ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM ANH TUẤN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO HIỂM HÀNG HẢI ANH
NĂM 1906 VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG THỰC TIỄN Chuyên ngành : Luật Quốc Tế
Mã số : 60.38.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.GVC HOÀNG NGỌC GIAO
HÀ NỘI - 2007
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ RA
24
30
36
36
37
37
38
4
2.2. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải
2.2.1. Khái niệm và nội dung các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm
hàng hải
2.2.2. Hành trình (The voyage)
2.2.3. Quá trình thiết lập hợp đồng
2.2.4. Các loại hợp đồng bảo hiểm hàng hải
2.2.5. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm (Assignment of Policy)
2.2.6. Sự vô hiệu hợp đồng bảo hiểm
2.3. Tổn thất (loss)
2.3.1 Các nguyên tắc của quan hệ nhân quả trong xác định tổn thất
2.3.2. Những tổn thất được loại trừ (excluded losses)
2.3.3. Các loại tổn thất
2.3.4. Hạn mức bồi thường (Measure of Indemnity)
2.3.5.Điều khoản về tố tụng và hạn chế tổn thất (Sue and labouring
clause)
2.3.6. Quyền thế quyền (Right of Subrogation)
2.4. Bảo hiểm trùng và sự đóng góp
2.4.1. Khái niệm bảo hiểm trùng (Double Insurance)
3.1.2. Một số các văn bản Luật liên quan đến quá trình áp dụng Luật
bảo hiểm hàng hải của Anh
3.2. Một số án lệ áp dụng trong thực tế
3.2.1 Các trường hợp về hiểm họa của biển cả
3.2.2 Quyền lợi có thể bảo hiểm
3.2.3 Đối với việc vi phạm nguyên tắc trung thực tuyệt đối
3.2.4 Miễn thứ về thay đổi tuyến đường hay chậm trễ hành trình
3.2.4 Hợp đồng bảo hiểm
3.2.5 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hải
3.3. Một số nội dung không còn phù hợp của MIA trong quá trình áp dụng
thực tế
3.4. Sự tương thích giữa Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 và Bộ luật
hàng hải Việt Nam năm 2005.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
76
76 77
81
81
81
83
85
85
87
việc vận hành của thị trường bảo hiểm hàng hải và khuôn mẫu cho việc xây dựng các
bộ luật về bảo hiểm của các nước trên thế giới, điều này được chứng tỏ trong việc áp
dụng Bộ luật vào thực tiễn xét xử, hiệu lực và sự tồn tại của các điều khoản MIA. Cho
đến hiện nay bộ luật vẫn được áp dụng, chưa cần thiết đến mức phải sửa đổi.
Các điều luật chủ yếu mang tính nguyên tắc và chuẩn mức cho việc giải quyết
các tranh chấp, giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm, hạn mức bồi thường, các lợi
ích của người được bảo hiểm Chính vì vậy khi áp dụng bộ luật vào thực tiễn người ta
rất chú trọng đến việc áp dụng các án lệ để xác định cụ thể việc áp dụng các điều luật.
Bên cạnh đó luật cũng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, thể hiện ở một số điều
khoản cho phép sự thỏa thuận của các bên có giá trị cao hơn Luật.
Hiện nay việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải luôn tiềm ẩn
những tranh chấp và những rủi ro mang tính thương mại quốc tế, đòi hỏi các quốc gia
phải tiến tới những chuẩn mực chung khi áp dụng luật để giải quyết những tranh chấp
thương mại quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải luôn có yếu tố nước
ngoài. Trong khi đó, Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 luôn được coi là chuẩn
mực cho việc giải quyết các tranh chấp trong bảo hiểm hàng hải và trong việc xây dựng
8
các Luật bảo hiểm hàng hải của các nước trên thế giới.
2. Mục đích-nhiệm vụ-phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu MIA là rất cần thiết trong quá trình hội nhập và gia nhập WTO
của Việt Nam, tạo thuận lợi trong quá trình thông thương vì kênh vận chuyển hàng hải
quốc tế vẫn là kênh chủ yếu trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro mà các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam phải gánh chịu,
cũng như những thiệt hại về tàu là rất lớn bao gồm cả vật chất lẫn trách nhiệm dân sự
của chủ tàu đòi hỏi phải có một khung pháp lý về bảo hiểm hàng hải hoàn thiện.
Thị trường bảo hiểm hàng hải Việt Nam cũng phải tuân theo các quy tắc chung
của thị trường bảo hiểm hàng hải quốc tế, mà hiện nay bộ luật hàng hải Việt Nam cũng
còn nhiều bất cập, cũng nên xây dựng theo hướng tôn trọng các quy tắc thương mại
yếu của Luật như: các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hàng hải được thể hiện trong
Luật, quyền lợi được bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, các cam kết, hành trình, tổn
thất…Phần cuối cùng sẽ nghiên cứu một số trường hợp áp dụng trong thực tế của MIA
để từ đó có thể hiểu chính xác các quy định thể hiện trong MIA và đánh giá phần nào
hiệu lực áp dụng pháp luật của đạo luật này.
3. Nhận định về đề tài và phƣơng pháp thực hiện đề tài
a. Nhận định đề tài
“Một số vấn đề cơ bản của Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 và việc áp
dụng trong thực tiễn” là đề tài tuy không còn mới ở các nước phát triển Nhưng ở Việt
Nam lại chưa có nhiều tài liệu và nghiên cứu mang tính tổng quát, mà chủ yếu chỉ được
trích dẫn ở một số trường hợp. Các nội dung cơ bản của MIA mang tính lý luận và thực
tiễn cao. Nội dung này là một nội dung đã được khái quát trong môn học Luật thương
mại quốc tế - Chuyên ngành Luật quốc tế. Do vậy, việc đi sâu vào nội dung các quy
định trong Luật bảo hiểm hàng hải Anh mang hiệu quả tốt trong cả lý luận và thực tiễn.
10
Vì tìm hiểu được bản chất và sự vận hành của các quy định của MIA là rất cần thiết, để
từ đó có thể vận dụng và giải thích các quy định đó trong từng trường hợp thực tế.
Đồng thời đóng góp cho việc hoàn thiện các quy định của Việt Nam phù hợp với thông
lệ tập quán thương mại quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải. Trong khi
hiện nay các quy định trong đơn bảo hiểm của các Công ty bảo hiểm hàng hải thường
tập trung vào các điều khoản. Còn các nguyên tắc giải quyết khi có tranh chấp xảy ra
thường được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo hiểm hàng hải. Việc tìm hiểu
các nguyên tắc này có giá trị rất lớn nhằm giảm bớt việc trục lợi trong lĩnh vực bảo
hiểm hàng hải.
b. Phƣơng pháp thực hiện đề tài (Phƣơng pháp đánh giá hiệu qủa pháp luật,
phƣơng pháp dịch thuật)
Do việc nghiên cứu MIA năm 1906 chưa có một công trình khoa học cũng như
các tài liệu dịch thuật cũng không có hầu như chỉ trích lược một số điều khoản của
Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906. Nên đề tài luận văn sử dụng một số tài liệu
Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý một điều là. Hiệu quả của pháp luật bất kỳ không
bao giờ phụ thuộc tuyệt đối vào tính đúng đắn, tính thực thi của pháp luật đó mà nó còn
bị chi phối bởi các yếu tố khác trong các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực
thương mại quốc tế như: sự phát triển của khoa học kỹ thuật dẫn đến sự thay đổi căn
bản đối tượng được bảo hiểm trong hàng hải như tàu thuyền, hàng hóa, lợi ích được
bảo hiểm, các quy tắc và tập quán trong bảo hiểm hàng hải, sự ra đời của các văn bản
pháp luật khác, sự ra đời của các bản án mang tính hướng dẫn thậm chí xung đột với
một số quy định của pháp luật do sự lỗi thời của một số quy định trong Luật… Vì vậy
khi phân tích tính hiệu quả của pháp luật, cần thiết phải tính đến sự ảnh hưởng của các
yếu tố nói trên, có vậy mới giúp ta đưa ra được những nhận định trung thực, chính xác.
4. Kết cấu nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
12
chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và ý nghĩa của sự ra đời luật bảo hiểm hàng hải Anh năm
1906
Chương 2: Một số vấn đề cơ bản của luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906
Chương 3: Thực tiễn áp dụng luật bảo hiểm hàng hải Anh
13
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ RA ĐỜI LUẬT BẢO HIỂM
HÀNG HẢI ANH NĂM 1906
1.1 Sự ra đời của luật bảo hiểm hàng hải của Anh MIA 1906
1.1.1 Sơ lƣợc về lịch sử ra đời của bảo hiểm hàng hải nói chung:
Ngành thương mại hàng hải được coi là một trong những phương thức đầu tiên
triển của ngành hàng hải nói chung là sự phát triển của ngành bảo hiểm hàng hải như
việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ. Điều này giúp cho ngành hàng hải
phát triển rất nhanh do nhu cầu tăng nhanh các tàu thuyền trên biển, việc thông thương
diễn ra trên phạm vi rộng đòi hỏi nhu cầu bảo hiểm chống lại các rủi ro và thiệt hại về
kinh tế.
Các văn bản pháp luật về bảo hiểm đầu tiên xuất hiện từ thế kỷ XV ở Barcelona,
Tây Ban Nha. Văn bản pháp luật đầu tiên này dưới dạng chiếu dụ của nhà vua nước
này năm 1435. Tiếp sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm 1458, những
sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558. Ngoài ra
năm 1563 còn có sắc lệnh của nhà vua Phần Lan liên quan đến hợp đồng bảo hiểm
hàng hoá.
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phương thức sản
xuất TBCN thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào
nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, hàng hóa cũng đa dạng được vận chuyển
ở phạm vi rộng cả thế giới. Mở đường cho sự phát triển này là luật bảo hiểm năm 1601
của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth. Sau đó là Chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên
soạn và Vua Louis XIV ban hành , đó là những đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo
hiểm hàng hải.[32]
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán và hàng
15
hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất. Tàu của các nước đi từ Châu Á,
Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ sông Thame của thành phố Luân
Đôn. Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên
chở, người bảo hiểm … để giao dịch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau.
Ông Edward Lloyds là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê ở phố
Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1692. Các nhà buôn, chủ ngân hàng, người
chuyên chở, người bảo hiểm thường đến đó để trao đổi các thông tin về các con tàu
viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về sự an toàn và tình hình tai nạn của các
chuyến tàu… Ngoài việc quản lý quán cà phê, năm 1696 Edward Lloyds còn cho ra
quen lạc hậu trước đó, và pháp điển hóa một số tập quán, án lệ thành luật. Ví dụ để hạn
chế việc trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm Luật đã quy định cấm việc đưa ra các hợp
đồng bảo hiểm hàng hải bảo hiểm đối tượng mà người được bảo hiểm không có lợi ích
(the assured had no interest). Đây là nỗ lực cho việc chấm dứt thói quen cá cước được
che dấu bằng hợp đồng bảo hiểm hàng hải của những người không có lợi ích đối với
tàu hoặc hàng hóa được bảo hiểm. Luật bảo hiểm năm 1745 đòi hỏi đem lại (procuring)
hợp đồng bảo hiểm hàng hải có lợi ích đối với đối tượng được bảo hiểm, và nó tương
tự với quy định bảo hiểm phải căn cứ trên “đơn bảo hiểm là bằng chứng của lợi ích” –
PPI - “policy proof of interest”. Quy định này cuối cùng đã bị hủy bỏ bởi Luật bảo
hiểm hàng hải 1906, mặc dù trong nhưng quy định của các đạo luật trước đó đều công
nhận việc các hợp đồng bảo hiểm có thể không có lợi ích („no interest‟ policies) trái
ngược với quy định ban hành trong Điều 4 MIA 1906 Act.
Tiếp theo là đạo luật về bảo hiểm hàng hải năm 1788 thừa nhận tất cả hợp đồng
bảo hiểm phải để trống (in blank), điều này bị coi là vô hiệu trong quy định của Luật
sửa đổi năm 1795, yêu cầu tất cả các hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải bằng văn bản và
được đóng dấu. In 1894 Dự thảo Luật bảo hiểm hàng hải (Codification Bill) được đưa
ra thảo luận tại Nghị viện Anh (House of Lords), do thượng nghị sĩ Herschell, nó chứa
17
đựng một sự thay đổi một cách nhẹ nhàng slightly altered – là nền tảng sau này cho
MIA 1906, là văn bản có tên „Một đạo luật soạn thảo về Luật liên quan đến Luật (An
Act to Codify the Law Relating to Marine Insurance‟. Hợp đồng bảo hiểm đánh cược
đã được định nghĩa tại Điều 4 MIA. Như vậy là các hợp đồng bảo hiểm “không cần
bằng chứng về quyền lợi có thể bảo hiểm” cũng bị vô hiệu như hợp đồng không có
quyền lợi có thể bảo hiểm.
Những quy định đầu tiên của của các đạo luật bảo hiểm hàng hải trước đó được
áp dụng cho thị trường bảo hiểm hàng hải tại Anh. Sau này đã được các tòa án sử dụng
để phát triển các nguyên tắc của luật bảo hiểm hàng hải được thể hiện rõ ràng nhất
trong Luật bảo hiểm hàng hải 1906 (MIA 1906). MIA năm 1906 được ban hành chủ
yếu dựa trên phán quyết của tòa án trong vòng 200 năm qua và cho đến ngày nay vẫn
thời bấy giờ - Ông Smith.G đã chỉ ra việc soạn thảo đạo luật sẽ tạo ra một sự thuận lợi
lớn cho cộng đồng thương mại, mang tính toàn diện và dễ hiểu đối với những người
chuyên kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. MIA đã đứng vững vào thời gian đó và
cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi. MIA đã tổng hợp các vụ kiệ, án lệ trước đó và
kết quả là, nó không phải luôn luôn dễ hiểu bởi một người bình thường. Ngoài ra trước
yêu cầu nảy sinh cần phải có những quy định mang tính hệ thống để cộng đồng thương
mại biết được chính xác mình phải làm gì và được phép làm gì?. MIA là một đạo luật
đáp ứng theo yêu cầu Cộng đồng thương mại hàng hải đực biệt là Hiệp hội các nhà bảo
hiểm London. Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 lúc đó đã được thông qua như
một biện pháp hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh trong lĩnh vực bảo
hiểm hàng hải. Rõ ràng rằng việc thông qua và ban hành Luật bảo hiểm hàng hải năm
1906 là một nhu cầu cấp thiết, giải quyết các tranh chấp nảy sinh ngày càng phức tạp
trong Cộng đồng thương mại hàng hải – hành trình hàng hải liên quan mật thiết đến
công việc kinh doanh của họ. Trong khi hệ thống án lệ đã trở nên phức tạp và quá
nhiều để có thể vận dụng giải quyết tranh chấp, trong khi lại chưa có một khung pháp
19
luật đơn giản và điều chỉnh hiệu quả (ineffectively legally framed) lĩnh vực bảo hiểm
hàng hải nhằm đảm bảo quyền lợi của cả người bảo hiểm lẫn người được bảo hiểm.
Nhu cầu thương mại, thói quen và tập quán cũng đặt ra nhu cầu tạo ra những
quy định luật lệ bảo hiểm hàng hải mang tính cụ thể. Cộng đồng thương mại cần thiết
sự bảo hiểm và đảm nhận những rủi ro nhằm giảm bớt thiệt hại và những điều này
được pháp luật bảo vệ. Thời kỳ này cũng là thời kỳ thịnh vượng của những hợp đồng
cá cược và đánh bạc trong thời kỳ này cũng làm tăng nhanh nhu cầu được bảo vệ về
mặt pháp lý. Hành vi này theo Luật sẽ bị trừng phạt và dẫn đến hợp đồng đó vi phạm
pháp luật và bị tuyên vô hiệu. Ngoài ra MIA cũng giúp giải quyết những trường hợp cụ
thể được coi là phức tạp và đa dạng không phải dễ dàng sử dụng án lệ để đối chiếu giải
quyết các tranh chấp xảy ra trong hoạt động bảo hiểm hàng hải. Như thế nào là vi phạm
nguyên tắc trung thực và cách thức giải quyết, giá trị và hạn mức bồi thường, cũng như
các vấn đề thế quyền đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ban hành Luật bảo hiểm hàng hải
còn mang lại cho các quy định này những cách hiểu đầy sáng tạo. Tòa án Anh đã nỗ
lực trong việc sử dụng các nguyên tắc của tòa để đem lại những kết quả mang tính linh
hoạt đáp ứng được sự hiện đại hóa luật bảo hiểm hàng hải.
Cho đến năm 1745 ở Anh, pháp luật vẫn chưa có quy định ràng buộc người
được bảo hiểm phải có hành trình hàng hải được bảo hiểm. Các hợp đồng bảo hiểm
hàng hải mang tính chất là hợp đồng đánh cước sự an toàn của tài sản được bảo hiểm
và người được bảo hiểm thắng cước nếu tàu biển bị chìm. Các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải chủ yếu dựa vào các quyết định giải quyết của Tòa án
trước đó. Do tính phức tạp của hệ thống án lệ cũng như tính đa dạng của rủi ro trong
lĩnh vực bảo hiểm hàng hải đã tạo nên khó khăn và kéo dài thời gian giải quyết tranh
chấp về bảo hiểm hàng hải. Điều này đòi hỏi có một đạo luật mới là sự tập hợp đầy đủ
các khái niệm và nguyên tắc chủ đạo , cũng như cách thức giải quyết tranh chấp, các
trường hợp miễn trách nhiệm, hạn mức bồi thường… nhằm điều chỉnh những vấn đề
21
phát sinh như để cập ở trên, đảm bảo cho quyền lợi của các bên. Luật bảo hiểm hàng
hải Anh năm 1906 đã ra đời và đáp ứng được những nhu cầu trên.
22
1.3 Ý nghĩa của sự ra đời MIA-1906
- MIA đã giúp cho việc các án lệ được tập hợp trở thành hệ thống các quy định.
Đã tạo cho các quy phạm của bảo hiểm hàng hải được áp dụng mang tính hệ thống, dễ
dàng giải quyết các tranh chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên.
- MIA đã thể hiện đầy đủ và có hệ thống các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm
hàng hải hiện đại như: nguyên tắc trung thức tuyệt đối, nguyên tắc có lợi ích thực sự,
nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc thế quyền. Các điều khoản trong MIA cũng đã đưa
ra các định nghĩa và khái niệm cơ bản trong bảo hiểm hàng hải như: hành trình hàng
hải, hợp đồng đánh cuộc, các loại tổn thất, các loại hợp đồng bảo hiểm hàng hải …
Đồng thời cũng đưa ra những nguyên tắc cụ thể áp dụng các quy định trong bảo hiểm
hàng hải về quyền lợi có thể bảo hiểm, hoàn trả phí bảo hiểm, bảo hiểm trùng, trị giá
1906 do đức Vua Vương quốc Anh với sự tư vấn và chấp thuận thông qua của Thượng
nghị viện hội đồng giáo sĩ và quý tộc Anh (the Lords Spiritual and Temporal) và hạ
viện Anh (the commons). Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 bao gồm 93 điều, có
hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1907 và kèm theo là phụ lục về: Mẫu hợp đồng
(Lloyd‟s S.G. policy) . Điều 30 MIA cũng quy định hợp đồng bảo hiểm có thể theo
mẫu trong phụ lục 1 của MIA. Song trên thực tế các bên trong hợp đồng bảo hiểm có
thể áp dụng bất kỳ mẫu nào.Và các quy tắc xây dựng hợp đồng (Rules for Construction
of Policy) bao gồm 17 quy tắc giải thích về các từ ngữ thường dùng trong hợp đồng
theo một nghĩa thống nhất. MIA gồm 14 phần, bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Lợi ích bảo hiểm (Insurable Interest),
- Giá trị bảo hiểm (Insurable Value),
- Việc khai báo và lời khai (Disclosure and Representations),
- Hợp đồng bảo hiểm (The policy), Bảo hiểm trùng, Các bảo đảm (Warranties,
& cost), Hành trình (The voyage), Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
(Assignment of Policy),
- Tổn thất và sự từ bỏ (Loss and Abandonment), Những tổn thất bộ phận (bao
gồm chi phí cứu hộ, chi phí tổn thất chung, chi phí tổn thất riêng), Partial Losses
(including Salvage and General Average and Particular Charges),
- Hạn mức bồi thường (Measure of Indemnity),
- Quyền của người bảo hiểm đối với việc thanh toán (Rights of Insurer on
Payment),
- Bảo hiểm tương hỗ (Mutual Insurance), Phần bổ sung (Supplemental).
2.1. Một số học thuyết trong Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm (MIA–1906):
25
Nội dung các nguyên tắc cơ bản của Luật bảo hiểm hàng hải Anh năm 1906 là
một trong những nội dung chính được kết cấu theo tầm quan trọng và thứ tự trong
Luật.
2.1.1. Học thuyết trung thực tuyệt đối (Utmost Goodfaith): Từ Điều 17 –
Điều 21 MIA
không có hiệu lực đối với bên kia.”
Lừa dối làm vô hiệu hóa mọi loại hợp đồng, song một hợp đồng bảo hiểm có thể
vô hiệu bằng lừa dối hoặc không cung cấp thông tin.
Trước khi một hợp đồng được giao kết, người được bảo hiểm phải khai tất cả
các sự kiện cần thiết mà mình biết, hoặc phải biết, trừ ra những gì được quy định
không cần khai nếu không có yêu cầu. Từ “tình hình cần thiết” (material
circumstance) đã được định nghĩa trong điều 18 và Điều 20 – MIA.
Nghĩa vụ của người được bảo hiểm về việc tiết lộ và cung cấp thông tin được
quy định trong Điều 18 khoản 1 và Điều 20 khoản 1 – MIA gồm Khai báo bởi người
được bảo hiểm (Disclosure by assured) và khai báo của người được bảo hiểm trong
quá trình thỏa thuận hợp đồng (Representations pending negotiation of contract):
- Đối tượng bảo hiểm được quy định trong điều khoản này, trước khi hợp đồng
bảo hiểm được ký kết (before the contract concluded) người được bảo hiểm phải thông
báo (must disclose) cho người bảo hiểm biết tất cả các chi tiết cần thiết (every material
circumstance) mà người được bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết mang tính thông
thường trong hoạt động kinh doanh của mình. Nếu người được bảo hiểm không thực
hiện việc thông báo như trên thì người bảo hiểm có thể không phải thực hiện nghĩa vụ
của mình theo hợp đồng. (the insurer may avoid the contract.)
- Mọi sự cung cấp thông tin cần thiết của người được bảo hiểm hoặc đại lý của
người đó (the assured or his agent) đối với người bảo hiểm trong quá trình thỏa thuận
trong hợp đồng (during the negotiations for the contract) và trứơc khi hợp đồng được