Các quy định pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại và ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ MINH ÁNH

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH
VẤN ĐỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ
NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI VÀ Ý NGHĨA
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Mã số : 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà nội – 2010 1

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 3
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC
TẾ VỀ SỬ DỤNG, KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH
HÒA BÌNH 6
1.1. Khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ: 6
1.1.1. Khái niệm khoảng không vũ trụ: 6
1.1.2. Khái niệm khai thác khoảng không vũ trụ: 7
1.1.3. Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ
trên toàn cầu hiện nay: 9
1.2. Cơ sở pháp lý quốc tế về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích
hòa bình: 14
1.2.1. Hệ thống các điều ƣớc quốc tế về vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ

Nam và áp dụng pháp luật quốc tế về sử dụng khoảng không vũ trụ vào Việt Nam:
96
3.1.2. Những kinh nghiệm pháp lý quốc tế và nƣớc ngoài trong việc xây dựng mô
hình khung và nội dung pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích
thƣơng mại: 98
3.1.3. Vận dụng lý luận pháp lý quốc tế và nƣớc ngoài vào việc xây dựng mô hình
khung và nội dung pháp luật của Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm
mục đích thƣơng mại: 103
3.2. Hoạt động thực tiễn và các kinh nghiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực khai
thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại của Việt Nam: 121
3.2.1. Một số hoạt động thực tiễn nổi bật mà Việt Nam đã và đang tham gia trong
lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại: 121
3.2.2. Một số giải pháp và đề xuất rút ra đối với Việt Nam trong quá trình khai thác
khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại: 131
KẾT LUẬN 137
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

3
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 - Sơ đồ vệ tinh viễn thông
Hình 2.2 - Sơ đồ hoạt động của vệ tinh GPS
Hình 2.3 - Cấu tạo hệ thống vệ tinh GPS
Hình 2.4 - Mô hình khách sạn trong vũ trụ của Orbital Technologies
Hình 2.5 - Hình ảnh minh hoạ rác vũ trụ
Hình 2.6 - Quỹ đạo địa tĩnh trong khoảng không vũ trụ
Hình 3.1 - Trình tự đăng ký hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ (theo đề xuất)

4
MỞ ĐẦU

Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới, đã có một số lƣợng không nhỏ các công trình khoa
học, nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau liên quan đến vấn đề khai thác khoảng
không vũ trụ vì mục đích hòa bình. Tại Việt Nam, pháp luật vũ trụ quốc tế đƣợc đề
cập đến trong các Giáo trình luật quốc tế của Đại học Luật, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội và một số sách báo, tạp chí, bài viết. Pháp luật vũ trụ cũng là đề tài
nghiên cứu đồ sộ đang đƣợc thực hiện bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và
các tổ chức khoa học có uy tín, trong đó có Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc
tế - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Cũng theo tác giả đƣợc biết, một số đề
tài luận văn thạc sĩ về pháp luật vũ trụ đang đƣợc tiến hành. Có thể nhận định rằng
pháp luật vũ trụ đang ngày càng dành đƣợc sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Tuy
nhiên, ngoài việc tìm hiểu tổng quan về hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế
trong lĩnh vực sử dụng khoảng không vũ trụ, tác giả còn đặt mục tiêu tìm hiểu sâu
về xu hướng thương mại hóa các hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ. Bởi lẽ,
giá trị thƣơng mại, kinh tế là một trong những lợi ích quan trọng của việc khai thác
khoảng không vũ trụ, bên cạnh lợi thế về quân sự, chính trị mà khoảng không vũ trụ
đem lại cho nhân loại. Điểm mới mà tác giả kỳ vọng đạt đƣợc trong phạm vi đề tài
là ý nghĩa lý luận và thực tiễn rút ra từ việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật
quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại có thể đƣợc
vận dụng vào Việt Nam.
Luận văn đƣợc cấu trúc theo ba chƣơng:
- Chƣơng 1: Khái quát về hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về sử dụng,
khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình.
- Chƣơng 2: Nội dung của pháp luật quốc tế về vấn đề khai thác khoảng không
vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại.
- Chƣơng 3: Xây dựng, hoàn thiện pháp luật và những kinh nghiệm pháp lý về
khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại đối với Việt Nam.

6
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT

(môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không) và các hành tinh. Khoảng
không vũ trụ được xác định là phạm vi hoạt động đặc thù (độc đáo) của nhân loại mà
tính chất hoạt động này rất đặc biệt. [26, tr. 226]
Giới hạn của khoảng không vũ trụ sẽ đƣợc xác định theo đƣờng biên giới
trong và đƣờng biên giới ngoài. Trong đó, đƣờng biên giới ngoài của khoảng không
vũ trụ hoàn toàn đƣợc xác định theo khả năng khoa học - kỹ thuật của nhân loại, và
trình độ khoa học của loài ngƣời vƣơn xa đƣợc tới đâu trong việc khám phá và chinh
phục vũ trụ vƣơn xa tới đâu trong việc khám phá và chinh phục vũ trụ thì biên giới
phía ngoài của khoảng không vũ trụ sẽ vƣơn xa đến đó. Có nhiều quan điểm về
đƣờng biên giới phía trong của vũ trụ. Có quan điểm cho rằng đƣờng biên giới phía
trong của vũ trụ nằm ỏ độ cao các điểm bay thấp nhất của quỹ đạo bay nhân tạo của
trái đất. Độ cao này là 100 km + 10 km. Có quan điểm cho rằng đƣờng biên giới
trong của vũ trụ, theo “quy tắc cận điểm”, hoặc giới hạn tối đa của chủ quyền không
gian, là tối thiểu 90 km trên mặt biển (gần bằng điểm thấp nhất của quỹ đạo của vệ
tinh nhân tạo khi bay quanh trái đất vào năm 1957). [81, pg. 15]
1.1.2. Khái niệm khai thác khoảng không vũ trụ:
Từ “khai thác” (“exploitation”) trong cụm từ “khai thác tài nguyên thiên
nhiên của Mặt trăng và các thiên thể khác” (“exploitation of the natural resources of
the Moon and other celestial bodies”) đƣợc ghi nhận chính thống trong Hiệp định
điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên thể khác (Liên
hiệp quốc thông qua ngày 18/12/1979) và nhiều điều ƣớc quốc tế có liên quan.
Để tìm hiểu khái niệm của “khai thác khoảng không vũ trụ” cần đi từ khái

8
niệm “khai thác”.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ tiếng Việt thì khai thác là “hoạt động để
thu lấy những sản vật có sẵn trong tự nhiên”
Theo từ điển tiếng Anh trực tuyến Oxford thì từ “exploit” trong tiếng Anh
đƣợc định nghĩa là “to utilize, esp. for profit; turn to practical account” [48]. Khai
thác là sử dụng để hƣởng lợi ích; nhằm đạt đƣợc lợi ích thực tế.

kim
- Có thể phục hồi: tài nguyên nƣớc, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học
Mặc dù trong các văn bản pháp luật quốc tế lại không quy định những hành
vi đƣợc coi là “khai thác khoảng không vũ trụ” hoặc “sử dụng khoảng không vũ
trụ”. Tuy nhiên về mặt pháp lý có thể hiểu khai thác khoảng không vũ trụ là việc
một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các hành vi phù hợp với pháp luật nhằm một
hoặc nhiều mục đích nhất định để hưởng lợi ích và công dụng của khoảng không vũ
trụ.
Trong số nhiều mục đích mà con ngƣời hƣớng đến trong quá trình khai thác,
sử dụng khoảng không vũ trụ thì có mục đích thƣơng mại có nghĩa là nhằm hƣởng
những lợi ích vật chất mang giá trị kinh tế cho con ngƣời.
1.1.3. Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng
không vũ trụ trên toàn cầu hiện nay:
1.1.3.1. Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ:
Có thể khái quát các giá trị của khoảng không vũ trụ thể hiện ở các mặt:
Về mặt tự nhiên, loài ngƣời cần khoảng không vũ trụ để tồn tại, vạn vật trong

10
tự nhiên đều tồn tại giữa khoảng không vũ trụ bao la và sự sống của con ngƣời khởi
nguồn không thể tách rời khỏi khoảng không vũ trụ. Khoảng không vũ trụ là nơi tồn
tại của không khí, khí quyển và đem đến những vật chất thiết yếu cho không chỉ con
ngƣời mà cả các động vật, thực vật và các thực thể sống khác trong khoảng không
vũ trụ. Khoảng không vũ trụ cũng là nơi chứa tài nguyên không khí, năng lƣợng
gió, tài nguyên tần số, quỹ đạo vệ tinh và chứa các hành tinh; trên mỗi hành tinh đó
lại chứa tài nguyên riêng mà trái đất và mặt trời, mặt trăng chỉ là một trong những
hành tinh mà chúng ta biết đến trong vô vàn hành tinh trong khoảng không vũ trụ.
Về mặt xã hội, khoảng không vũ trụ có một vai trò vô cùng quan trọng trong
đời sống kinh tế, chính trị, quân sự của loài ngƣời. Từ nửa cuối thế kỷ XX, trên thế
giới bắt đầu một cuộc chạy đua về khoa học, thể diện quốc gia, ƣu thế công nghệ,
sức mạnh quân sự và kinh tế, khởi nguồn từ sự kiện lần đầu tiên Liên Xô phóng

nguyên, vật chất để phục vụ sản xuất, kinh doanh nghiên cứu; ứng dụng khoa học
công nghệ vũ trụ đem lại cho chúng ta những tiến bộ cho cuộc sống, làm giảm sự
vất vả lao động cho con ngƣời và khiến cuộc sống của con ngƣời hiện đại, văn minh
hơn. Ví dụ: việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ vũ trụ để đƣa vệ tinh lên khoảng
không vũ trụ đã giúp cho con ngƣời có đƣợc những hình ảnh cho dịch vụ truyền
hình, viễn thám trái đất đem lại những kết quả ảnh về thời tiết làm giảm rủi ro cho
con ngƣời… Xu thế của thế giới đang có ngành sản xuất trong khoảng không vũ trụ,
sử dụng năng lƣợng gió và năng lƣợng mặt trời để chạy máy móc sản xuất, du lịch
vũ trụ…
1.1.3.2. Tầm quan trọng của việc khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục
đích hòa bình, bao gồm cả mục đích thương mại:
Bắt đầu từ cuối những năm 1980, thƣơng mại hóa vũ trụ cuối cùng trở thành
một vấn đề thực tiễn. Ngoài dịch vụ viễn thông và truyền hình, vệ tinh và viễn
thám, hiện nay du lịch vũ trụ đang đƣợc xem nhƣ một lĩnh vực đầy hứa hẹn trong
thập kỷ qua. Tuy nhiên, khai thác, sử dụng và khám phá khoảng không vũ trụ vẫn là
hoạt động duy nhất đặc trƣng xuất phát từ mục đích quân sự và an ninh. Các điều
ƣớc có liên quan đến khoảng không vũ trụ của Liên hiệp quốc cũng nhƣ các văn bản

12
pháp luật quốc gia của những nƣớc đầu tƣ nhiều cho khoảng không vũ trụ đã phản
ánh đặc trƣng này.
Thương mại hóa khoảng không vũ trụ là việc một tổ chức kinh tế hoặc quốc
gia sử dụng các thiết bị đã được phóng vào hoặc xuyên qua khoảng không vũ trụ để
cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thương mại. Ví dụ: hiện nay của việc sử
dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại bao gồm: hệ thống vệ tinh
hàng hải, vệ tinh truyền hình và vệ tinh vô tuyến điện… Các lĩnh vực hoạt động
khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thƣơng mại là:
- Vệ tinh viễn thông:
- Dịch vụ thuê vệ tinh
- Thuê mua hệ thống phát sóng vô tuyến

trƣờng chinh đầy hấp dẫn và tốn kém khám phá và khai thác không gian vũ trụ, các
cƣờng quốc đi theo những lộ trình khác nhau, nhƣng mục tiêu quan trọng nhất vẫn
là giá trị thƣơng mại của khoảng không vũ trụ. Đặc biệt là một số hƣớng khai thác
mới đang đƣợc các cƣờng quốc vũ trụ mở ra.
Thay vì đi tìm các tài nguyên, kim loại quý hiếm dƣới lòng đất hoặc trong
lòng đại dƣơng, một số quốc gia trên thế giới đang có kế hoạch đi tìm các “kho báu”
trong khoảng không vũ trụ. Đó là những thiên thạch chứa vàng, bạc và có thể cả
kim cƣơng.
Theo kết quả phân tích tại các trung tâm nghiên cứu vũ trụ, không chỉ kim
cƣơng mà hàm lƣợng của nhiều loại khoáng sản tài nguyên quý hiếm khác có trong
các thiên thạch đều vƣợt xa hàm lƣợng có trong vỏ trái đất. Với tốc độ phát triển
hiện nay của nền văn minh, những nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm trở thành
thứ đặc biệt có giá trị. Cuộc sống của con ngƣời trên trái đất sẽ đƣợc cải thiện khôn
lƣờng nếu một khi chúng ta với tới đƣợc sự giàu có của dải ngân hà. Và công cuộc
nghiên cứu tìm cách khai thác nguồn tài nguyên quý giá từ vũ trụ đã đƣợc đông đảo
giới khoa học vũ trụ, thiên văn học của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm.

14
Mới nghe, ý tƣởng khai thác kho báu vũ trụ có vẻ nhƣ không tƣởng. Nhƣng
với trình độ kỹ thuật hiện nay, công việc đã trở lên khá đơn giản. Các nhà khoa học
Mỹ và Nga đã lập ra một phƣơng án mang tính khả thi cao. Phần lớn các thiên thạch
quanh trái đất đều chuyển động xung quanh mặt trời theo các quỹ đạo gần với quỹ
đạo của trái đất. Vì thế có thể dễ dàng phóng các trạm vũ trụ tự động lên các thiên
thạch để làm nhiệm vụ trinh sát mở đƣờng. Theo tính toán của nhà khoa học Mỹ
Cargen thuộc Trung tâm địa lý thiên văn, nhiên liệu để phóng tàu vũ trụ lên một số
thiên thạch ít hơn cả nhiên liệu cần thiết để phóng tàu vũ trụ lên mặt trăng. Việc
quay trở về từ các thiên thạch còn dễ dàng hơn nhiều việc đổ bộ lên nó. Khi đã biết
chắc chắn trên các thiên thạch có mỏ tài nguyên quý hiếm, các trạm vũ trụ tự động
sẽ đƣợc phóng tiếp lên đó mang theo đầy đủ thiết bị kỹ thuật để lắp ráp thành nhà
máy tự động. Việc khai thác kim loại quý hiếm trên các thiên thạch khá dễ dàng nhờ

(Liên hiệp quốc thông qua ngày 14/01/1975);
- Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên
thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 18/12/1979).
- Tuyên bố về các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động của các quốc gia
trong việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng không Vũ trụ (Đại hội đồng Liên hiệp
quốc thông qua ngày 13/12/1963);
- Quy tắc điều chỉnh việc các quốc gia sử dụng vệ tinh nhân tạo Trái đất cho
viêc truyền sóng hình trực tiếp quốc tế (Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua
ngày 10/12/1982)
- Quy tắc liên quan đến viễn thám Trái đất từ Khoảng không Vũ trụ;
- Quy tắc liên quan đến việc sử dụng nguồn năng lƣợng hạt nhân trong
Khoảng không Vũ trụ;
- Tuyên bố về việc hợp tác quốc tế trong việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng

16
không Vũ trụ vì lợi ích của tất cả các quốc gia, có tính đến nhu cầu cụ thể của các
nƣớc đang phát triển.
- Hiệp ƣớc cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong khoảng
không vũ trụ và dƣới nƣớc ngày 05/08/1963.
- Các Nghị quyết của Liên hiệp quốc về chống chạy đua vũ trang trong khoảng
không vũ trụ.
b. Các điều ước quốc tế đa phương về truyền thông và phát sóng trực tiếp
bằng vệ tinh:
- Công ƣớc quốc tế liên quan đến việc sử dụng phát sóng vì mục đích hoà bình
ngày 23/09/1936
- Hiệp định về việc thực hiện dự án Viễn thông châu Âu về chủ đề "Mạng
không gian với cơ chế kiểm soát ".
- Công ƣớc ngày 21/05/1974 về phân phối tín hiệu mang chƣơng trình truyền
qua vệ tinh.
- Nghị quyết 37/92 của Liên hiệp quốc ngày 10/12/1982 về các nguyên tắc

- Công ƣớc về hợp tác kỹ thuật và công nghiệp trong lĩnh vực phát thanh vệ
tinh giữa Chính phủ nƣớc Cộng hòa Pháp và Chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức.
- Hiệp định dƣới hình thức trao đổi thƣ giữa Chính phủ Cộng hòa Pháp và
Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức theo Công ƣớc ngày 29/04/1980 liên quan đến
hợp tác kỹ thuật và công nghiệp trong lĩnh vực phát thanh vệ tinh.
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Liên minh châu Âu phát sóng
(EBU) về việc sử dụng vệ tinh Olympus ngày 28/05/1985 (ESA2)
- Hiệp định giữa Tổ chức Viễn thông châu Âu truyền hình vệ tinh (Eutelsat) và
Cơ quan Vũ trụ châu Âu về hệ thống viễn thông vệ tinh châu Âu cho dịch vụ cố
định ngày 12/03/1986. (ESA2)

18
- Hiệp định giữa Chính phủ Liên bang Áo và Cơ quan Vũ trụ châu Âu về sự
tham gia của Áo trong chƣơng trình chuẩn bị cho hệ thống dữ liệu vệ tinh chuyển
tiếp ngày 28/11/1986. (ESA2)
- Biên bản ghi nhớ giữa một số thành viên của Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Cơ
quan Vũ trụ châu Âu liên quan đến việc thực hiện các dự án MERCURE ngày 25
tháng 11 năm 1994. (ESA2)
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Liên Hợp Quốc liên quan đến
việc mua sắm, lắp đặt và thử nghiệm hệ thống truyền thông MERCURE ngày
25/11/1994. (ESA2)

[65, pg. 6]
b. Điều ước quốc tế song phương về quan sát /giám sát/viễn thám vũ trụ:
- Bản ghi nhớ giữa Hoa Kỳ quốc gia hàng không vũ trụ (NASA) và Cơ quan
Vũ trụ châu Âu liên quan đến tài nguyên trái đất vệ tinh, Landsat, SEASAT-1 ngày
07/10/1978 (ESA2)
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Tổ chức Kỹ thuật Hàng không
Quốc gia (Instituto Nacional de Técnica Aérospacial - INTA) liên quan đến việc sử
dụng các trạm Maspalomas cho việc xử lý dữ liệu viễn thám ngày 21/11/1988.

vũ trụ nhằm mục đích hòa bình:
Các điều ƣớc quốc tế về Khoảng không Vũ trụ cùng thể hiện một số nguyên
tắc chung xuyên suốt, cụ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ
trụ nhằm mục đích hòa bình nhƣ sau:
 Việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng không Vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và
các thiên thể khác đƣợc tiến hành cho và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không
phân biệt trình độ phát triển kinh tế hay khoa học, và là lãnh thổ của toàn nhân loại.
 Khoảng không Vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác, đƣợc tất cả

20
các quốc gia tự do nghiên cứu, sử dụng không phân biệt chỉ đƣợc sử dụng vào mục
đích hoà bình;
 Không đƣợc đƣa vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giết ngƣời hàng loạt khác
vào vũ trụ;
 Nhà nƣớc chịu trách nhiệm quốc tế về hoạt động vũ trụ của mình.
Xuất phát từ quy định tại Điều II của Hiệp ƣớc về các quy tắc điều chỉnh
hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ,
bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày
27/01/1967) [sau đây gọi tắt là Hiệp ƣớc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ
trụ 1967]:
―Khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, không
bị phụ thuộc vào sự chiếm hữu của quốc gia bằng cách tuyên bố chủ quyền, bằng
cách sử dụng hoặc cư trú, hoặc bởi bất kỳ cách thức nào khác‖
Có thể kết luận rằng khoảng không vũ trụ là vùng khai thác chung, không
phụ thuộc vào ý chí đơn phƣơng của các quốc gia về vấn đề xác định chủ quyền
hoặc những hoạt động công nghệ hay sử dụng vũ trụ trên thực tế của các quốc gia
trên thế giới. Vì vậy, Điều I của Hiệp ƣớc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ
trụ năm 1967 đã nêu:
- Việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các
thiên thể khác, đƣợc thực hiện vì nhu cầu và lợi ích của tất cả các quốc gia,

cùng có lợi với các quốc gia khác.”
Nhƣ vậy, cũng nhƣ mọi hoạt động khác, hoạt động công nghệ vũ trụ và sử
dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia cho dù đƣợc diễn ra “tự do” nhƣng là

22
“tự do” trong một khuôn khổ pháp lý, đó là: quy định pháp luật quốc tế và các quy
định của Liên hiệp quốc.
Ngoài ra, Hiệp ƣớc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ còn đƣa ra
một số giới hạn cần thiết cho việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ tại các
điều tiếp theo:
“Điều IV: Các quốc gia tham gia Hiệp ƣớc cam kết không để các đối tƣợng
mang vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt hoạt động trong
quỹ đạo vòng quanh Trái Đất, cài đặt các vũ khí đó trên các thiên thể, hay trạm vũ
khí trong khoảng không vũ trụ bằng bất cứ cách nào khác. Mặt Trăng và các thiên
thể khác đƣợc sử dụng bởi tất cả các quốc gia tham gia Hiệp ƣớc nhằm mục đích
duy nhất vì hòa bình. Việc thành lập căn cứ quân sự, các thiết bị và công sự, các thử
nghiệm của bất kỳ loại vũ khí nào và thực hiện việc của diễn tập quân sự trên các
thiên thể đều bị cấm.”
“Điều IX: Các quốc gia tham Hiệp ƣớc đƣợc thực hiện các nghiên cứu về
khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, và tiến hành
thăm dò để tránh ô nhiễm có hại và cả những thay đổi bất lợi trong môi trƣờng của
Trái đất gây ra do vật chất ngoài trái đất và trong trƣờng hợp cần thiết, sẽ chấp
thuận biện pháp thích hợp vì mục đích này. Nếu một quốc gia tham gia Hiệp ƣớc có
căn cứ để tin rằng một hoạt động hoặc thử nghiệm do quốc gia hoặc công dân của
mình lập kế hoạch trong khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên
thể khác, sẽ can thiệp có hại đến các hoạt động của các quốc gia khác trong thăm dò
và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác một
cách hoà bình, thì tiến hành tham vấn quốc tế thích hợp trƣớc khi tiến hành bất kỳ
hoạt động hoặc thử nghiệm đó. Một quốc gia tham gia Hiệp ƣớc có căn cứ để tin
rằng một hoạt động hoặc thử nghiệm do quốc gia thành viên khác lập kế hoạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status