Quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và luật bình đẳng giới ở Việt Nam. Một số kinh nghiệm nước ngoài - Pdf 25

1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH

QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƯỚC
VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ
VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM.
MỘT SỐ KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀi

Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG
CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƢỚC CEDAW VÀ LUẬT
BÌNH ĐẲNG GIỚI
7
1.1.
Vị trí của Công ước CEDAW trong Luật quốc tế về quyền
con người
7
1.1.1.
Sự hình thành và phát triển của Công ước CEDAW
7
1.1.2.
Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công

34

5
1.4.1.
Quyền bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị, công
cộng theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới
34
1.4.2.
Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề dân sự - pháp
lý theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới
39
1.4.3.
Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình
đẳng trong lĩnh vực dân sự - chính trị theo Công ước
CEDAW và Luật bình đẳng giới
41
1.5.
Điều chỉnh pháp lý quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh
vực Kinh tế - xã hội và văn hoá theo Công ước CEDAW và
Luật bình đẳng giới
44
1.5.1.
Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động,
việc làm theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giới
44
1.5.2.
Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề về y tế, giáo
dục, đào tạo
49
1.5.3.

6
2.2.1.
Về xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật
69
2.2.2.
Về bộ máy nhà nước có thẩm quyền bảo đảm thực hiện quyền
bình đẳng của phụ nữ
77

Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM ĐỂ ĐẢM BẢO TỐT HƠN QUYỀN BÌNH
ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
79
3.1.
Hội nhập quốc tế và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo
đảm quyền bình đẳng của phụ nữ
79
3.2.
Kinh nghiệm của một số nước làm bài học thực tiễn cho Việt
Nam trong bảo đảm thực thi quyền bình đẳng của phụ nữ theo
Công ước CEDAW
82
3.2.1.
Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - xã hội
83
3.2.2.
Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm
85
3.2.3.
Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá, giáo

của mình trên các mặt của cuộc sống. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xóa
bỏ những bất bình đẳng giữa hai giới đã và đang tồn tại như một tất yếu hiện
nay. Bình đẳng giới được thừa nhận đồng nghĩa với việc giới nữ tiến thêm
được một bước vững chắc trong quá trình khẳng định vị trí, vai trò của mình ở
mọi mặt của cuộc sống, đồng thời cũng tạo ra những động lực mạnh mẽ thúc
đẩy giới nữ phát huy hơn nữa năng lực của bản thân, từng bước tiến tới mục
tiêu xóa bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn ranh giới phân biệt đối xử.
Bình đẳng giới bảo đảm cho nam, nữ đều có cơ hội đóng góp công
sức vào sự nghiệp phát triển địa phương, đất nước; xây dựng một xã hội giàu
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; làm tròn trách nhiệm đối với gia đình
và được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển một cách thực
chất. Trên bình diện quốc tế, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ của toàn cầu và là một đòi hỏi tất yếu trong quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập của mỗi quốc gia.
Trong xu thế phát triển đó, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ (sau đây gọi tắt là Công ước CEDAW) được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 theo Nghị quyết
số 34/180. Được đánh giá là văn bản pháp lí quốc tế đầu tiên khẳng định
nguyên tắc không chấp nhận sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính
tương đối triệt để, Công ước CEDAW có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và là cơ sở
pháp lí quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ và thực hiện

8
quyền bình đẳng của phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới. Ngày 27/11/1981,
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước
CEDAW và trở thành thành viên thứ 35 của Công ước này. Việc phê chuẩn
và trở thành thành viên chính thức của Công ước CEDAW có ý nghĩa rất
quan trọng đối với việc phát triển pháp luật về quyền con người, đối với việc
tạo dựng hành lang pháp lí quan trọng cho việc bảo đảm các quyền bình đẳng
của phụ nữ, đồng thời là yếu tố quốc tế thúc đẩy việc xây dựng cơ chế quốc

giới ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó, không thể
không kể đến một thực tế trong pháp luật Việt Nam là các chính sách, tuy ban
hành nhiều nhưng chưa đồng bộ, một số chưa được thực hiện nghiêm túc,
nhiều chính sách chưa đi vào cuộc sống. Trong khi đó, cùng với việc tăng
trưởng kinh tế, luôn có nguy cơ gia tăng khoảng cách giới. Kết quả chúng ta
đạt được còn chưa bền vững, còn có những mặt ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống của phụ nữ và trẻ em.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: "Quyền bình đẳng của phụ nữ theo
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Luật
Bình đẳng giới ở Việt Nam. Một số kinh nghiệm nước ngoài" đã được chọn
để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ trướ c khi có Luậ t bì nh đẳ ng giớ i cho đế n nay , đã có nhiề u tá c giả
viế t về vấ n đề bình đẳ ng giớ i, đặ c biệ t là vấ n đề đả m bả o quyề n củ a phụ nữ và
nâng cao nhậ n thứ c về phụ nữ theo phá p luậ t như GS .TS Hoà ng Văn Hả o viế t
về quyề n phụ nữ trong phá p luậ t Việ t Nam, TS. Chu Hồ ng Thanh viế t về Luậ t
quố c tế về quyề n con ngườ i , Hồ Chí Minh và sự nghiệ p giải phóng phụ nữ ,
nhiều bài viết, hội thảo về vấn đề bình đẳng giới. Tuy nhiên, sau khi Luật
bình đẳng giới có hiệu lực (01/07/2007), vấn đề thực thi luật như thế nào đang
là vấn đề cần nghiên cứu. Trên thực tế nhiều quy định trong luật chưa đi vào
cuộc sống, một số chính sách chỉ là các khuyến nghị mà chưa có cơ chế thực

10
thi. Do đó, cần phải có các giải pháp cụ thể để luật đi vào cuộc sống, đảm bảo
các cam kết Việt Nam là thành viên của Công ước này.
Trướ c nhữ ng yêu cầ u mớ i : hộ i nhậ p quố c tế , tham gia và o quá trình
toàn cầu hóa, đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm làm ni bật thực trạng
pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ ở nướ c ta hiệ n nay, vấ n đề thự c thi Công ướ c
quố c tế về xó a bỏ mọ i sự phân biệ t đố i xử vớ i phụ nữ , trên cơ sở đó kiế n nghị
nhữ ng giả i phá p cho việ c đảm bả o quyề n bì nh đẳ ng giớ i trong thời gian tới.

Luậ n văn có ý nghĩa cả về mặt lý luận và th ực tiễ n. Luậ n văn đã phân
tích, đá nh giá và nêu bậ t lên quan niệ m đú ng đắ n về quyề n bì nh đẳ ng củ a phụ
nữ , vai trò củ a phá p luậ t trong việ c bả o vệ quyề n bì nh đẳ ng củ a phụ nữ , thự c
trạng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ ở nước ta hiện nay , để từ đó kiến nghị
nhữ ng phương hướ ng cơ bả n và nhữ ng giả i phá p nhằ m hoà n thiệ n phá p luậ t
bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong điều kiện hiện nay.
Luậ n văn có nhữ ng đó ng gó p chí nh sau:
Luậ n văn góp phần làm sáng tỏ và b sung thêm các vấn đề lý luận và
thực tiễn trong vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ các quyền bình đẳng của
phụ nữ cũng như các tác động của xã hội tới sự bảo vệ, chăm lo quyền lợi của
phụ nữ.
Phân tích, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật về bình đẳng giới
ở Việt Nam hiện nay, những thành quả đạt được và những tồn tại , vướng mắc
cần giải quyết. Qua đó, đề xuất phương hướ ng, giải pháp có khả năng thực thi
nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời gian tới.
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc thực hiện Công
ước CEDAW, từ đó đưa ra những giải pháp áp dụng đối với Việt Nam.

12
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền của phụ nữ theo
Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới.
Chương 2: Thực tiễn quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước
CEDAW và Luật Bình giới tại Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
để đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong hội nhập quốc tế.



14
sử quan trọng trên con đường đấu tranh giải phóng một nửa nhân loại, xóa bỏ
một trong ba bất bình đẳng lớn nhất của thế kỷ XX là bất bình đẳng về giới.
Đây là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện nhất từ trước đến nay nhằm xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng giới
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội: dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và gia đình. Công ước CEDAW là cơ sở pháp lý quan trọng cho các chương
trình hoạt động của các nhà nước, các t chức phi chính phủ, của bản thân phụ
nữ nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá, các quyền con người cơ bản, quyền
bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, cải thiện và nâng cao địa vị của người phụ
nữ trong xã hội hiện đại.
1.1.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công
ước CEDAW
Là điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực quyền con người, ngoài Lời nói
đầu, Công ước CEDAW chia thành sáu phần với 30 điều. Lời nói đầu đề cập
đến cơ sở pháp lý, tính chất bức thiết của việc soạn thảo, ban hành Công ước
CEDAW, ý nghĩa của Công ước CEDAW đối với việc bảo đảm các quyền
của phụ nữ. Phần I đề cập đến khái niệm « phân biệt đối xử » và cam kết của
các nước thành viên trong việc bảo đảm các quyền bình đẳng và các cơ hội
phát triển cho phụ nữ. Phần II đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực
chính trị. Phần III đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế - xã
hội - văn hóa. Phần IV đề cập đến các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực dân
sự. Hai phần cuối, phần V và phần VI đề cập đến vấn đề thi hành và hiệu lực
của Công ước CEDAW.
Ngoài ra, theo Nghị quyết A/54/4 ngày 6 tháng 10 năm 1999, Đại hội
đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc của Công
ước CEDAW về Ủy ban xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ để xem xét
các kháng thư của cá nhân và nhóm cá nhân khiếu nại về việc quyền lợi của
họ hoặc của người do họ đại diện bị quốc gia thành viên vi phạm. Nghị định


16
ra một định nghĩa cụ thể và đầy đủ. Nếu như trong bộ luật nhân quyền quốc tế
mới chỉ đề cập đến khái niệm này ở dạng khái quát là những hành vi phân biệt
đối xử về mặt giới tính thì trong Công ước CEDAW, khái niệm này đã được
đề cập một cách hết sức chi tiết. Định nghĩa trên đã được sử dụng một cách
thường xuyên và rộng rãi trong tất cả các Điều khoản tiếp theo của Công ước
CEDAW cũng như được coi là cách hiểu thống nhất khi đề cập đến vấn đề
nhân quyền của phụ nữ sau này. Đây có thể coi là một đóng góp có ý nghĩa
đầu tiên của Công ước CEDAW với sự nghiệp đấu tranh vì các quyền phụ nữ
trên thế giới bởi lẽ thực chất của việc bảo đảm các quyền con người cho phụ
nữ chính là việc xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ.
Các quyền bình đẳng của phụ nữ là nội dung trọng tâm của Công ước
CEDAW và được đề cập trong 14 điều khoản, từ điều 2 đến điều 16. Nếu như
các văn kiện quốc tế về nhân quyền trước đó mới chỉ đề cập đến các quyền
con người của phụ nữ ở mức độ khái quát hoặc dừng lại ở một vài khía cạnh
riêng biệt thì trong Công ước này, lần đầu tiên các quyền của phụ nữ đã được
đề cập một cách cụ thể và toàn diện nhất. Công ước CEDAW đã nêu ra một
loạt những quyền con người của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh
vực chính trị, Công ước đề cập đến những quyền chính trị cơ bản nhất của
phụ nữ như quyền bầu cử, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, quyền tham gia
quản lý các công việc của đất nước, quyền tham gia các t chức xã hội…
Trong lĩnh vực dân sự, Công ước CEDAW đã đề cập đến các quyền của phụ
nữ trong vấn đề sở hữu, quản lý và thừa kế tài sản, trong các vấn đề kết hôn,
ly hôn, các vấn đề liên quan đến tài sản và nuôi dưỡng, chăm sóc con cái.
Trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, Công ước CEDAW đã đề cập đến
quyền bình đẳng của phụ nữ trong giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe,
trong việc hưởng thụ, tham gia các hoạt động văn hóa giải trí, thể dục thể
thao… Những qui định này cũng được xây dựng trên cơ sở khẳng định những
nguyên tắc đã được đề cập trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

trong bất cứ văn kiện nhân quyền nào trước đó.

18
Tuy nhiên, có một khía cạnh rất quan trọng liên quan đến chống bình
đẳng của phụ nữ nhưng không được đề cập trong Công ước CEDAW, đó là
vấn đề bạo lực trên cơ sở giới tính. Đây có thể coi là một hạn chế lớn nhất của
Công ước CEDAW bởi lẽ bạo lực trên cơ sở giới tính là một vấn đề ni cộm,
diễn ra rất ph biến và có tác động rất xấu đến việc hưởng thụ các quyền con
người của phụ nữ. Lẽ ra, vấn đề này cần được đề cập một cách sâu rộng, làm
nền tảng cho các điều khoản cơ bản của Công ước CEDAW. Song, sự khiếm
khuyết này phần nào cũng đã được b sung trong Khuyến nghị số 19 của Ủy
ban về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, thông qua tại kì họp
lần thứ 11 năm 1992. Trong đoạn 6 của Khuyến nghị này nêu rõ:
Bạo lực giới tính là hành vi nhằm gây áp lực hoặc nhằm
điều khiển một người phụ nữ một cách không chính đáng. Nó bao
gồm những hành hạ về thể chất, tinh thần hoặc gây tổn thương hay
đau đớn về tình dục, việc đe dọa gây ra những hành động như vậy,
sự cưỡng chế và tước đoạt các tự do khác [21].
Đồng thời, Ủy ban về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ khẳng định rằng hành động bạo lực trên cơ sở giới tính chính là những
hành động bạo lực chống lại các quyền con người cơ bản của phụ nữ mà đã
được ghi nhận trong các văn kiện pháp lí quốc tế về nhân quyền, bất kể thủ
phạm gây ra hành động đó là cá nhân hay quan chức chính phủ. Trong đoạn
24(t) của Khuyến nghị này, Ủy ban đã kêu gọi các quốc gia thành viên của
Công ước tiến hành những biện pháp cần thiết để loại bỏ các hành động bạo
lực trên cơ sở giới tính. Đặc biệt, vào năm 1993, Đại hội đồng Liên hợp quốc
đã thông qua Tuyên ngôn về xóa bỏ những hành động bạo lực đối với phụ nữ.
Tuyên ngôn này đặt ra những bước hành động và kêu gọi các quốc gia và
cộng đồng quốc tế cần tiến hành để xóa bỏ tất cả các hình thức bạo lực với
phụ nữ, bất kể những hành động đó diễn ra trong đời sống công cộng hay đời

toàn xã hội đối với vai trò của người phụ nữ.

20
Theo Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 thì quyền của phụ nữ
vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng
nhằm tạo ra những điểm nhấn về nữ quyền. Bên cạnh việc xây dựng những
quy định khác nhau nhằm đảm bảo quyền của phụ nữ thì điều khác biệt chính
là về chất lượng của các quy định. Hiến pháp đã quy định quyền ứng cử vào
Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp của phụ nữ; ghi nhận công dân nữ và
nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân
phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang
nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản (Điều 64); "Hôn nhân
theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng "(Điều 65). Các quy định của Hiến pháp năm 1992 là sự khẳng định lại
những giá trị về nữ quyền đã được xác định và phát huy từ Hiến pháp 1980.
Như vậy, ở giai đoạn này, các quyền của phụ nữ ngoài sự thể hiện
trong các bản Hiến pháp, thì chưa có một đạo luật riêng nào quy định sâu sắc
về quyền của phụ nữ. Các quyền của phụ nữ cơ bản được lồng vào các lĩnh
vực khác nhau như chính sách tuyển dụng cán bộ, công chức, chính sách pháp
luật lao động, chính sách an sinh xã hội, chế độ hôn nhân, gia đình Các
quyền của phụ nữ tập trung trong Hiến pháp với tư cách là những quyền cơ
bản của công dân áp dụng đối với một số giới trong xã hội. Các văn bản pháp
luật khác lại tiếp tục cụ thể hóa các quyền đó để mang tính thuyết phục như:
Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật lao động.
Việt Nam cũng tham gia nhiều công ước quốc tế quan trọng liên quan
đến quyền của phụ nữ. Trong số đó Việt Nam đã phê chuẩn Công ước loại bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1981 (Công ước
CEDAW); Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị và
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1982. Trong

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nguyên tắc bình đẳng như sau: "Trong
quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân

22
tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo,
trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau" [35].
Khoản 1 Điều 109 Bộ luật lao động quy định: "Nhà nước bảo đảm
quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới" [29].
Điều 3 Công ước về các quyền dân sự, chính trị mà Việt Nam đã tham
gia quy định: "Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này cam kết bảo đảm
quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị
ghi trong Công ước" [19].
Như vậy, các quy định của Việt Nam và quốc tế đều xác định bình đẳng
là quyền quan trọng nhất, là gốc của các vấn đề về giới trong tương quan xã
hội giữa nữ giới và nam giới. Sở dĩ như vậy là vì bình đẳng, với tư cách là giá
trị nhân văn đồng thời là giá trị xã hội căn bản chính là cơ sở để có thể giúp
cho nam, nữ có môi trường tin cậy để có thể thực hiện được các quyền khác.
Với việc tham gia Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ từ năm 1980 và gần đây là thông qua hai đạo luật: Luật Bình đẳng
giới năm 2006 và Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, quyền của
phụ nữ ngày càng được khẳng định và trân trọng. Điều đó cũng thể hiện sự
quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với sự phát triển của
phụ nữ trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
1.2.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của Luật Bình
đẳng giới
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, kì họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 1/7/2007. Việc ban hành Luật Bình đẳng giới là hoàn toàn
đúng đắn và cần thiết, theo kịp xu hướng phát triển của thời đại trong xu

nữ, do đó, khác với tất cả các đạo luật khác, bên cạnh việc thừa nhận quyền

24
bình đẳng nam, nữ trong từng lĩnh vực cụ thể, Luật còn qui định thêm các
biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo hướng bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.
Vì vậy, bên cạnh việc thừa nhận quyền bình đẳng nam nữ trong các quan hệ
trên, Luật còn qui định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực
chính trị như: Bảo đảm thích đáng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân, bảo đảm thích đáng tỷ lệ nữ trong b nhiệm các chức danh
trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới (bởi
vì trong thực tế, tỷ lệ này thường thấp hơn nhiều so với năng lực và tỷ lệ phụ
nữ trong xã hội)
Trong lĩnh vực kinh tế, Luật qui định: Nam, nữ bình đẳng trong việc
thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý
doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường
và nguồn lao động. Để bảo đảm cho quyền bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực
kinh tế có thể trở thành hiện thực trong thực tế, Luật đã qui định thêm các
biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực này như doanh nghiệp sử
dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo qui định của
pháp luật; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư theo qui định của pháp luật.
Trong lĩnh vực lao động, Luật qui định: Nam, nữ bình đẳng về tiêu
chuẩn, độ tui khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc
làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều
kiện làm việc khác; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tui trước khi đề bạt,
b nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh.
Sau đó, Luật qui định tiếp các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh
vực lao động như: qui định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ. Đồng thời, Luật còn xác định
rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải tạo điều kiện để vệ sinh an

phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các
đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách
dân số được hỗ trợ theo qui định của Chính phủ.

26
Lĩnh vực cuối cùng về bình đẳng giới được qui định trong Luật là bình
đẳng giới trong gia đình. Luật thừa nhận vợ, chồng bình đẳng với nhau trong
quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; trong
sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ
chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; trong việc bàn bạc, quyết
định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp; sử dụng
thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo qui định của pháp luật; vợ, chồng có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung. Điểm khác biệt giữa
qui định của Luật với tư duy thông thường trong xã hội là ở chỗ, từ trước tới
nay, thời gian nghỉ chăm sóc con ốm đương nhiên là được dành cho người mẹ
và đó được coi là điều phù hợp với lẽ tự nhiên, song hiện tại, Luật lại thừa
nhận vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc sử dụng thời gian nghỉ chăm
sóc con ốm theo qui định của pháp luật. Như vậy, không chỉ có người vợ mà
cả người chồng cũng có thể nghỉ để chăm sóc con ốm tùy theo sự bàn bạc và
quyết định của vợ chồng.
Để tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tư tưởng "trọng nam khinh nữ" trong mỗi
gia đình và ngoài xã hội, để ngăn cản và đi đến xóa bỏ những thiệt thòi về
quyền lợi của các em gái và phụ nữ trong gia đình, Luật qui định rõ: Con trai,
con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học
tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển. Trước một thực trạng còn tương
đối ph biến ở Việt Nam hiện nay là trong các gia đình, sự bận rộn, vất vả
trong công việc chuyên môn và đóng góp vào thu nhập kinh tế cho gia đình
của người vợ không kém gì của người chồng, của con gái không kém so với
con trai (thậm chí trong nhiều gia đình thì người vợ còn phải chịu áp lực công
việc chuyên môn và có thu nhập cao hơn nhiều so với chồng, của con gái cao

nhân dân ban hành văn bản qui phạm pháp luật về bình đẳng giới theo thẩm
quyền; t chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương; thực hiện
thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
bình đẳng giới… Về phía các t chức khác, Luật xác định trách nhiệm cụ thể

Trích đoạn Tiêu chí quốc tế và quốc gia về quyền bình đẳng của phụ nữ trong CEDAW và Luật bình đẳng giớ Quyền bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị, công cộng theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giớ Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề dân sự pháp lý theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giớ Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng trong lĩnh vực dân sự chính trị theo Công ước CEDAW và Luật bình Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm theo Công ước CEDAW và Luật bình đẳng giớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status