ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*
* *
NGUYỄN TRẦN DUY
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 603860
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Bá Diến
Hà Nội - 2007 MỤC LỤC
15
1.1.2.2 Giá xuất khẩu
21
1.1.2.3. So sánh giá xuất khẩu và giá trị thông
thường - phương pháp xác định phá giá hàng hoá
22
1.2. Đặc điểm của bán phá giá
27
1.3. Phân loại bán phá giá
32 1.3.1. Phân loại theo Hiến chương Havana
33 1.3.2. Phân loại căn cứ vào động cơ và mục đích của chủ thể
1.4.1.3. Hành vi trả đũa
40 1.4.1.4. Nền kinh tế phi thị trường
41
1.4.1.5. Hành vi Bắt chước (Hiệu ứng Domino)
42
1.4.1.6. Tính gộp thiệt hại
43
1.4.1.7. Chống bán phá giá như một chiến lược của
48 1.4.3. Căn cứ pháp lý của hành động chống bán phá giá
52
1.4.3.1. Trên thế giới
52
1.4.3.2. Tại Việt Nam
54
CHƢƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
57
2.1. Các tiêu chuẩn cơ bản để đánh thuế chống bán
phá giá
57 2.1.1. Thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước
2.2.1.1. Cơ quan điều tra chống bán phá giá
61
2.2.1.2. Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá
64
2.2.1.3. Bộ trưởng Bộ Thương mại
65 2.2.2. Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống bán
phá giá
70
2.2.2.1. Giai đoạn khởi đầu của quá trình điều tra
70
113
3.1.2. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của
các nước đang phát triển
113 3.1.2. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán giá đối với hàng
hoá Việt Nam ở nước ngoài
114
3.1.2.1. Các vụ kiện mà hàng hóa Việt Nam đã bị kiện
bán phá giá
114
3.1.2.2. Các ngành xuất khẩu của Việt Nam có nguy
cơ bị điều tra và áp thuế chống bán phá giá
118
3.2.3. Các bất cập trong việc thực thi pháp luật chống
bán giá ở Việt Nam phá 128
3.3. Các gải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế
thực hiện pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam
133 3.3.1. Những định hướng cơ bản cho việc thực hiện pháp
luật chống bán phá giá tại Việt Nam
133
3.3.1.1. Pháp luật chống bán phá giá và việc thực
hiện chúng phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế
133
3.3.1.2. Việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật
chống bán phá giá phải được đặt trong mối quan hệ
3.3.2.1. Chi tiết hoá các quy định hiện hành về
chống bán phá giá
137
3.3.2.2. Hoàn thiện bộ máy chống bán phá giá
139
KẾT LUẬN
142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
EU
Liên minh Châu Âu
Hiệp định chống bán
phá giá
Hiệp định về chống bán giá giá của Tổ chức
Thương mại thế giới
Pháp lệnh về chống
nước.
1.2 Bán phá giá là trường hợp một mặt hàng được nhập khẩu từ nước này sang
nước khác với giá thấp hơn giá bán mặt hàng đó trong điều kiện thương mại
thông thường ở thị trường nội địa nước xuất khẩu. Trong thương mại quốc tế,
việc bán phá giá làm cho người tiêu dùng ở nước nhập khẩu có cơ hội tiếp
cận với hàng hoá rẻ hơn, nhưng đồng thời có thể gây thiệt hại cho ngành sản
xuất hàng hoá tương tự của nước nhập khẩu.
Thuế chống bán phá giá là biện pháp đánh một khoản thuế bổ sung và mặt
hàng nhập khẩu khi mặt hàng này bị bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành
sản xuất trong nước. Mục đích của việc áp dụng thuế chống bán phá giá là
nhằm triệt tiêu những ảnh hưởng bất lợi do việc hàng nhập khẩu bị bán phá
giá gây ra, bù đắp những thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh
chịu.
1.3 Thuế chống bán phá giá được áp dụng trên thế giới cách đây khoảng 100
năm và ngày càng được phổ biến rộng rãi không những ở các nước phát
triển như Hoa Kỳ, Canada, EU, Úc mà cả các nước đang phát triển như
Brazil, Achentina, Mexico, Ấn Độ, Thái Lan.
Để sớm có cơ sở pháp lý áp dụng loại thuế này cần nhanh chóng xây dựng và
ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (từ quy định mang tính chất
nguyên tắc cho đến các quy định cụ thể và cả cơ chế bảo đảm thực thi hữu
hiệu) dựa trên các hiệp định liên quan của WTO, có tham khảo tới luật và
thực tiễn áp dụng của một số nước khác.
1.4 Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các quốc gia kể cả
quan đến chính sách của chính phủ nước ngoài, nếu không xem xét toàn diện
mọi khía cạnh trước khi tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán
phá giá, sẽ dễ gây ra tác động ngược lại đối với các ngành sản xuất trong
nước và các chính sách hỗ trợ như thưởng xuất khẩu, miễn giảm thuế, xoá
nợ, khoanh nợ
1.6 Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định về chống bán phá giá trong pháp
luật quốc tế (trong khuôn khổ Hiệp định chống bán phá giá và tham khảo
một số luật chống phá giá của các nước khác) và pháp luật Việt Nam có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc chủ động hội nhập kinh tế thế giới.
Thứ nhất, việc nắm bắt các quy định của quốc tế về vấn đề này cho phép các
doanh nghiệp của Việt Nam đoàn kết, sẵn sàng và chủ động tham gia vụ kiện
về bán phá giá. Đây được xem là cơ hội để các doanh nghiệp thu thập thông
tin về vấn đề này và chứng minh tính hợp lý của giá xuất khẩu hàng hoá.
Thứ hai, việc xây dựng một hệ thống các quy định cụ thể về chống bán phá
giá và một cơ chế thực thi có hiệu quả sẽ góp phần hạn chế hiện tượng bán phá giá của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, góp phần bảo vệ sản xuất
trong nước một cách hợp pháp.
II. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI:
2.1 Mục đích:
này. Trong bối cảnh Việt Nam sẽ sớm tham gia sân chơi WTO nhưng lại đã
“có khá nhiều kinh nghiệm” về việc bị áp đặt thuế chống bán phá giá, việc
xem xét, đánh giá, tổng hợp và so sánh các quy định của Việt Nam với các
quy định của pháp luật quốc tế là điều cần làm ngay. Vì vậy, việc lựa chọn đề
tài này để nghiên cứu là cần thiết và sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về
chống bán phá giá và góp phần thực thi có hiệu quả pháp luật trong lĩnh vực
này.
2.4 Đóng góp của đề tài:
- Phân tích, đánh giá và so sánh các quy định của pháp luật của Việt Nam
về bán phá giá với các quy định của pháp luật quốc tế;
- Đưa ra những ý kiến tham khảo nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
chống bán phá giá và xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về chống bán
phá giá có hiệu quả.
2.5 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, bài luận văn sẽ được áp dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp để nghiên cứu, làm rõ các nội dung và đạt được mục đích của đề tài.
III. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI:
Luận văn sẽ được kết cấu gồm: Lời mở đầu, Phần nội dung, Kết luận, các Phụ lục
và Danh sách tài liệu tham khảo, được trình bày theo kết cấu như sau:
Lời mở đầu: sẽ nêu tính cấp thiết, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài, tình
CHƢƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1. Những khái niệm chung về bán phá giá và thuế chống bán phá giá
1.1.1. Các định nghĩa về bán phá giá
Để có thể phân tích các quy định về bán phá giá, trước tiên cần phải tìm
hiểu bán phá giá là gì. Dưới đây là một vài cách hiểu về bán phá giá.
Quan điểm thứ nhất cho rằng “bán phá giá được hiểu đơn giản là bán hàng
ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa” (Black's Law
dictionary) [75, tr. 518]. Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá
giá trước hết phải xác định được giá nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hoá tương
tự tại nước xuất khẩu. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá nội địa
không phải đơn giản và đôi khi không thể thực hiện vì hàng hóa xuất khẩu không
được bán ở trong thị trường nội địa. Mặt khác, có những trường hợp việc so sánh
giá xuất khẩu và giá bán tại thị trường nội địa đưa đến những kết luận không chính
xác do bản thân giá nội địa cũng đã thấp hơn chi phí sản xuất (mặc dù cao hơn giá
xuất khẩu).
Quan điểm thứ hai coi “phá giá là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi
phí sản xuất”. Hiện nay, quan niệm này ngày càng được nhiều người ủng hộ như-
ng cũng gây không ít tranh cãi. Những ý kiến ủng hộ cho rằng, định nghĩa như trên
phản ánh rõ nét bản chất không lành mạnh của hành vi phá giá là những toan tính
phi kinh tế nhằm mục đích gây cho đối thủ cạnh tranh những khó khăn hoặc trở
ngại trong kinh doanh để chiếm đoạt thị trường của họ. Các cuộc tranh cãi xuất
phát từ nhận thức truyền thống về phá giá là sự so sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi
phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của giá chứ chưa phải là giá bán của
của sản phẩm xuất khẩu với giá trị thông thường của nó. Ưu điểm của quan điểm
thứ ba là có sự uyển chuyển trong việc xác định giá trị thông thường với tư cách là
mức giá chuẩn để so sánh giá. Cơ quan có trách nhiệm điều tra có thể chủ động
xác định giá trị thông thường theo thứ tự ưu tiên là:
- Giá bán tại thị trường xuất khẩu;
- Giá lựa chọn từ nước thứ ba hoặc giá cấu thành.
Từ đó, những khó khăn từ thực tiễn của quá trình kinh doanh trong việc xác
định cơ cấu giá đã được tháo gỡ thông qua cơ chế định giá. Đồng thời những khó
khăn từ sự khập khễnh trong quan điểm và tập quán về cơ cấu chi phí của sản
phẩm cũng sẽ được giải quyết khi xác định giá trị thông thường là giá bán hàng
hoá tại thị trường xuất khẩu.
Trong khoa học pháp lý có thể phân biệt được hành vi bán phá giá với việc
hạ giá hoặc bán hàng hoá với giá rẻ là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng
suất. Hành vi bán hàng hoá rẻ hơn giá hàng hoá, sản phẩm tương tự tại nước nhập
khẩu là kết quả của quá trình giảm chi phí sản xuất đã đem lại lợi ích cho sự phát
triển kinh tế và thặng dư xã hội, thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh trên thị
trường tự do. Vì vậy, pháp luật coi là hành vi cạnh tranh lành mạnh, cần khuyến
khích. Phá giá là hành vi đi ngược lại các nguyên lý lành mạnh của thị trường tự
do vì đã xâm hại nguyên tắc công bằng trong đối xử về giá hoặc giành giật thị
trường một cách bất chính.
Nghiên cứu về hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế, nếu
nhìn nhận dưới góc độ quyền lợi của người tiêu dùng trong ngắn hạn thì hành vi
bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng do giá bán rẻ. Sự chênh lệch giữa
giá bán của những nhà sản xuất nội địa và giá bán của hàng nhập khẩu là thặng dư
của người tiêu dùng. Đồng thời, nó phản ánh mức độ đe dọa đối với thu nhập và
Vấn đề đặt ra là hành vi nêu trên có là cạnh tranh không lành mạnh trong
quan hệ thương mại quốc tế hay không? Nếu có thì bản chất nguy hại của nó thể
hiện ở đâu, có nên áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp này hay
không, khi bản thân hành vi thể hiện có sự phân biệt giá giữa hai thị trường mà
nhà sản xuất tham gia? Có nhiều quan điểm khác nhau khi trả lời những câu hỏi
trên.
Quan điểm thứ nhất (nhìn từ quyền lợi của các nhà sản xuất trong nước)
cho rằng hiện tượng trên thực sự đã cấu thành các dấu hiệu của việc phá giá hàng
hoá và cũng đe dọa cho lợi ích của xã hội khi mà giá bán tại thị trường nhập khẩu
thấp hơn giá bán của hàng hoá tương tự sản xuất tại thị trường nội địa của nước
xuất khẩu. Bởi lẽ khi việc phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong một thời
gian dài sẽ làm giảm giá hàng hoá cạnh tranh với hàng nhập khẩu và từ đó ảnh
hưởng lớn đến lợi nhuận của nhà sản xuất và lương của người lao động tham gia
sản xuất sản phẩm cạnh tranh trong thị trường nhập khẩu. Vì vậy, yêu cầu nhà
nước cần can thiệp để bảo hộ quyền lợi của nhà sản xuất nội địa [6, tr. 6].
Quan điểm thứ hai (nhìn từ góc độ quyền lợi của người tiêu dùng) cho rằng
lợi ích mà hành vi phá giá này đem lại là người tiêu dùng được hưởng thụ hàng
hoá và sản phẩm với giá thấp, quyền lợi của người tiêu dùng phản ánh lợi ích
chung của xã hội. Từ đó, việc có áp dụng biện pháp trừng phạt hay không sẽ phụ
thuộc vào lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn lợi ích của nhà sản xuất và của
người lao động hay không [6, tr. 7].
Nếu nhìn vào bản chất lành mạnh hay không lành mạnh của hành vi này
trong tiến trình cạnh tranh trên thị trường quốc tế dường như khó tìm thấy bản chất
bất chính (hay không lành mạnh) của nó. Bởi lẽ trong môi trường mà cạnh tranh
Tuy vậy, trong kinh tế học, đôi khi các nhà nghiên cứu kinh tế còn chỉ ra
một số trường hợp đặc biệt mà ở đó hành vi bán hàng dưới mức chi phí cần được
chấp nhận như một biện pháp kinh doanh thông thường. Ví dụ như bán hàng thấp hơn chi phí bình quân trong thời kỳ suy thoái kinh tế nhằm duy trì sản xuất; bán
hàng dưới mức chi phí khi gia nhập thị trường để giới thiệu sản phẩm, trong
trường hợp này lợi ích của người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu Mặt khác, do
phá giá là sự so sánh giá bán của hàng hoá trên hai thị trường khác nhau nên có
một số khó khăn và vướng mắc trong quá trình so sánh giá, nhất là trong việc xác
định mức độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với chi phí sản xuất do bất đồng trong
quan niệm về cơ cấu chi phí ở các thị trường khác nhau. Ví dụ ở Hoa Kỳ do đầu tư
vào cơ sở hạ tầng và máy móc thiết bị quá lớn nên thông thường định phí đối với
sản phẩm là cao; trong khi đó Nhật Bản do tập quán ít sa thải lao động và chi phí
lương lao động được coi như định phí, cho nên trong cơ cấu chi phí cố định bao
gồm cả tiền lương nhân công. Vì thế, khi điều tra và nghiên cứu phá giá đối với
trường hợp bán hàng dưới chi phí đòi hỏi cần phải cân nhắc và thận trong trong
việc xác định các biến phí cho phù hợp với sự thay đổi của các quan niệm giữa các
quốc gia về vấn đề này [6, tr. 10-13].
Tóm lại, sự thay đổi trong các quan niệm về khái niệm bán phá giá phản ánh
sự nỗ lực của con người để đi tìm những biểu hiện không lành mạnh của thương mại
quốc tế, nhằm xây dựng chính sách đảm bảo cho sự tự do của thị trường chung.
Đồng thời cũng cho thấy sự phức tạp trong việc tìm kiếm các cơ sở pháp lý bình
đẳng và công bằng để áp dụng đối với các biểu hiện bất thường về giá của kinh tế
đối ngoại.
Các phân tích cho thấy khái niệm “bán phá giá” mà quan điểm thứ ba đưa
ra là hợp lý và phù hợp với thực tiễn của thương mại toàn cầu hiện nay. Bởi lẽ, với
sự thay đổi và vận động không ngừng của thị trường, việc đưa ra những căn cứ cố
Quan điểm thứ hai xác định cơ sở của phá giá là giá xuất khẩu và chi phí
sản xuất hàng hoá đó tại nước xuất khẩu. Theo đó, hàng hoá được coi là bán phá
giá khi giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất [27, tr. 346]. Cách tiếp cận này đã
cho thấy rất rõ bản chất phi kinh tế của bán phá giá là chấp nhận lỗ hoặc chấp nhận không có lợi nhuận vì những mục đích không lành mạnh trong thương mại
quốc tế. Quan điểm này đã được một số nhà kinh tế học đánh giá là một bước
chuyển biến trong nhận thức về phá giá chuyển từ tìm kiếm bản chất phá giá qua
phân biệt đối xử qua giá sang việc xác định bản chất phi kinh tế của hành vi. Tuy
nhiên, nếu chỉ theo đuổi bản chất kinh tế của hành vi phá giá thì trong nhiều
trường hợp chi phí sản xuất hàng hoá cũng chưa thực sự là trung thực khi mà bản
thân các yếu tố cấu thành chi phí của nó là không bình thường. Mặt khác, sự khác
nhau trong quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí trong tập quán kinh doanh
giữa các khu vực thị trường khác nhau cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự chính xác
trong việc xác định phá giá như kết cấu về định phí và biến phí trong sản xuất
hàng hoá. Bên cạnh đó, giá cả của hàng hoá không chỉ phán ánh ở chi phí mà còn
bao gồm cả phần lợi nhuận hợp lý mà nhà sản xuất được hưởng. Do đó, chỉ dựa
vào yếu tố chi phí để so sánh với giá xuất khẩu là không công bằng đối với nhà
sản xuất hàng hoá bị điều tra và trong thực tế không đem lại kết quả chính xác
trong xác định phá giá quốc tế.
Vì vậy, quan điểm kết hợp cả hai nguyên tắc nêu trên trong xác định phá giá
quốc tế đã được nhìn nhận và thể hiện rõ nét trong các Hiệp định về phá giá của các
tổ chức kinh tế quốc tế như EU, WTO và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo đó, phá giá được thừa nhận là sự phân biệt giá và là kết quả của việc so sánh
giá, khi mà giá xuất khẩu đã thấp hơn một giá trị chuẩn hay còn gọi là giá trị thông
thường.
Ngoài việc xác định yếu tố tương tự đối với hàng hoá được tiêu dùng trong
thị trường nội địa, nguyên tắc đại diện còn đòi hỏi phải xác định mức độ đại diện
thông qua doanh số bán của sản phẩm tương tự. Theo luật phá giá của WTO,
doanh số bán hàng trong nước phải tương đương ít nhất là 5% doanh số bán của
hàng hoá đang được xem xét bán cho người mua độc lập ở tại thị trường nhập
khẩu [21, đ. 2.2].
Nguyên tắc trung thực của thị trường nước xuất khẩu: một trong những yêu
cầu cơ bản của việc xác định giá trị thông thường là giá cả của sản phẩm tương tự
tại nước xuất khẩu phải là kết quả của sự vận động của các nguyên lý thị trường.
Do đó nguyên tắc trung thực chỉ thừa nhận giá cả của sản phẩm tương tự đang lưu
hành ở thị trường xuất khẩu là giá trị chuẩn khi nó được hình thành trong tiến trình
thương mại thông thường. Theo đó, những tình huống giá sau đây được coi là giá
bán không nằm trong tiến trình thông thường:
(i) Giá cả của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu thấp hơn giá thành sản
xuất (thấp hơn chi phí sản xuất) [6, tr. 13].
Giá cả hàng hoá trên thị trường luôn chịu sự chi phối của quy luật giá trị và
quan hệ cung cầu. Khi giá hàng hoá tại nước xuất khẩu thấp hơn chí phí sản xuất
có nghĩa là bản thân nó đã không phản ánh một cách trung thực quan hệ cung cầu
trên thị trường của hàng hoá. Vì thế, giá sản phẩm thấp hơn chí phí sẽ không được
sử dụng làm giá trị thông thường. Vấn đề trong thực tiễn đặt ra là trong quá trình
mua bán sản phẩm tương tự ở nước xuất khẩu không phải toàn bộ lượng sản phẩm
được lưu hành đều được bán dưới mức chí phí mà có thể chỉ có một số lượng nhất
định nào đó, ở một vài khu vực thị trường nhất định hoặc trong những giao dịch
nhất định, hàng hoá đã được bán dưới chi phí, phần còn lại giá cả của sản phẩm