1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THANH HẢO
NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan
1.1.2.
Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
15
1.1.2.1.
Khái niệm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
15
1.1.2.2.
Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc
16
4
1.1.2.3.
Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
16
1.1.2.4.
Nội dung nguyên tắc
18
1.1.2.5.
Vai trò, ý nghĩa, của nguyên tắc
25
1.1.2.6.
Tầm quan trọng của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
27
1.1.2.7.
Mối quan hệ của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
với các nguyên tắc khác
29
1.2.
Hội nhập quốc tế
32
53
2.1.2.1.
Quan điểm các quốc gia về vấn đề hội nhập
53
2.1.2.2.
Tác động của hội nhập với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia
và ngược lại
55
2.1.2.3.
Ảnh hưởng của việc thực hiện nguyên tắc với hội nhập quốc tế
66
2.2.
Sự lựa chọn của các quốc gia khi tham gia hội nhập quốc tế
67
2.2.1.
Xu hướng nói không với hội nhập
68
2.2.2.
Xu hướng hội nhập không quan tâm đến chủ quyền quốc gia
69
5
2.2.3.
Xu hướng hội nhập vì mục tiêu quốc gia
71
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG
CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ GIẢI PHÁP VỚI VIỆT NAM
77
3.1.
3.2.1.
Cơ hội và thách thức khi Việt Nam hội nhập
89
3.2.1.1.
Thuận lợi của Việt Nam khi hội nhập quốc tế
89
3.2.1.2.
Thách thức của Việt Nam khi hội nhập quốc tế
91
3.2.1.3.
Tác động của hội nhập với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia
93
3.2.2.
Bảo vệ chủ quyền Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
98
3.2.3.
Một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị
102
3.2.3.1.
Giải pháp để các quốc gia nghiêm túc thực hiện nguyên tắc
102
3.2.3.2.
Một số giải pháp để Việt Nam bảo vệ chủ quyền trong tiến
trình hội nhập quốc tế
107
KẾT LUẬN
122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MFN (Most Favoured Nation)
: Chế độ tối huệ quốc
NAFTA (North American Free Trade Agreement)
: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NATO (North Atlantic Treaty
Organization)
: Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NT (National Treament)
: Chế độ đối xử quốc gia
OECD (Organization for Economic
Cooperation and Development)
: Tổ chức quốc tế về hợp tác và phát
triển kinh tế
PTA (Preferential Trade Arangements)
: Thỏa thuận thương mại ưu đãi
SEATO (Southeast Asia Treaty Organization)
: Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á
WTO (World Trade Organization)
: Tổ chức Thương mại Thế giới 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do thương mại quốc tế hiện nay, vấn
đề tôn trọng chủ quyền quốc gia ngày càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ
quyền quốc gia là tối cao, bất khả xâm phạm, mỗi quốc gia đều bình đẳng trên
trường quốc tế và có quyền tài phán tối cao trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
mình. Trong xu thế toàn cầu hóa và đa phương hóa hiện nay chỉ cần lơ là chút
Trong khuôn khổ của đề tài, luận văn đã nghiên cứu nguồn, nội dung
của nguyên tắc, làm rõ vai trò và ý nghĩa quan trọng của nguyên tắc này trong
bối cảnh toàn cầu hóa và đa phương hóa. Qua việc phân tích, bình luận để đi
tìm câu trả lời cho khẳng định đây là một trong những nguyên tắc cơ bản
nhất, ảnh hưởng nhất đến chủ quyền tối cao của mỗi quốc gia. Luận văn cũng
đưa ra những kiến nghị, chỉ ra những khó khăn và thách thức của Việt Nam
trong quá trình hội nhập. Qua đó, luận văn mong muốn đóng góp tiếng nói
khoa học pháp lý trong việc khẳng định việc tham gia vào quá trình hội nhập
là tất yếu của các quốc gia trên thế giới nhưng phải hội nhập ra sao để phát
triển kinh tế mà vẫn giữ vững chủ quyền quốc gia.
Luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo cho các cơ quan nhà nước
trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và việc bảo vệ
chủ quyền quốc gia và là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội, đại học Luật nghiên cứu, tìm hiểu về các vấn đề
liên quan đến chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được
xác định gồm:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về chủ quyền quốc gia, nguyên
tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
9
- Đánh giá những tác động của hội nhập quốc tế với chủ quyền quốc
gia và thực trạng thực hiện nguyên tắc của Việt Nam và thế giới.
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia trên thế giới và đưa ra một số giải
pháp cụ thể với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế để phát triển kinh
tế nhưng vẫn giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền
quốc gia.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
quốc gia.
Chương 3: Thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc
gia và giải pháp với Việt Nam.
11
Chương 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VỀ NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
1.1.1. Khái quát về chủ quyền quốc gia
"Quốc gia là chủ thể đầu tiên của Luật quốc tế và là chủ thể duy nhất
có chủ quyền" [16]. Theo Điều 1 Công ước Moongtevideo năm 1993 về
quyền và nghĩa vụ các quốc gia thì quốc gia được coi là thực thể chính trị
pháp lý bao gồm các yếu tố cơ bản: dân cư, lãnh thổ, bộ máy nhà nước và
quyền năng chủ thể. Chủ quyền quốc gia được coi là thuộc tính cơ bản của
quốc gia, là phạm trù chính trị, pháp lý có liên hệ mật thiết với vấn đề độc lập
chính trị, an ninh, kinh tế của quốc gia.
Hilaire Barnett cho rằng: "Chủ quyền là một học thuyết gây nên sự
tranh luận giữa các nhà triết học, luật học, chính trị học và là một khái niệm
được giải thích khác nhau dưới nhiều góc độ". Trong khoa học Luật quốc tế,
chủ quyền quốc gia là một trong những nội dung cơ bản được quan tâm,
nghiên cứu, nó có mối liên hệ mật thiết tới những vấn đề như quyền lực nhà
nước, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật và có vị trí quan trọng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các
quốc gia trong quan hệ quốc tế.
1.1.1.1. Sự xuất hiện khái niệm chủ quyền quốc gia trong lịch sử
Khái niệm chủ quyền quốc gia xuất hiện khá sớm trong lịch sử pháp
luật quốc tế và được phát triển liên tục cho đến ngày nay. Thuật ngữ "chủ quyền"
lập và chủ quyền quốc gia được thể hiện ở ba đặc tính sau: Quyền lực toàn vẹn,
quyền lực chuyên biệt, quyền lực tự chủ. Theo quan niệm này, chủ quyền
13
quốc gia phải toàn vẹn, chính quyền được phép can thiệp vào mọi lĩnh vực xét
thấy có lợi cho sự tồn tại và phát triển bền vững của quốc gia. Chủ quyền
quốc gia độc quyền trên toàn bộ lãnh thổ của mình, trừ trường hợp quốc gia tự
mình hạn chế độc quyền này bởi những cam kết quốc tế với các tổ chức quốc
tế. Chủ quyền quốc gia phải tự chủ, không lệ thuộc vào quốc gia nào trong
quan hệ đối nội và đối ngoại [65].
Như vậy, quan niệm chủ quyền quốc gia độc lập có nhiều điểm tiến bộ
hơn quan điểm chủ quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, quan điểm chủ quyền độc lập
chưa thực sự rõ ràng về nhiều phương diện nhất là vấn đề đối ngoại. Quan
niệm này mới chỉ tập trung vào một khía cạnh của chủ quyền quốc gia là lĩnh
vực đối nội mà chưa đề cập đến khía cạnh đối ngoại của quốc gia. Nó sẽ trở
thành thứ lý luận nguy hiểm khi phát triển quan niệm quyền lực tự chủ lên
thành quyền lực vô hạn, làm cho quốc gia và chính quyền trong nước bất chấp
mọi nguyên tắc, không chịu phục tùng bất cứ một quyền lực quốc tế nào.
- Một số quan niệm khác về chủ quyền quốc gia
Trong lịch sử pháp luật quốc tế còn tồn tại nhiều quan niệm về chủ
quyền quốc gia. Theo giáo sư GScelles: "Chủ quyền quốc gia tối đa nghĩa là
trong quan hệ quốc tế các quốc gia có chủ quyền tuy là không tuyệt đối nhưng
cũng đủ rộng lớn hơn chủ quyền các thực thể khác, do có chủ quyền quốc gia
đó nên các quốc gia giữ vị trí ưu thế trong xã hội quốc tế" [66].
Ngoài ra, còn có quan niệm chủ quyền đối ngoại của những nước
tham gia công ước Montevideo ngày 16/12/1933 về quyền và nghĩa vụ các
quốc gia. Theo quan niệm này, các quốc gia phải có một quyền uy chính trị đủ
năng lực pháp lý đối ngoại, chủ quyền quốc gia có nghĩa là quyền lực đối
ngoại của các quốc gia để giao tiếp với các chủ thể chính trị khác trong quan
hệ quốc tế, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
gánh vác thêm các quyền và nghĩa vụ bổ sung để duy trì hòa bình và an ninh
quốc tế.
15
1.1.1.2. Chủ quyền quốc gia theo quan niệm hiện nay
Chủ quyền quốc gia là một trong những thuộc tính chính trị pháp lý
cần thiết của quốc gia. Nội dung thực tế và cội nguồn tư tưởng của hệ chủ
quyền thay đổi trong suốt quá trình lịch sử tùy thuộc vào tính chất của hình
thái kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay, khái niệm chủ quyền trong pháp
luật quốc tế được cấu thành từ ba khái niệm quan trọng là: chủ quyền dân tộc
(quyền của mỗi dân tộc được thành lập một quốc gia dân tộc độc lập của mình),
chủ quyền quốc gia và chủ quyền nhân dân (quyền của nhân dân làm chủ
trong việc hoạch định một hệ thống kinh tế - xã hội và hình thái tổ chức nhà
nước phù hợp với mình, quyền xác định một quy chế chính trị, kinh tế, xã hội
và pháp lý cho mình.
Từ những phân tích tổng quan về chủ quyền quốc gia, ta có khái niệm
chủ quyền quốc gia như sau: "Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách
độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp của một
quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền
của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao" [59].
Chủ quyền quốc gia bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm
vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có toàn quyền quyết định mọi vấn đề
về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mình. Trong quan hệ quốc tế, mỗi
quốc gia đều có quyền quyết định mọi vấn đề về lựa chọn chế độ chính trị,
kinh tế, xã hội cũng như chính sách đối ngoại của mình mà các quốc gia khác
không có quyền can thiệp. Tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, dù khác nhau
về tính chất chính trị, trình độ kinh tế, xã hội đều được bình đẳng về chủ
quyền quốc gia, bình đẳng về sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, bình
đẳng trong quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, xã hội,
Phương diện quyền lực còn thể hiện ở quyền tài phán của các quốc gia
trong phạm vi lãnh thổ một cách không hạn chế. Quyền tài phán ở đây bao
17
gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyền lập pháp là
quyền ban hành hệ thống pháp luật của quốc gia, quyền hành pháp là quyền
triển khai việc thực thi pháp luật thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước,
quyền tư pháp là quyền phán xử đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Quyền
tài phán của quốc gia còn thể hiện với công dân của quốc gia đó. Mọi công
dân mang quốc tịch của một quốc gia chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật
quốc gia đó bất kể công dân đó đang sinh sống và cư trú trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia đó hay quốc gia khác.
Quyền lực tối cao của một quốc gia là căn cứ để quốc gia giải quyết
mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng trong
phạm vi lãnh thổ của mình, không một thế lực nào từ bên ngoài được dùng
sức ép về chính trị, quân sự, kinh tế để can thiệp vào công việc nội bộ các
quốc gia dưới mọi hình thức. Quốc gia có toàn quyền trong việc bảo vệ độc
lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình, chống mọi hành vi
xâm phạm chủ quyền quốc gia phù hợp với nguyên tắc và quy phạm pháp luật
quốc tế.
Tuy nhiên, các quốc gia không được phép sử dụng chủ quyền lãnh thổ
của mình gây thiệt hại cho chủ quyền quốc gia khác. Cụ thể: cấm đe dọa hoặc
sử dụng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia khác, cấm xâm
phạm tới sự ổn định và bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia, không được
phép sử dụng lãnh thổ của quốc gia khác khi chưa được sự đồng ý của quốc
gia đó, không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại
quốc gia thứ ba. Điều này đã được thể hiện tại khoản 4, Điều 2 của Hiến
chương Liên hợp quốc: "Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc trong quan
hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay
nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào hoặc nhằm những mục đích
kinh tế, xã hội và nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế [59].
Tuy nhiên mức độ và hình thức hợp tác tùy thuộc vào chính bảo thân
các quốc gia, tùy thuộc vào nhu cầu, điều kiện vật chất và khả năng sẵn sàng
19
thích ứng của hệ thống pháp luật trong nước thực thi mà quốc gia phải gánh
vác. Như vậy mỗi quốc gia phụ thuộc vào điều kiện của mình có quyền tham
gia hay không tham gia vào các tổ chức quốc tế hoặc tham gia ký kết các điều
ước quốc tế song phương và đa phương. Không một chủ thể nào có thể ép
buộc một quốc gia có chủ quyền tham gia vào các tổ chức quốc tế hoặc cưỡng
chế một quốc gia nào đó ký các điều ước quốc tế song phương và đa phương
nếu quốc gia đó không hoàn toàn tự nguyện.
1.1.1.3. Một số đặc tính của chủ quyền quốc gia
Thứ nhất, chủ quyền quốc gia là duy nhất và không thể phân chia.
Quốc gia là một thực thể bao gồm lãnh thổ, dân cư, nhà nước và quyền năng
chủ thể. Các yếu tố này gắn bó chặt chẽ tạo nên một thể thống nhất. Nói đến
chủ quyền người ta thường nghĩ tới quyền lực, hai khái niệm này có nhiều
điểm tương đồng và có mối quan hệ hữu cơ với nhau nhưng không thể đồng
nhất chúng. Chủ quyền và quyền lực đều có điểm chung là được biểu hiện bởi
các quyền, chúng đều được xác định là sức mạnh và được nói đến như khả
năng buộc các chủ thể khác phải phục tùng sức mạnh của mình. Tuy nhiên
điểm khác biệt cơ bản giữa chủ quyền và quyền lực là quyền lực được xác
định như một sức mạnh vật chất, có khả năng trực tiếp tác động tới chủ thể
còn chủ quyền lại được coi là thuộc tính của một chủ thể nhất định, từ thuộc
tính đó có thể lý giải tại sao chủ thể lại có quyền lực. Như vậy, bản chất của
chủ quyền quốc gia là quyền lực nhưng nó không phải là bản thân quyền lực
mà nó được hiểu là cội nguồn của quyền lực, năng lực nắm giữ và thực thi
quyền lực. Quyền lực có thể phân chia nhưng chủ quyền thì luôn luôn là duy
nhất và không thể phân chia.
Trong quan hệ quốc tế còn tồn tại những hiện tượng như chuyển nhượng
lợi ích chung của các quốc gia. Thông qua các điều ước song phương và đa
phương các quốc gia xác lập, tôn trọng lãnh thổ của nhau. Trong bối cảnh như
vậy, chủ quyền quốc gia đã có nhiều thay đổi về nội dung và ý nghĩa: Chủ
21
quyền quốc gia theo nghĩa cơ bản nhất, đang trong quá trình được định nghĩa
lại, điều này không chỉ do tác động của toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế mà
còn lý do nữa bởi một nhận thức mới đang rất phổ biến về chủ quyền cá nhân.
Khái niệm lợi ích quốc gia phải được xác định lại với ý nghĩa rộng hơn để
thúc đẩy các quốc gia thống nhất với nhau trong việc theo đuổi những mục
tiêu chung và những giá trị cùng chia sẻ. Hiện nay, nhà nước không còn là
một thực thể khép kín mà trở thành không gian thẩm thấu từ mọi phía, cần
phải luôn chứng mình đủ khả năng hoàn thành nghĩa vụ được giao. Chủ
quyền quốc gia suy cho cùng chính là lợi ích tối cao của quốc gia, đảm bảo
chủ quyền quốc gia chính là đảm bảo lợi ích của nó.
1.1.2. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
1.1.2.1. Khái niệm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lý thiết yếu của một
quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và
trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Một trong những nguyên tắc cơ bản
nhất được Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định là tôn trọng và bảo đảm sự
bình đẳng về chủ quyền quốc gia, không một quốc gia nào được can thiệp
hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia độc lập khác.
Nội dung của chủ quyền quốc gia gồm quyền tối cao của quốc gia trong
phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc
tế. Quyền tối cao của quốc gia ở trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để
giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa không có sự can
thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế. Quyền độc lập của
quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ không có một quyền lực nào,
1.1.2.3. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia là nền tảng quan trọng nhất
của toàn bộ hệ thống hệ thống các nguyên tắc của Luật quốc tế hiện đại. Nó
23
được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc Khoản 1, Điều 2 Hiến chương
Liên hợp quốc đã ghi nhận: "Tổ chức Liên hợp quốc dựa trên nguyên tắc bình
đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên" [29] và điều lệ của của
các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ
cập và tổ chức quốc tế khu vực.
Ngoài Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc này còn được đề cập
một cách đầy đủ trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản Luật quốc tế điều
chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970 với
nội dung như sau: "Tất cả các quốc gia đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
và là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, bất chấp sự khác
biệt về kinh tế, chính trị và xã hội" [35]. Nội dung cu
̉
a nguyên tắc cu
̃
ng đươ
̣
c
quy đi
̣
nh ta
̣
i điê
̉
m a, khoản 2, điều 2 của Hiến chương ASEAN "Tôn tro
̣
nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và
các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ
hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích
cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [47].
1.1.2.4. Nội dung nguyên tắc
Tôn trọng chủ quyền quốc gia từ chỗ buổi đầu tồn tại dưới dạng tập
quán quốc tế, ngày nay đã trở thành nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện
đại, là luật của luật, không chỉ đơn thuần được thừa nhận rộng rãi mà còn
được ghi nhận, khẳng định trong nhiều văn bản quốc tế đa phương, song
phương toàn cầu cũng như khu vực, các văn bản pháp luật của quốc gia. Nội
dung nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được quy định rất rõ trong
Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc và các văn bản pháp lý quốc tế khác,
trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương và được cụ thể hóa
trong luật của các quốc gia. Chủ quyền quốc gia gồm hai nội dung là quyền
tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của
quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Trong phạm vi lãnh thổ của mình quốc gia có quyền tối cao về lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
quốc gia phải do quốc gia quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức
quốc tế khác không có quyền can thiệp, mọi tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ của
quốc gia phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước mà quốc gia ký
kết hoặc tham gia không có quy định khác.
Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện ở chỗ
quốc gia có quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình, các
25
quốc gia khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt, không có một thế lực
nào cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt quốc
gia phải thực hiện. Hai nội dung của chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ,