ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ NAM HẢI
TƢ TƢỞNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VỀ
QUYỀN CON NGƢỜI VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Đào Trí Úc
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
quyền con người 23
1.3. Sự tƣơng đồng của Phật giáo và tƣ tƣởng về quyền con ngƣời 25
1.3.1. Nhân sinh quan Phật giáo 25
1.3.2. Tư tưởng về nhà nước và xã hội trong kinh điển Phật giáo 27
Chƣơng 2: TƢ TƢỞNG PHẬT GIÁO VỀ MỘT SỐ QUYỀN VÀ TỰ
DO CỦA CON NGƢỜI 34
2.1. Quyền sống 34
2.2. Quyền không bị tra tấn 45
2.3. Vấn đề quyền tự do, bình đẳng 47
2.4. Vấn đề không phân biệt đối xử 51
2.5. Vấn đề dân chủ 57
2.6. Quyền tự do tƣ tƣởng, tín ngƣỡng, tôn giáo 63
Chƣơng 3: NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG TƢ TƢỞNG CỦA PHẬT
GIÁO VỀ QUYỀN CON NGƢỜI CÓ THỂ KẾ THỪA,
PHÁT HUY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 71
3.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về quyền con ngƣời và về việc phát huy các giá trị
nhân văn của Phật giáo trong đời sống xã hội 71
3.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về quyền con người 71
3.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về việc phát huy các giá trị nhân văn của Phật giáo 78
3.2. Tƣ tƣởng Phật giáo với việc xây dựng nền văn hóa nhân quyền 79
3.2.1. Nền văn hóa nhân quyền 79
3.2.2. Phật giáo Việt Nam tham gia xây dựng nền văn hóa nhân quyền 84
3.3. Tƣ tƣởng Phật giáo trong việc giáo dục, xây dựng lối sống
đạo đức và có ý thức chấp hành pháp luật 88
3.3.1. Phật giáo Việt Nam góp phần giáo dục đạo đức xã hội 88
3.3.2. Phật giáo Việt Nam xây dựng ý thức chấp hành pháp luật 94
3.4. Kế thừa đạo đức nhân văn của Phật giáo trong công tác
UDHR
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người (Nhân quyền - Human Rights) là một phạm trù đa
diện và có nhiều định nghĩa, các nhà nghiên cứu cho rằng quyền con người đã
tồn tại ngay từ buổi ban sơ trong lịch sử xã hội loài người; mặc dù có nhiều ý
kiến đánh giá và cách giải thích khác nhau, nhưng phải đến sau Chiến tranh
thế giới lần thứ hai (1945), khái niệm “quyền con người” mới thực sự được đề
cập rộng rãi trong cộng đồng nhân loại.
Theo dòng chảy lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung, lịch sử tư tưởng,
triết lí về quyền con người nói riêng, có thể thấy rằng những giá trị phản ánh
về quyền con người đã tồn tại trong đời sống xã hội loài người từ nhiều thế
kỷ trước đây, mặc dù không được nói đến trong cụm từ “quyền con người”
nhưng những giá trị của quyền con người, ở những mức độ khác nhau đã
được nêu ra trong những tác phẩm của các triết gia, các nhà tư tưởng lớn, nó
xuất hiện và tồn tại trong giáo điều và quy định của các tôn giáo, trong pháp
luật của các quốc gia, biểu hiện trong văn hóa truyền thống của nhiều dân
tộc khác nhau…
Quyền con người là phổ quát, là giá trị chung của nhân loại, đảm bảo
quyền con người là mục tiêu hướng đến của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, để quyền con người được tôn trọng và đảm bảo trên thực tế là một
quá trình và cần có sự tham gia của nhiều thành tố trong xã hội.
Ngày nay, chúng ta thấy rằng tư tưởng, triết lí Phật giáo không xa rời
thực tiễn mà trái lại Phật giáo nói đến những vấn đề gắn bó mật thiết với cuộc
sống của con người. Chúng ta hãy cùng xem xét những lời nói của Đức Phật
làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội,
3
trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của
phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây
dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm
giá con người” [8]; „„Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng
thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền
con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của
nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà
trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc
chăm lo, xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm
chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn
hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính. Xây dựng gia đình no ấm,
tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường
quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [8].
Bên cạnh việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chúng ta cần khai thác, phát huy những
giá trị tích cực, tốt đẹp của truyền thống văn hóa của dân tộc, trong đó có
những giá trị của tư tưởng Phật giáo, những giá trị của văn hóa Phật giáo để
góp phần xây dựng một nền văn hóa nhân quyền.
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng, triết lí về quyền con người giúp cho chúng
ta nhận thấy những giá trị về quyền con người tồn tại ở đâu, giá trị quyền con
người được chứa đựng trong những giá trị văn hóa hay tôn giáo nào, đã và
đang hiện hữu trong đời sống xã hội loài người. Từ đó gợi cho chúng ta ý
tưởng rằng, việc thúc đẩy và đảm bảo quyền con người cũng chính là tiếp tục
phát huy hơn nữa những giá trị quyền con người chứa đựng trong các giá trị
văn hóa ấy, mà ở đây tác giả tập trung nói đến là những giá trị trong tư tưởng,
triết lí của Phật giáo.
5
và quyền con người thường xảy ra việc những nhà nghiên cứu chỉ tập trung
vào những diễn đạt riêng lẻ trong giải thích của họ về kinh điển Phật giáo, nên
gây hạn chế việc tìm ra những nguyên tắc và tư tưởng của Phật giáo về quyền
con người. Đến nay, chưa thấy luận văn thạc sĩ nào tiếp cận chủ đề này dưới
góc độ quyền con người.
Mặc dù kinh điển Phật giáo được viết vào thời cổ đại và không có sự
nối kết trực tiếp với những khái niệm, tư tưởng hiện đại về quyền con người
như trong Luật nhân quyền quốc tế. Tác giả cố gắng nghiên cứu và chỉ ra, tìm
ra những nguyên tắc và tư tưởng về quyền con người mà kinh điển Phật giáo
chuyển tải. Để hướng đến việc khai thác trong đó những ứng dụng hữu ích.
Bởi vì Phật giáo đã và đang tồn tại đầy sức sống trong thế giới của chúng ta.
Với cách tiếp cận những giá trị quyền con người trong Phật giáo, tác
giả muốn tiếp cận nghiên cứu và làm rõ những tư tưởng quyền con người “đã
có”, đó là những tư tưởng quyền con người đã và đang tồn tại trong đời sống
Phật giáo, với mong muốn nhìn nhận vấn đề quyền con người gần gũi hơn,
sáng tỏ nội dung quyền con người là giá trị chung của nhân loại, thực sự tồn
tại phổ biến trong đời sống của con người; đồng thời cũng góp phần phê phán
những góc nhìn thiếu tích cực liên quan đến sự tranh luận về “những giá trị
châu Á” và quyền con người.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Trình bày, phân tích có hệ thống tư tưởng, triết lí quyền con người
trong Phật giáo; góp phần bổ sung và làm sáng tỏ thêm về lịch sử tư tưởng,
triết lí về quyền con người; thể hiện tính phổ biến của quyền con người; để
chứng minh rằng các giá trị quyền con người đã và đang tồn tại trong đời
sống xã hội, mà cụ thể ở đây là trong đời sống và văn hóa Phật giáo.
Bổ sung lí luận về lịch sử tư tưởng, triết lí về quyền con người qua tư
tưởng, triết lí, nguyên tắc của Phật giáo về vấn đề quyền con người.
6
Các kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc
nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo pháp luật về quyền
con người. Có đóng góp nhất định trong xây dựng nền văn hóa nhân quyền và
phương pháp giải quyết hòa bình các xung đột xã hội, các bất đồng liên quan
đến tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chương và phần kết luận.
- Chương 1: Khái quát về quyền con người và về Phật giáo
- Chương 2: Tư tưởng Phật giáo về một số quyền và tự do của con người
- Chương 3: Những giá trị trong tư tưởng của Phật giáo về quyền con
người có thể kế thừa, phát huy ở Việt Nam hiện nay
8
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƢỜI
VÀ VỀ PHẬT GIÁO
1.1. Khái quát về những nội dung và định hƣớng giá trị cơ bản của
tƣ tƣởng quyền con ngƣời
Quyền con người (hay nhân quyền - human rights) là một phạm trù đa
diện, do đó trên thực tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo định nghĩa
của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (Office of High
Commissioner for Human Rights - OHCHR), quyền con người là những bảo
đảm pháp lí toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá
tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp,
tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào. Vì vậy, không một chủ thể
nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người
bẩm sinh, vốn có của các cá nhân.
Ngược lại, học thuyết về các quyền pháp lí (legal rights) cho rằng, các
quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên
mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp
luật. Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lí, phạm vi, giới hạn và ở góc
độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý
chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống
văn hóa của các xã hội. Ở đây, trong khi các quyền tự nhiên có tính đồng
nhất trong mọi hoàn cảnh (universal), mọi thời điểm, thì các quyền pháp lí
mang tính chất khác biệt tương đối về mặt văn hóa và chính trị (culturally and
politically relative).
Học thuyết về quyền tự nhiên đã được đề cập từ khá sớm bởi nhiều học
giả. Cụ thể, từ thời Hy Lạp cổ đại, nhà triết học Zeno (333-264 TCN) đã phát
10
biểu rằng, không một ai sinh ra đã phải làm nô lệ. Địa vị nô lệ là do họ bị tước
đoạt tự do vốn có của con người. Rõ ràng ở đây theo Zeno, quyền là một
người tự do là một quyền bẩm sinh của con người. Tư tưởng này sau đó được
nhiều triết gia tái khẳng định và phát triển, trong đó tiêu biểu như Thomas
Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704) và Thomas Paine (1731-1809).
Thomas Hobbes cho rằng quyền tự nhiên cốt yếu của con người là được sử
dụng quyền lực của chính mình để bảo đảm cuộc sống của bản thân mình, và
do đó, được làm bất cứ điều gì mà mình cho là đúng đắn và hợp lí. Trong các
tác phẩm của mình, John Locke cho rằng các chính phủ chẳng qua chỉ là một
dạng “khế ước xã hội” giữa những kẻ cai trị và những người bị trị, trong đó
những người bị trị (đa số công dân) tự nguyện kí vào bản khế ước này với kì
vọng và mong muốn sử dụng chính phủ như là một thiết chế để bảo vệ các
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… Những tuyên bố này về sau được
tái khẳng định trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người năm
1789 của nước Pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam.
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các
tính chất cơ bản đó là: Tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể
phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, cụ thể như sau:
Tính phổ biến (universal)
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất
cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì
bất cứ lí do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ
tuổi, thành phần xuất thân
Liên quan đến tính chất này, cần thấy là bản chất của sự bình đẳng về
quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà
là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người. Ở đây, mọi thành viên
của nhân loại đều được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng
12
thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân từng người, cũng như vào
hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống.
Tính không thể tước bỏ (inalienable)
Tính không thể tước bỏ của quyền con người thể hiện ở chỗ các quyền
con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ
chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Ở đây, khía cạnh “tuỳ
tiện” nói đến giới hạn của vấn đề. Nó cho thấy không phải lúc nào quyền con
người cũng “không thể bị tước bỏ”. Bởi vì trong một số trường hợp, chẳng
hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp
luật, thậm chí bị tước quyền sống.
Tính không thể phân chia (indivisible)
Tính không thể phân chia của quyền con người bắt nguồn từ nhận thức
ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ. Tương
tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá đều gắn liền với sự phát
triển của các quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả của việc bảo đảm các quyền
dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu quả trong quản lý nhà
nước, quản lý xã hội - yếu tố nền tảng để thúc đẩy các điều kiện sống về kinh
tế, xã hội, văn hoá của mọi người.
Có quan điểm cho rằng, những tư tưởng đầu tiên về quyền con người
thể hiện trong các luật lệ của chiến tranh, mà luật lệ của chiến tranh thì lâu
đời như bản thân chiến tranh và chiến tranh thì lâu đời như cuộc sống trên
trái đất. Như vậy, tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ thời tiền sử. Tuy
nhiên, ở trình độ phát triển của thời tiền sử, có lẽ con người mới chỉ có những
ý niệm, chứ chưa thể có những tư tưởng (với ý nghĩa là những quan điểm
hoặc hệ thống quan điểm rõ ràng về một sự vật, hiện tượng nhất định) về
quyền con người. Bởi vậy, quan điểm tỏ ra phù hợp hơn đó là, tư tưởng quyền
14
con người được khởi thủy từ khi trên trái đất xuất hiện những nền văn minh
cổ đại, mà một trong đó là nền văn minh rực rỡ ở Trung Đông (khoảng năm
3.000 - 1.500 trước CN). Chính trong nền văn minh này, nhà vua Hammurabi
xứ Babylon đã ban hành một đạo luật có tên là Bộ luật Hammurabi (khoảng
năm 1780 TCN) với câu tuyên bố nổi tiếng, theo đó, mục đích của đức vua
khi thiết lập ra đạo luật này là để: Ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu,
làm cho người cô quả có nơi nương tựa ở thành Babilon, đem lại hạnh phúc
chân chính và đặt nền thống trị nhân từ cho mọi thần dân trên vương quốc.
Cho đến thời điểm hiện nay, xét từ những góc độ tính toàn vẹn, nguyên
bản, nội dung và niên đại, Bộ luật Hammurabi có thể coi là văn bản pháp luật
thành văn đầu tiên của nhân loại nói đến quyền con người. Ngoài Bộ luật
Hammurabi, vấn đề quyền con người còn sớm được đề cập trong nhiều văn
bản pháp luật cổ khác của thế giới, trong đó tiêu biểu như Bộ luật của vua
Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576 - 529 TCN; Bộ luật do nhà
về quyền con người ở nhiều quốc gia của châu lục này, đặc biệt là hai cuộc
cách mạng nổi tiếng thế giới nổ ra vào cuối những năm 1700 ở Mỹ và Pháp.
Hai cuộc cách mạng này đã có những tác động rất to lớn vào sự phát triển của
tư tưởng và quá trình lập pháp về quyền con người không chỉ ở hai nước Mỹ
và Pháp mà còn trên toàn thế giới. Trong cuộc cách mạng thứ nhất, mười ba
thuộc địa ở Bắc Mỹ đã tuyên bố độc lập với đế chế Anh vào năm 1776, thông
qua một văn bản có tên là Tuyên ngôn độc lập, trong đó khẳng định rằng: Mọi
người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể
xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ có
thể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện nhà nước về
quyền con người.
16
Trong cuộc cách mạng thứ hai, nhân dân Pháp, mà chủ yếu là thợ
thuyền, trí thức và một số thị dân, đã đứng lên lật đổ chế độ phong kiến, thành
lập nền cộng hoà đầu tiên vào năm 1789, đồng thời công bố bản Tuyên ngôn
về nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của nước Pháp. Điều 1 bản Tuyên ngôn
này khẳng định: Người ta sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền.
Không dừng lại ở những nguyên tắc như Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của
nước Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền năm 1789 đã xác định
một loạt quyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở
hữu, quyền được bảo đảm an ninh và chống áp bức, quyền bình đẳng trước
pháp luật, quyền không bị bắt giữ trái phép, quyền được coi là vô tội cho đến
khi bị chứng minh là phạm tội, quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, quyền
tự do ngôn luận, quyền tham gia ý kiến vào công việc nhà nước, đồng thời đề
cập đến những biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện các quyền này.
Tuy nhiên, quyền con người chỉ thực sự nổi lên như một vấn đề ở tầm
quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với cuộc đấu tranh nhằm
xoá bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ và liên tục tới tận
xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ 1940 đến 1980 của thế kỷ trước, các
quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được đề cao, và đặc biệt, các quyền độc lập và
tự quyết của các dân tộc được cổ vũ. Đây là những quyền con người mà trước
đó đã không hoặc ít được đề cập trên các diễn đàn quốc tế.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, việc Liên Hợp Quốc ra đời, thông qua
Hiến chương (ngày 24/10/1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người (ngày 10/12/1948) và hai công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị và kinh tế, xã hội, văn hóa (năm 1966) đã chính thức khai sinh ra ngành
luật quốc tế về quyền con người, đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn
hoá quyền con người - nền văn hoá mới và chung của mọi dân tộc trên trái
18
đất. Mặc dù ngay sau khi Liên Hợp Quốc được thành lập cho đến cuối thập kỷ
1970, cuộc Chiến tranh Lạnh trên thế giới phần nào ảnh hưởng đến những nỗ
lực quốc tế trên lĩnh vực này, song cho đến ngày nay, một hệ thống hàng trăm
văn kiện quốc tế về quyền con người đã được thông qua, một cơ chế quốc tế
về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đã được hình thành đã biến quyền con
người thành một trong các yếu tố chính chi phối các quan hệ quốc tế.
Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993 tại Viên (thủ đô nước
Áo) đánh dấu một bước ngoặt trong những nỗ lực thúc đẩy các quyền con
người trên thế giới sau những trì trệ ở thời kì Chiến tranh Lạnh. Hội nghị đã
khẳng định mối liên hệ không thể tách rời giữa dân chủ, phát triển và quyền
con người, cũng như giữa các quyền con người về dân sự, chính trị và kinh tế,
xã hội, văn hóa. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Viên kèm theo Chương trình
hành động chung về quyền con người với những mục tiêu cụ thể và những
biện pháp mới để thúc đẩy và bảo vệ các quyền của phụ nữ, trẻ em, người bản
địa, cũng như để tăng cường năng lực của hệ thống Liên Hợp Quốc trong việc
giám sát sự tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trên thế giới.
Sau Hội nghị Viên, những phát triển lớn trên lĩnh vực quyền con người
ở phạm vi quốc tế bao gồm việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế lâm thời
với thần thánh. Trong khi tầng lớp Thủ đà la ở vị trí tận cùng trong xã hội,
làm nô lệ cho các tầng lớp trên.
Phật giáo ra đời gắn liền với người sáng lập là thái tử Tất Đạt Đa
(Gautama Siddhattha), sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai vua Tịnh
Phạn (Shuddhodana) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sa Kya), trị vì vương quốc Ca tì
la vệ (Kapilavaxtu) ở vùng trung lưu sông Hằng, phía Nam nước Nepan ngày
nay. Là con trai duy nhất nên thái tử được vua cha và hoàng hậu rất yêu
thương, được sống trong môi trường giàu sang và được mọi người tránh cho
20
những nỗi âu lo phiền não. Tuổi trẻ Tất Đạt Đa không rời khỏi hoàng cung,
chỉ bận rộn với việc vui chơi, yến tiệc, học hành, lễ bái. Thái tử không thấy và
biết những sự cực nhọc, xấu xa, bất hạnh trong cuộc sống xã hội; không để ý
đến cảnh đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc bi thương của người dân.
Năm 17 tuổi, Tất Đạt Đa kết duyên cùng công chúa Da Du Đà La, sinh
được một con trai là La Hầu La, khi ấy Tất Đạt Đa mới có điều kiện tiếp xúc
với xã hội hiện thực bên ngoài hoàng cung.
Khi đi ra ngoài hoàng cung, Tất Đạt Đa chứng kiến những hoàn cảnh:
Người già yếu còm cõi, người bị bệnh tật giày vò, những xác chết. Tất Đạt Đa
nhận thấy rằng con người sinh ra, già yếu, bệnh tật và chết đi là những điều
bất hạnh không tránh khỏi.
Sau này, Tất Đạt Đa gặp một tu sĩ nghèo với nét mặt dung dị, thanh
thản khác thường và quyết định noi theo vị tu sĩ ấy. Khi 29 tuổi, Tất Đạt Đa
rời bỏ hoàng cung, từ chối giàu sang và quyền lực để vào ở ẩn trong núi
Tuyết Sơn tu tập khổ hạnh ép xác. Trong sáu năm kiên trì tu tập vẫn không
đạt chính quả như mong muốn, Tất Đạt Đa hiểu rằng cả cuộc sống giàu sang
vật chất, thỏa mãn dục vọng lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều không mang
lại thành tựu tu tập: Cuộc sống thứ nhất là tầm thường vô ích, cuộc sống thứ
hai cũng tối tăm, vô nghĩa. Con đường đúng đắn phải là “con đường trung
đạo”, con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lí, con đường