thì vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự chỉ bao gồm những khoản tiền hoặc tài sản có liên quan đến trả lại
10
tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình
Ví dụ: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Cướp tài sản. Theo T khai thì giá trị
tài sản chiếm đoạt được là 13 cây vàng, 1 xe máy future và một số tài sản
khác trị giá khoảng 190 triệu đồng. Theo lời khai của người bị hại thì giá trị
tài sản mà T chiếm đoạt được là 14 cây vàng, 1 xe máy future mới và một số
tài sản khác trị giá khoảng 210 triệu đồng. Như vậy, nếu theo lời khai của bị
cáo thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều
133 Bộ luật Hình sự "Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới
200 triệu đồng" có khung hình phạt từ 7 năm tù đến 15 năm tù. Nếu theo lời
khai của người bị hại thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm
b khoản 3 Điều 133 Bộ luật Hình sự "Chiếm đoạt tài sản có trá trị từ 200 triệu
đồng đến dưới 500 triệu đồng" có khung hình phạt tù từ 12 năm tù đến hai
mươi năm tù. Do vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ về giá trị tài
sản bị chiếm đoạt. Xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là yếu tố quan
trọng để xác định bị cáo phạm tội thuộc khoản 2 hay khoản 3 Điều 133 Bộ
luật Hình sự. Đây là phần dân sự không thể tách rời khỏi trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo. Nếu không xác định đúng được phần dân sự này thì không
thể xét xử đúng vụ án được.
Loại thứ hai: những vấn đề dân sự không liên quan đến trách nhiệm
hình sự của người phạm tội. Ví dụ: khoản tiền mai táng phí, tiền chi phí cho
việc cứu chữa nạn nhân, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền mất thu nhập, tiền trợ
cấp cho người mà người bị hại khi còn sống phải trợ cấp, tổn thất về tinh thần,
tiền lãi
Việc phân loại vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc giải quyết vụ án. Nó giúp cho các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc
tách hay không tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Bởi lẽ, trong các vụ án
12
hình sự có giải quyết vấn đề dân sự, đôi khi vấn đề trách nhiệm dân sự có
quan hệ mật thiết với vấn đề trách nhiệm hình sự, là cơ sở của trách nhiệm
định hướng của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động tố tụng hình sự nói chung
và về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nói riêng là nhân đạo,
công bằng, dân chủ, kỷ cương và theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc giải
quyết vụ án hình sự bao gồm giải quyết phần trách nhiệm hình sự và giải
quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án phải đảm bảo tính chính xác,
khách quan, có hiệu quả đồng thời phải tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định giải quyết
vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa đảm
bảo cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, có hiệu quả,
đồng thời cũng đảm bảo cho các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân được
thực hiện và hoàn toàn phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp trong giai đoạn
hiện nay. Ngoài ra, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn có ý
nghĩa thực tiễn ngay đối với vụ án hình sự. Thực tế, có những vụ án hình sự
chỉ có thể giải quyết được thấu đáo thông qua việc xem xét vấn đề dân sự. Bởi
vì: thứ nhất trong nhiều vụ án hình sự, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc định tội danh và định khung hình
phạt đối với bị cáo. Thứ hai: việc khắc phục hậu quả mà thông thường có liên
quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại còn là một tình tiết giảm nhẹ theo quy
định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự "Người phạm tội tự nguyện
sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả" [2]. Do đó, nếu bị cáo thực
hiện đầy đủ việc bồi thường thiệt hại sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng xem
xét để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật
Hình sự. Hơn nữa, nếu bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại thì nhiều
trường hợp do được bồi thường thỏa đáng, người bị hại sẽ tha thiết xin giảm
trách nhiệm hình sự cho bị cáo (có đơn đề nghị giảm trách nhiệm hình sự
hoặc tại phiên tòa họ tha thiết xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo), khi đó
bị cáo còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2
14
Điều 46 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, nếu vấn đề khắc phục hậu quả liên quan đến
tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân thì ngoài việc làm phát
sinh trách nhiệm hình sự còn làm phát sinh trách nhiệm dân sự của những
người tham gia tố tụng. Khi giải quyết vụ án hình sự, Tòa án giải quyết rất
nhiều vấn đề có liên quan đến tiền và tài sản như vấn đề tang vật, án phí, tịch
thu vật, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có, đòi lại tài sản, đòi bồi thường thiệt
hại nhưng không phải tất cả vấn đề nào liên quan đến tiền hoặc tài sản mà
cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết cũng đều là vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự và được giải quyết theo nguyên tắc này. Điều 42 Bộ luật Hình sự quy
định:
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở
hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tình thần, Tòa án buộc
người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người
bị hại [2].
Do vậy, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ bao gồm việc đòi trả lại
tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm
đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng,
đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản,
chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi
bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm hay nói cách khác vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự chỉ được xác định trong phạm vi "trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng" theo quy định tại chương XXI Bộ luật Dân sự. Như vậy,
những quan hệ pháp luật dân sự trong vụ án hình sự là những quan hệ bồi
thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài
sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại. Đây chỉ là một phần nhỏ trong
16
các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để vụ án hình sự
định khởi tố của cơ quan tiến hành tố tụng còn vấn đề dân sự trong vụ án dân
sự chỉ phát sinh khi có yêu cầu khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện
theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Thứ tư: Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải tuân
theo các quy định của luật tố tụng hình sự.
Tuy về thực chất vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là quan hệ pháp
luật dân sự nhưng nó phát sinh trên cơ sở hành vi phạm tội, thậm chí còn là
yếu tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự cũng như các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên khi xem
xét, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự về nội dung phải tuân theo
các quy định của Bộ luật Dân sự nhưng về hình thức (về mặt thủ tục) phải
tuân theo trình tự, thủ tục của luật tố tụng hình sự chứ không phải là trình tự,
thủ tục của luật tố tụng dân sự như khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
dân sự. Ví dụ: theo quy định của luật tố tụng hình sự thì trường hợp người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy từng trường
hợp mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ
trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách
việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là điểm khác
biệt so với thủ tục tố tụng dân sự vì khi xét xử vụ án dân sự theo thủ tục tố
tụng dân sự nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt lần
thứ nhất thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa dù đương sự
vắng mặt có lý do chính đáng hay không. Sở dĩ có sự khác biệt này là do bản
chất của việc xét xử vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là xét xử vụ án hình
sự, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử giải quyết
luôn cả vấn đề dân sự phát sinh do tội phạm gây ra. Nếu vấn đề dân sự trong
18
vụ án có liên quan đến việc định tội hay định khung hình phạt đối với bị cáo
nhắc các nguyên tắc trong tố tụng hình sự để xét xử vấn đề dân sự mà còn áp
dụng một số nguyên tắc của tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi cho các
đương sự tham gia tố tụng như nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng giữa các
đương sự, nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự Bởi vì dù
là vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhưng thực chất đó vẫn là quan hệ dân
sự, mà đặc thù của quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ bình đẳng giữa các
bên đương sự do đó cần phải đảm bảo quyền bình đẳng thỏa thuận giữa các
đương sự khi tham gia tố tụng.
Một điểm khác biệt quan trọng là trong tố tụng hình sự việc chứng
minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan
tiến hành tố tụng phải điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm.
Vấn đề dân sự phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra được giải quyết trong
vụ án hình sự nên trước hết phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự,
do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng
cứ để làm sáng tỏ vụ án bao gồm cả việc điều tra, thu thập chứng cứ để làm rõ
về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự
không cung cấp được chứng cứ về vấn đề dân sự mà những vấn đề dân sự này
có liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo thì cơ quan tiến
hành tố tụng vẫn phải điều tra, làm rõ những thiệt hại đã xảy ra, trên cơ sở đó
xác định được mức bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, chúng tôi hoàn toàn
nhất trí với ý kiến của tiến sĩ Hoàng Thị Sơn cho rằng:
Nếu vấn đề dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự
thì cơ quan điều tra có thể làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến
việc bồi thường ngay từ khi tiến hành điều tra vụ án. Vì tuy là vấn
đề dân sự nhưng nó là vấn đề phát sinh từ vụ án hình sự. Ngược lại,
nếu vấn đề đó được giải quyết riêng ở phiên tòa dân sự thì khả năng
20
đó sẽ không còn nữa bởi lẽ cơ quan điều tra không có trách nhiệm
điều tra, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự [23, tr. 21].
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ xin đưa ra một số
nguyên tắc có mối quan hệ trực tiếp và gần nhất với nguyên tắc giải quyết vấn
đề dân sự trong vụ án hình sự.
1.2.1. Mối quan hệ với các nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan
hiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nguyên tắc trách nhiệm khởi
tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 12, 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự)
Một trong những nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự là phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không
để lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Để thực hiện được nhiệm vụ này luật
tố tụng hình sự quy định nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng, trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.
Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trách nhiệm khởi tố và xử lý
vụ án hình sự được quy định như sau:
Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật
này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không
được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này
quy định [4].
Điều 12 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định trách nhiệm của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy