Chơng I
Cơ sở khoa học của việc áp dụng thuế
chống bán phá giá
I. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của thuế chống bán
phá giá
1. Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá
Khái niệm bán phá giá trong thơng mại quốc tế có một lịch sử lâu đời.
Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đã cảnh
báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nớc khác để
nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trờng. Những trờng hợp bán phá giá của các nhà
sản xuất Anh tại thị trờng mới mẻ ở nớc Mỹ đã đợc báo cáo. Cuộc tranh luận
của công chúng về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập pháp nhằm đối
phó với nó cũng đợc ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19. Đầu thế kỷ XX, Đạo luật
chống bán phá giá cụ thể đầu tiên đợc ban hành ở Canada năm 1904. Sau đó
Luật chống bán phá giá đợc ban hành tại Newzealand năm 1905, Australia năm
1906 và Nam phi năm 1914. Nớc Mỹ có Đạo luật chống bán phá giá năm 1916
và nớc Anh có vào năm 1921.
Khi xây dựng Hiệp định chung về Buôn bán và Thuế quan (GATT) năm
1947, một điều khoản đặc biệt về các trờng hợp chống bán phá giá đã đợc soạn
thảo. Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết đợc sử dụng các sắc thuế
chống bán phá giá để bù trừ mức phá giá của các hàng nhập khẩu, miễn là
chứng minh đợc việc bán phá giá đang gây ra, hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật
chất cho các ngành công nghiệp nội địa có cạnh tranh. Cho đến nay, đây vẫn là
luật quốc tế cốt lõi về việc bán phá giá.
Tuy nhiên, một số quốc gia trong GATT nhận thấy rằng có một số nớc đã
áp dụng Luật chống phá giá để dựng lên những hàng rào thơng mại mới, các thủ
tục chống bán phá giá, những cách tính toán mức phá giá đã gây thiệt hại làm
hạn chế và lệch lạc các dòng thơng mại quốc tế. Tại vòng đàm phán Kennedy
của GATT (1962 - 1967) các bên ký kết GATT đã thảo luận bộ luật chống bán
-1-
phá giá, đặt ra một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho việc áp dụng
-2-
khi một loạt câu hỏi đợc đặt ra cần giải quyết khi so sánh giá để đảm bảo
sự chính xác và công bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay giá
bán lẻ? Giá xuất khẩu là giá nào? ...
2.2 Thuế chống bán phá giá: là một sắc thuế mà nớc nhập khẩu đánh vào
một mặt hàng nhập khẩu đợc bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp
diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất mặt
hàng tơng tự ở trong nớc.
3. ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của việc bán giá đợc đánh giá một cách đơn giản theo hình dới
đây. Trớc khi có việc hàng của nớc đợc bán vào thị truờng một nớc với giá thấp
hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E, với giá P1 và l-
ợng tiêu thụ Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nớc. Tuy nhiên, khi có nguồn
hàng nớc ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lợng tiêu thụ tăng lên Q2, trong khi
đó lợng hàng sản xuất trong nớc giảm xuống chỉ còn Q2, lợng hàng nhập khẩu
là Q2 - Q2.
Từ hình này cho thấy thặng d của ngời tiêu dùng tăng thêm một lợng
bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng d của nhà sản xuất trong
nớc giảm một lợng bằng diện tích hình thang ABCE.
-3-
D
SF
P1
A
B
C
E
S
P
P2
ờng nớc xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trờng đó.
Nh vậy đã xảy ra việc bán phá giá nh định nghĩa ở trên.
Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trờng nớc nhập khẩu thay
đổi (do cạnh trạnh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hởng đến lợi ích của nớc
nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống đối lại.
-4-
Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lợng lớn và trong
thời gian dài, làm giảm giá ở thị trờng nớc nhập khẩu sẽ gây tác động đến lợi
ích của nớc nhập khẩu. Ngời tiêu dùng sẽ đợc lợi từ giá thấp nhng ngợc lại các
nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị thiệt hại vì lợi
nhuận và lơng bị giảm. Lợi ích cuối cùng của nớc nhập khẩu phụ thuộc vào việc
lợi ích của ngời tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của ngời sản xuất và công nhân
hay không.
Ngay cả trong trờng hợp về tổng thể nớc nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó
có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá của hãng đó
nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lập luận rằng do điều kiện thị tr-
ờng của nớc nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể tham gia thị
trờng đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nớc
nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp đợc phép khác nh tự vệ.
Tr ờng hợp thứ hai : Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Trớc hết, để hiểu đợc ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi
phí, cần phân biệt các loại chi phí.
Thông thờng, chi phí sản xuất đợc phân biệt theo 2 loại: chi phí bình
quân (average cost) và chi phí lề (marginal cost).
Chi phí bình quân đợc tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải
chịu chia cho lợng sản phẩm sản xuất ra.
Chi phí lề là chi phí phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi
phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lợng sản xuất, chỉ có một phần
nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lợng sản xuất thay đổi. Chính chi phí lề là
với một triệu chiếc radio đầu tiền. Nếu nó có thể xoay xở bán đợc một triệu
chiếc radio thứ hai này mà không ảnh hởng gì tới giá bán một triệu chiếc radio
đầu tiên, vậy thì bất cứ mức giá nào cao hơn mức chi phí biến động 10 USD/
chiếc cũng làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty. Thí dụ nó bán radio làm ca
đêm với giá 14 USD, thì nó lãi thêm 4 triệu USD (ngoài số lãi 4 triệu USD từ
một triệu chiếc radio đầu tiên làm ca ngày), tức là tăng gấp đôi lợi nhuận. Dĩ
nhiên, việc bán sản phẩm ca đêm không đợc ảnh hởng tới giá trị bán của một
triệu radio đầu tiên làm ca ngày. Điều này dẫn đến việc phải tìm kiếm một thị
-6-
trờng khác hẳn cho sản lợng của ca đêm. Thị trờng mới này phải đảm bảo
không dễ gì chuyển ngợc hàng trở lại thị trờng thứ nhất, nếu không thì giá bán
của radio làm ca ban ngày sẽ bị cắt xuống tới mức thấp hơn giá thành.
Một phơng cách để thực hiện việc trên là tính giá bán khác nhau ở những
khu vực khác nhau, với điều kiện chi phí vận chuyển hàng theo chiều ngợc lại
phải đủ cao để ngăn không cho ngời mua ở thị trờng giá rẻ đem bán lại ở thị tr-
ờng giá đắt. Trong trờng hợp xuất khẩu sản phẩm, các Chính phủ có thể dựng
hàng rào thuế quan ngăn cản việc chở hàng hoá ngợc về thị trờng gốc. Nh thế,
nếu có một mức thuế quan 40% đánh lên radio nhập khẩu, thì sản lợng của ca
đêm có thể bán sang nớc ngoài sẽ chở radio ngợc về thị trờng giá gốc để làm
giảm giá bán tại thị trờng nội địa.
Có thể chứng minh những lập luận trên bằng trờng hợp điển hình về bán
phá giá đã xẩy ra trên thơng trờng quốc tế sau đây:
Từ những năm 1960, sáu công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là
Hitachi, Misubishi, Masushita, Sanyo, Sharp và Toshiba đã
cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhng ngày 10/09/1964, họ đã thoả thuận thống
nhất nâng giá bán, quy định sản lợng của mỗi công ty. Kết quả của việc thoả
thuận này là trong nhiều năm trời, ngời tiêu dùng ở Nhật phải trả 700 USD cho
một tivi màu, trong khi các công ty đó ở Mỹ chỉ với giá 400 USD cho một tivi
mầu cùng loại. Việc bán phá giá tivi Nhật ở Mỹ làm cho các công ty Mỹ không
chịu nổi quá trình cạnh tranh. Cho đến năm 1989, sáu hãng tivi lớn và nhiều
C
3
C
1 2 3
B
P
B
=500
D
C
N
2
C
T
Nếu ba doanh nghiệp cạnh tranh bằng giá với nhau, thị trờng sẽ cân bằng
ở điểm C, giá bán là P
c
=450 USD và bằng chi phí bình quân thấp nhất của mỗi
doanh nghiệp ở điểm D. Nh vậy, cả ba doanh nghiệp đều chỉ hoà vốn.
Giả sử ba doanh nghiệp thoả thuận giảm 40% sản lợng từ q
c
=1,5 triệu
còn q
T
= 0,9 triệu tivi. Lúc này, giá mà thị trờng chấp nhận là P
T
= 700 USD, thị
trờng cân bằng ở điểm T. Do sản lợng giảm, chi phí bình quân tăng từ 450 USD
ở điểm D, lên 500 USD ở điểm B. Tuy nhiên, do giá tăng rất mạnh, từ 450 USD
lên 700 USD, nên mặc dù sản lợng giảm, chi phí tăng, các doanh nghiệp vẫn có
vừa có thoả thuận vừa có xuất khẩu). Còn nếu so sánh khi các doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau trong nớc, lợi nhuận đã tăng từ 0 triệu lên đến 65 triệu
USD. Nếu chi phí sản xuất tivi ở Mỹ là 400USD, tức là thấp hơn của Nhật bản
là 450USD, thì để có lãi, giá bán tivi của Mỹ phải trên 400USD. Nếu các doanh
nghiệp Nhật bản xuất khẩu sang Mỹ với giá 400USD thì rõ rằng là các doanh
nghiệp Mỹ không chịu đựng nổi. Và nh đã nêu ở trên, sau 30 năm bán phá giá,
Nhật bản đã đánh bại công nghiệp tivi của Mỹ, mặc dù chi phí sản xuất của các
công ty Nhật bản có thể cao hơn các công ty Mỹ.
Mô hình nêu trên đã chứng minh một khả năng là: Một nớc có trình độ
công nghệ không cao hơn, có chi phí sản xuất cao hơn vẫn có thể xuất khẩu
sang nớc có chi phí sản xuất thấp hơn, với một giá thấp hơn chi phí của nớc chủ
nhà, vừa chiếm đợc thị trờng mà vẫn gia tăng đợc lợi nhuận.
Bản chất kinh tế của chiến lợc này là: Hạn chế tối đa nhập khẩu, thoả
thuận trong nớc về giá và xuất khẩu với giá tiêu diệt địch thủ:
Bằng cách hạn chế nhập khẩu và thoả thuận giữa các doanh nghiệp,
các doanh nghiệp đẩy đợc giá trong nớc lên cao làm tăng lợi nhuận
(điều này làm thiệt hại ngời tiêu dùng trong nớc).
Bằng cách xuất khẩu để sử dụng tối đa công suất, các doanh nghiệp
lại giảm đợc chi phí, từ đó lại tăng thêm đợc lợi nhuận của phần sản
phẩm bán trong nớc. Chính phần lợi nhuận tăng thêm này là nguồn
tài chính để bù lỗi việc bán phá giá ở nớc ngoài.
Nh vậy, trong một cơ chế thị trờng có sự hỗ trợ của Nhà nớc nh trên
(khuyến khích thoả thuận, bảo hộ mậu dịch và trợ cấp sản xuất xuất khẩu),
chính ngời dân Nhật bản là ngời gánh chịu cái giá của sự mở rộng thị trờng
quốc tế của Nhật. Họ phải mua hàng với giá cao ở trong nớc để tài trợ cho các
doanh nghiệp bán phá giá ở nớc ngoài, còn bản thân các chủ doanh nghiệp vẫn
thu đợc lợi nhuận cao dù phải bán phá giá để chiếm thị trờng mới.
Cũng có những trờng hợp các hãng bán với giá thấp hơn chi phí lề.
Trong các trờng hợp này không thể xem xét nguyên nhân hành động của các
hãng với mục tiêu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác.
- Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hớng vào giúp đỡ phát triển
sản xuất. ở các nớc công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm
một nửa toàn bộ khối lợng tài trợ. Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho
-10-
từng ngành trong tổng số giúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau đáng
kể giữa các nớc. Nh ở Anh, ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần lớn.
- u đãi về thuế: Những u đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng đợc áp
dụng rộng rãi ở nhiều nớc, mặc dù ít khi đợc phản ánh trong các chỉ
tiêu của Chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất
chuẩn. ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng không lớn, còn ở Mỹ
thì tổng số u đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lợng trợ
cấp.
- u đãi về tín dụng: Những u đãi về tín dụng là sự cho vay của Chính phủ
với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trờng vốn. ở các nớc
thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lợng giúp đỡ
cho công nghiệp đợc thực hiện dới hình thức tín dụng u đãi. Phần lớn
khối lợng tín dụng của Chính phủ Nhật bản cấp cho các hãng vừa và
nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị trờng vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thờng xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là bảo
lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ đợc. Phơng pháp tài trợ này thờng
dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của n-
ớc mình. Theo đánh gái, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến 8%
tổng tài trợ công nghiệp ở các nớc công nghiệp phát triển.
- Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của
Chính phủ vào chi phí kinhdoanh thờng là 15% tổng tài trợ trở xuống.
Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nớc trong hoạt động kinh
doanh có xu hớng giảm. Phơng pháp này đợc sử dụng để bù đắp những
tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái.
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn đợc Chính phủ các nớc phơng Tây duy
hụt ngoại tệ.
5.6 Một số nớc làm ra đợc một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ sử
dụng lao động trẻ em tiền lơng thấp và sử dụng lao động của tù nhân
làm hàng xuất khẩu
Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn
thế giới hiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 - 14 tuổi đang tham gia một hoạt động
-12-
kinh tế. Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các nớc
nghèo, cứ 4 trẻ em thì có một trẻ em làm việc nh ngời lớn.
Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc
mang lại siêu lợi nhuận, nó còn là cách để cạnh tranh đối với các đối thủ làm
ăn. Nhờ giá nhân công rẻ mạt, ngời ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu
hàng hoá bán phá giá ở nớc ngoài.
5.7 ở Việt Nam có hiện tợng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu
trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nớc ngoài để kinh
doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lợng lớn
Để làm đợc việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trờng, có lúc bán ồ ạt
chịu lỗ từ 10 -20% so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi
buôn mặt hàng khác có lãi suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng nhập trả
chậm, mà còn có lãi lớn.
Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính toán
trên là xăng dầu, thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân Urê
Indonesia nhập vào Việt nam đang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF Cảng Sài
gòn), nhng giá bán buôn cả tàu tại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
liên tục giảm xuống chỉ còn 245đồng/kg.
Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lợng lớn trong những năm vừa
qua thu đợc lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnh thị
trờng với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nớc, loại khỏi thị trờng các
doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Tóm lại, có rất nhiều trờng hợp các hãng nớc ngoài có thể xuất khẩu
-14-
B
SF +T
G
A
C
E
S
P
P1
Q2
Q1
Q1
P2
T
SF
Q2
H
N
M
J
D
Q
Ngoài tác động bảo hộ của thuế chống phá giá nh phân tích trên đây, quá
trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống phá giá cũng phần nào có tác động bảo
hộ. Ví dụ, bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống phá giá có nghĩa là
trong tơng lai rất có thể thuế chống phá giá sẽ đợc áp dụng, làm cho sản phẩm
là đối tợng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, nh vậy
phần nào đã ngăn cản dòng hàng hoá nhập khẩu.
II. Giới thiệu Hiệp định chống bán phá giá của WTO
BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
1.3 Tính biên độ phá giá
Cách tính GTTT:
Trờng hợp không có giá nội địa của SPTT ở nớc xuất khẩu do:
- sản phẩm không đợc bán tại nớc xuất khẩu trong điều kiện thơng mại
thông thờng; hoặc
- có bán ở nớc xuất khẩu nhng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
- số lợng bán ra không đáng kể (<5% số lợng SPTT bán ở nớc nhập
khẩu) thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nớc thứ ba; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý
chung...) + lợi nhuận
Trờng hợp SPTT đợc xuất khẩu từ một nớc có nền kinh tế phi thị trờng (giá
bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào và do chính phủ ấn định) thì các quy tắc
trên không đợc áp dụng để xác định GTTT.
Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nớc ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên.
Trờng hợp giá bán SPTT không tin cậy đợc do:
- giao dịch xuất khẩu đợc thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc
- theo một thoả thuận đền bù nào đó
thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu đợc bán lần đầu tiên cho một ngời
mua độc lập ở nớc nhập khẩu.
-16-
So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định quy định
nguyên tắc so sánh nh sau:
So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thơng mại (cùng xuất x-
ởng/ bán buôn/ bán lẻ), thờng lấy giá ở khâu xuất xởng;
Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt.
2. Xác định thiệt hại
2.1. Định nghĩa thiệt hại:
Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nớc (thiệt hại
hiện tại); hoặc
Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong
nớc (thiệt hại tơng lai); hoặc
Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nớc (không có
quy định cụ thể)
Nh vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
Khối lợng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách
đáng kể không?
Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng
nhập khẩu đó:
có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nớc nhập khẩu nhiều
không?
có làm sút giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trờng nớc nhập
khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra đợc nhập khẩu từ nhiều nớc: đánh giá
gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lợng hàng nhập khẩu từ mỗi nớc
>= 3% khối lợng nhập khẩu SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một
ngành sản xuất trong nớc phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh hởng
đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau:
Năng suất
Thị phần
-18-
Biên độ phá giá
Giá nội địa ở nớc nhập khẩu
Suy giảm thực tế và nguy cơ giảm doanh số bán hàng
Số lợng hàng tồn kho
ngành sản xuất trong nớc là các nhà sản xuất còn lại.
Lãnh thổ nớc nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trờng riêng: các nhà
sản xuất ở mỗi thị trờng có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu:
+ bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trờng đó;
và
+ nhu cầu của thị trờng đó đối với SPTT nhập khẩu từ nớc khác là
không đáng kể.
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một số sản
phẩm bị bán phá giá sẽ đợc tiến hành khi:
có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc đại diện cho
ngành sản xuất trong nớc đề nghị điều tra phá giá; hoặc
không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc đại
diện cho ngành sản xuất trong nớc hoặc đại diện cho ngành sản xuất
trong nớc nhng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về việc bán
phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này.
Đơn đề nghị điều tra phá giá phải bao gồm những thông tin sau:
Tên ngời nộp đơn, số lợng và giá trị của sản phẩm tơng tự do ngời
nộp đơn sản xuất trong nớc. Nếu đơn đợc nộp đại diện cho ngành sản
xuất trong nớc thì đơn phải nêu danh sách tất cả các nhà sản xuất sản
phẩm tơng tự trong nớc và số lợng, giá trị của các sản phẩm tơng tự
trong nớc và số lợng, giá trị của các sản phẩm tơng tự do các nhà sản
xuất này sản xuất;
Mô tả sản phẩm đang nghi ngờ bị bán phá giá, xuất xứ hàng hoá, tên
nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất nớc ngoài;
-20-
Giá sản phẩm liên quan khi tiêu thụ ở thị trờng trong nớc sản xuất
hoặc nớc xuất khẩu, hoặc giá mà sản phẩm liên quan đợc bán cho ng-
ời mua độc lập đầu tiên ở nớc nhập khẩu;
Số lợng nhập khẩu của sản phẩm đang bị nghi ngờ phá giá, ảnh hởng
Ngay khi bắt đầu điều tra, cơ quan điều tra sẽ gửi nguyên văn đơn đề nghị
điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nớc xuất khẩu và các
bên quan tâm khi có yêu cầu.
Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện cho
các bên quan tâm bảo vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi đối
nghịch để trao đổi quan điểm và đa ra thoả thuận. Các bên quan tâm có quyền
trình bày các thông tin khác bằng miệng, nhng sẽ chỉ đợc cơ quan điều tra lu ý
tới khi đợc soạn lại băng văn bản và gửi cho các bên quan tâm khác.
Bất kỳ thông tin nào có tính bí mật (chẳng hạn, bị đối thủ cạnh tranh lợi
dụng hoặc gây tác hại cho ngời cung cấp thông tin) hoặc đợc các bên cung cấp
một cách bí mật sẽ không đợc tiết lộ nếu không đợc bên cung cấp cho phép.
Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra ở nớc ngoài nếu cần thiết để
thẩm định các thông tin cung cấp hoặc để tìm hiểu thêm chi tiết với điều kiện
đợc sự đồng ý của các công ty liên quan và thông báo cho đại diện chính phủ
nớc này và các nớc không phản đối.
Cơ quan điều tra sẽ tính biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu hoặc
nhà sản xuất sản phẩm đang bị điều tra. Trờng hợp không tính đợc biên độ phá
giá riêng do số nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại sản
phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan điều tra có thể giới hạn diện điều tra tới
một số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc giới hạn ở một số loại sản
phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn ở tỷ lệ phần
trăm lớn nhất của khối lợng hàng xuất khẩu từ nớc liên quan.
Việc chọn các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc loại sản
phẩm để điều tra giới hạn sẽ đợc tiến hành trên cơ sở tham khảo ý kiến và có
sự đồng ý của các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có liên quan.
Trong trờng hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra nh nêu trên, họ vấn
có thể tính biên độ phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất mà
-22-
ban đầu không đợc đa vào diện điều tra nhng đã cung cấp thông tin đúng thời
hạn.
cam kết tăng giá lên hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào khu vực thị trờng đang
điều tra và đợc cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục đợc
thiệt hại. Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn hơn mà thờng là nhỏ hơn biên
độ phá giá nếu nh đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong nớc.
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá
nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn nh khi số lợng nhà xuất khẩu
thực tế quá lớn. Trong trờng hợp này, cơ quan điều tra sẽ giải thích rõ lý do
không chấp nhận cam kết giá với các nhà xuất khẩu.
Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá gá
và thiệt hại vẫn có thể đợc hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn nh vậy và cơ quan
điều tra đồng ý. Trong trờng hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là không có
phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết giá sẽ đơng nhiên chấm dứt,
trừ khi kết luận trên đợc rút ra trong bối cảnh đã cam kết giá rồi. Trờng hợp
này cam kết giá sẽ duy trì trong thời hạn hợp lý.
Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhng nhà xuất
khẩu không bắt buộc phải cam kết.
Các cơ quan hữu quan của nớc nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất
khảu nào đã chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về thực hiện
cam kết giá. Trờng hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra
có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở các thông tin mà họ có
(best information).
8. áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá
Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuế
tơng đơng hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nớc nhập
khẩu quyết định.
Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác định biên
độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất. Thuế chống bán phá giá
sẽ đợc áp dụng cho từng trờng hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa
-24-
hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn đợc coi là gây thiệt hại, trừ trờng hợp đã
-25-