Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam - Pdf 25


4
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
6
1.1.
Quyền tiếp cận thông tin
6
1.2.
Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin
12

Chương 2: QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ

3.1.
Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin
43
3.2.
Nguyên nhân thực trạng, nhu cầu và giải pháp hoàn thiện
pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam
65

5
3.2.1.
Nguyên nhân thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tiếp
cận thông tin
65
3.2.2.
Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin ở Việt Nam
72
KẾT LUẬN
81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83 6
MỞ ĐẦU


hàng ngày. Quyền được thông tin của người dân phản ánh bản chất xã hội ta là
Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi việc của quốc gia phải được cho dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Trước đây, vì nhiều lý do, nhất là trải qua chiến tranh, nên việc tạo điều
kiện cho công dân được thông tin còn hạn chế. Đến nay, chúng ta nhận thấy
quyền tiếp cận thông tin là quyền rất cần thiết và quyền đó phải được thể hiện
một cách chính thống thông qua một đạo luật để quy định cụ thể những gì
người dân được thông tin, những gì hạn chế, cấm thông tin. Vì vậy, việc nghiên
cứu quyền tiếp cận thông tin trên cơ sở những quy định của pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam là vô cùng cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật hiện hành.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trên thực tế, quyền tiếp cận thông tin đã có nhiều công trình nghiên cứu
do các học giả, cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước thực hiện như: đề tài của
nhóm tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Phạm Hồng Thái - Vũ Công Giao - Trịnh
Quốc Toàn - Lã Khánh Tùng (2011), "Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực
tiễn trên thế giới và ở Việt Nam", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; đề
tài cấp bộ của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng năm 2011: "Cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật
tiếp cận thông tin", đề tài của GS.TS Nguyễn Đăng Dung và TS. Vũ Công Giao
(2011), "Dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam: phân tích, so sánh với
Luật mẫu của ARTICLE 19 và luật của một số nước trên thế giới", Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 2.
Bên cạnh đó có rất nhiều Hội thảo trong nước được tổ chức nhằm
nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin, như: Hội thảo "Quyền tiếp cận thông
tin - Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Quyền con người,

8
Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Đại sứ
quán Anh tổ chức ngày 10 - 11/01/2008, tại Hà Nội nhằm góp phần cung cấp

văn cũng tập trung phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra đối với
việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải
pháp để hoàn thiện các cơ chế pháp lý ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích một cách tổng thể những quy định về quyền tiếp cận thông
tin trong pháp luật quốc tế và trong pháp luật Việt Nam.
- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt
Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp pháp lý, thực tiễn nhằm hoàn thiện khuôn
khổ pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quyền tiếp cận thông tin bao gồm những vấn đề rất rộng và được quy
định trong rất nhiều những văn bản quốc tế và quốc gia. Dưới góc độ luật học và
trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ nghiên cứu một cách tổng thể
trên cơ sở khái quát các quy định có liên quan để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu,
luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông thường của khoa học xã
hội và luật học như: phân tích, tổng hợp, so sánh,… Luận văn này tiếp cận
theo hướng nghiên cứu định tính.
Nguồn tài liệu nghiên cứu là các văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia
về vấn đề quyền tiếp cận thông tin, cũng như một số báo cáo, nghiên cứu,
đánh giá của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội về vấn đề này ở Việt Nam.
6. Đóng góp của luận văn
Với việc nghiên cứu tổng thể các quy định về quyền tiếp cận thông tin
trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, tác giả hi vọng những kiến thức

10
trong luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm vào nguồn tài liệu nghiên cứu về
quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam. Đồng thời, những giải pháp, phương

Ngày nay, trong một thế giới mở, nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ
chức ngày càng nhiều, càng đa dạng, phong phú, tùy theo nhu cầu của mình
mà cần những thông tin khác nhau: thông tin về tri thức của nhân loại trên các
lĩnh vực tự nhiên, xã hội; thông tin chính trị, thông tin kinh tế, xã hội, thông
tin pháp luật; thông tin trong nước, thông tin quốc tế Như vậy, có bao nhiêu
chủ thể - cá nhân, tổ chức thì có bấy nhiêu nhu cầu khác nhau về thông tin.
Trong quyền tiếp cận thông tin, thông tin được tiếp cận chủ yếu là những
thông tin do các cơ quan công cộng nắm giữ mà chủ thể có quyền tìm kiếm,

12
tiếp cận và phổ biến nhằm mục đích thực hiện hoặc bảo vệ các quyền; lợi ích
hợp pháp của mình.
Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin: gồm hai loại chủ thể là chủ thể
có quyền tiếp cận thông tin và chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin
- Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin: gồm tất cả mọi cá nhân, công
dân, tổ chức. Với tư cách là chủ thể có quyền, họ nhận được những thông tin
cần thiết qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu
cầu; được yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà mình
cần hoặc quan tâm trong phạm vi khuôn khổ pháp luật cho phép; và được
truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin với các chủ thể có quyền khác không
phân biệt ranh giới hay hình thức phổ biến.
- Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin: gồm các cơ quan công cộng.
Theo quan điểm pháp lý của một số nước, chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông
tin thậm chí có thể là tư nhân có hoạt động công quyền, kể cả các doanh
nghiệp có sử dụng ngân sách công hoặc ngân sách nhà nước. Với tư cách là
chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin, họ phải công khai những thông tin và
hoạt động của mình một cách thường xuyên; có trách nhiệm cung cấp thông
tin khi có yêu cầu của chủ thể có quyền; tôn trọng, không được ngăn cản quan
hệ trao đổi, phổ biến thông tin của các chủ thể có quyền.
Các hình thức công khai thông tin

Nói chung, những giới hạn của quyền tiếp cận thông tin phải được
pháp luật cho phép hay quy định trước. Điều đó có nghĩa là, việc giới hạn
thực hiện quyền này phải được quy định cụ thể trong pháp luật của quốc gia.
Theo đó, chính phủ mỗi nước cần xác định rõ những loại thông tin nào là
thông tin công cần phải được công khai và những loại thông tin nào cần phải
được bảo mật. Nguyên tắc chung là không cần thiết phải giữ kín nếu như việc
tiết lộ các loại thông tin đó không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật

14
tự, sức khỏe, đạo đức của công chúng; không phương hại tới quyền hoặc uy
tín của người khác.
Hiện nay, xu hướng chung các nước trên thế giới là áp dụng nguyên
tắc chính phủ mở theo hướng minh bạch hóa, công khai hóa và tính trách
nhiệm. Vì vậy, nếu việc can thiệp chỉ thuần túy dựa trên một quyết định hành
chính, hay ý kiến chủ quan của cơ quan công quyền mà không rõ ràng, không
có căn cứ pháp lý cụ thể có thể dẫn tới vi phạm quyền tiếp cận thông tin của
cá nhân đã được pháp luật quốc tế quy định.
Khái quát quyền tiếp cận thông tin trong quy định của pháp luật quốc
tế và pháp luật Việt Nam
Quyền tiếp cận thông tin đôi khi còn được gọi theo nghĩa rộng là quyền
tự do thông tin hay gọi tắt là quyền được thông tin, là một trong những quyền
cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị. Nó được dùng để
chỉ quyền của công dân được biết thông tin của Nhà nước, theo các cách thức
trực tiếp lẫn gián tiếp, để thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như
để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.
Quyền tiếp cận thông tin của con người được ghi nhận trong Tuyên
bố toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quyền này tiếp tục được khẳng
định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Tuyên bố
Rio về môi trường và phát triển; Công ước UNECE về tiếp cận thông tin

vào năm 1988, Tòa phúc thẩm đã phán quyết rằng tầm quan trọng của Luật
Thông tin chính thức là ở chỗ, các biện pháp trong Luật này có thể được coi là
các biện pháp mang tính hiến định.
Trên thế giới, tính đến tháng 9 năm 2009, đã có 140 quốc gia ban hành
Luật về tiếp cận thông tin. Rất nhiều quốc gia cũng đang trong quá trình
chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng để điều chỉnh về
vấn đề này.

16
Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin đã
được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua
Đại hội VII năm 1991 khẳng định: bảo đảm quyền được thông tin của công
dân. Thể chế hóa đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 1992 quy định rõ: "Công
dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin…" [28].
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 về bảo đảm quyền được
thông tin, nhằm phát huy dân chủ ở cơ sở, năm 1998 Chính phủ đã ban hành
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ban hành kèm theo Nghị
định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998, được sửa đổi năm 2003 trong đó
quy định những việc chính quyền địa phương phải có trách nhiệm thông tin và
công khai để dân biết những công việc ở địa phương.
Những năm gần đây, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều luật, trong đó
có quy định về công khai thông tin như thông tin về ngân sách, tài chính công,
thông tin về tài chính kế toán doanh nghiệp, thông tin về kiểm toán và kết quả
kiểm toán (Luật kiểm toán nhà nước), công khai về nhà ở, quỹ nhà, nhà ở
thương mại (Luật Nhà ở), công khai minh bạch trong hoạt động của nhà nước
và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định
trong Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; cung cấp thông tin trên lĩnh vực môi trường (Luật Bảo vệ môi trường
năm 2005); thông tin, truyền thông về phòng chống bệnh truyền nhiễm (Luật

do. Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin là một bước hoàn thiện hơn nữa hệ thống
pháp luật, nhằm bảo đảm thực hiện các quyền công dân một cách tốt hơn.
1.2. Ý NGHĨA CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
Quyền tiếp cận thông tin hay quyền tự do thông tin được quy định và
thừa nhận rộng rãi trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người
và pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Quyền này không chỉ là công cụ,
phương tiện thiết yếu để công dân có điều kiện tham gia vào công việc nhà

18
nước, quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, mà còn góp
phần nâng cao tính minh bạch, tính trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan
nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa bệnh quan liêu, phòng
ngừa tham nhũng và các hành vi sai trái về chính quyền. Các nhà báo điều tra
và các tổ chức phi chính phủ làm nhiệm vụ giám sát có thể sử dụng quyền tiếp
cận thông tin để vạch trần những hành vi sai trái nhằm loại bỏ nó.
Ngày nay hầu khắp các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều có chung
một nhận thức tự do thông tin là một quyền cơ bản của con người. Thực hiện
được quyền này là điều kiện cần thiết để các cá nhân có thể bảo vệ hữu hiệu
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, ngăn ngừa và chống lại các
hành vi lạm dụng quyền lực, thúc đẩy dân chủ hóa và minh bạch hóa quá trình
hoạch định chính sách và ban hành pháp luật, thực thi pháp luật, củng cố lòng
tin và tăng cường sự ủng hộ của dân chúng với các chủ trương và chính sách
của chính quyền, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Một khi người dân chủ
động tham gia vào các hoạt động của nhà nước và xã hội; đóng góp ý kiến
vào xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, sẽ giúp cho nhà nước hoạch
định chính sách, pháp luật vừa sát thực tế, vừa hợp với lòng dân, sẽ bảo đảm
sự đồng thuận xã hội trước khi ban hành quyết định, qua đó giúp cho điều
hành và quản trị xã hội được hiệu quả hơn.
Thông tin công khai và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng sẽ giảm
thiểu sự độc quyền và lũng đoạn thông tin; tăng cường khả năng cạnh tranh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tự do thông tin về
những cam kết trong hội nhập kinh tế, quốc tế, về luật lệ, nguyên tắc kinh
doanh, làm ăn với các đối tác nước ngoài còn là cơ sở giúp doanh nghiệp, các
nhà đầu tư tự tin, sẵn sàng, chủ động hơn trong quá trình hội nhập, giảm thiểu
khả năng rơi vào tình thế bị động trước các đối thủ cạnh tranh.
- Về phía người tiêu dùng, tự do thông tin giúp cho người tiêu dùng
lựa chọn được sản phẩm hàng hóa đúng mẫu mã, chất lượng và giá thành;

20
tránh mua phải hàng nhái, hàng kém chất lượng; qua đó cải thiện cuộc sống vật
chất, tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.
Qua những vấn đề nêu trên cho thấy, "quyền tiếp cận thông tin" là một
trong những công cụ pháp lý quan trọng nhất để làm trong sạch và nâng cao
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, phòng chống tham nhũng và dân
chủ hóa xã hội. Chính vì vậy, chỉ trong khoảng ba thập kỷ vừa qua, đã có
hàng trăm quốc gia ban hành văn bản pháp luật riêng về quyền tiếp cận thông
tin dựa trên các văn kiện quốc tế mà quốc gia đó ký kết, tham gia và dựa trên
tình hình cụ thể của đất nước. Sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của
mỗi nước, tác động từ bên ngoài, sức ép từ phía công chúng, các nhóm xã hội,
giới truyền thông, nhu cầu đấu tranh chống tham nhũng vì sự bình đẳng, tiến
bộ xã hội và phát triển kinh tế cũng đòi hỏi mỗi quốc gia không thể tự mình
tách ra khỏi thế giới mà phải chuyển mình, mở rộng và thực hiện tốt hơn các
quyền công dân bao gồm quyền tiếp cận thông tin cũng như các quyền liên
quan. Có thể nói, ban hành Luật tự do thông tin hay tiếp cận thông tin là một
yêu cầu bức thiết của hầu hết các nước trên thế giới. Nó đi đôi với việc ban
hành hay sửa đổi các đạo luật khác liên quan đến quyền tiếp cận thông tin từ
công chúng, đảm bảo quyền tìm kiếm thông tin, phổ biến, trao đổi thông tin
(ngoại trừ một số it những thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật cá
nhân, bí mật thương mại, bí mật điều tra tội phạm) của mọi cá nhân phục vụ
cho lợi ích của cộng đồng, của tập thể và cá nhân. Ở Việt Nam, quyền được

thể được thực hiện trên thực tế nếu những người có quyền này có khả năng
tiếp cận thông tin mà họ cần để hình thành nên quan điểm của họ.

22
Điều 19 đã đề cập việc bảo vệ và phát triển quyền tự do phát biểu
quan điểm bao gồm cả việc tiếp cận thông tin và các phương tiện truyền
thông. Các quyền này được đảm bảo thông qua sự biện hộ của luật sư, các
chiến dịch, nghiên cứu, tranh tụng và xây dựng quan hệ đối tác. Để đạt hiệu
quả khi áp dụng Điều 19 cần:
- Tăng cường khung pháp lý, thể chế và chính sách cho quyền tự do
phát biểu và tiếp cận thông tin ở cấp toàn cầu, quốc gia và khu vực, bao gồm
cả việc thông qua và phát triển các quy phạm pháp luật đạt tiêu chuẩn;
- Các quốc gia, khu vực nên nhận thức đúng và ủng hộ những sáng
kiến đó;
- Tham gia các nhóm dân sự để xây dựng năng lực toàn cầu, quốc gia
và khu vực, để giám sát chính sách và hành động của chính phủ, của các tập
đoàn, các nhóm chuyên nghiệp và các tổ chức đa phương về vấn đề tự do phát
biểu và tiếp cận thông tin.
- Kêu gọi công dân tham gia vào các vấn đề công cộng mang tính quyết
định toàn cầu thông qua việc thúc đẩy tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin.
2.1.2. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966
Điều 19, khoản 2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định:
Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả
quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không
phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết,
in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện
thông tin đại chúng khác, tùy theo sự lựa chọn của họ [23].
Như vậy, Công ước đã quy định nội hàm khái niệm quyền tự do ngôn
luận bao hàm cả quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin.
- Tự do tìm kiếm thông tin thể hiện tính chủ động hơn là bị động của


24
2.1.3. Luật mẫu về tự do thông tin (do ARTICLE 19 xây dựng)
2.1.3.1. Các nguyên tắc của Luật mẫu về tự do thông tin
Để thúc đẩy việc thực thi quyền tiếp cận thông tin, nhiều tổ chức quốc
tế và khu vực đã xây dựng các nguyên tắc chuẩn về quyền quan trọng này.
Trong đó, ARTICLE 19 (một tổ chức phi Chính phủ quốc tế nổi tiếng trên thế
giới chuyên hoạt động nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin, được thành
lập từ năm 1987 ở Luân Đôn (Anh), lấy tên gọi theo Điều 19 (ARTICLE 19)
của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người) đã đặt ra các nguyên tắc
mẫu cơ bản của quyền tự do thông tin, trong đó có quyền tiếp cận thông tin.
Bộ các nguyên tắc quốc tế này như là những tiêu chuẩn để đánh giá
tính chất tiến bộ của các văn bản pháp luật quốc gia về quyền được tiếp cận
thông tin. Những nguyên tắc này đề cập một cách rõ ràng và cụ thể đến những
cách thức mà các Chính phủ có thể công khai hóa tối đa hoạt động của họ phù
hợp với các tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế tốt nhất. Ủy ban của Liên Hiệp
Quốc về quyền con người cũng đã kêu gọi và khuyến nghị các quốc gia cân
nhắc nghiên cứu bộ các nguyên tắc về tiếp cận thông tin.
- Nguyên tắc 1: Công khai thông tin một cách tối đa
Nguyên tắc này hàm nghĩa là tất cả thông tin của các cơ quan công
cộng cần phải được công khai, chỉ có thể bị hạn chế trong một vài trường hợp.
Hiến pháp cần có quy định rõ ràng rằng việc tiếp cận những thông tin chính
thức là một quyền cơ bản. Các cơ quan công cộng có nghĩa vụ công bố thông
tin và mọi thành viên trong xã hội có quyền được tiếp nhận thông tin. Không
nên yêu cầu cá nhân phải chứng minh những lý do cần thiết khi tiếp cận thông
tin mà chính các cơ quan công cộng phải chứng minh rằng thông tin mà họ
muốn giữ bí mật phải nằm trong phạm vi của một số trường hợp ngoại lệ.
- Nguyên tắc 2: Nghĩa vụ công khai
Tự do thông tin không chỉ có nghĩa là các cơ quan công cộng phải đáp
ứng những yêu cầu cung cấp thông tin mà họ còn phải công khai và phổ biến


26
thông tin và phải được quy định trong luật. Ví dụ: việc phân loại thông tin mật
trên cơ sở an ninh quốc gia cũng có thể chấm dứt sau khi mối đe dọa an ninh
quốc gia được giảm bớt.
- Nguyên tắc 5: Tạo thuận lợi cho quá trình tiếp cận thông tin
Các cơ quan công có trách nhiệm giúp đương đơn làm rõ các yêu cầu
hoặc đưa ra gợi ý khi họ có yêu cầu liên quan đến công khai thông tin mà
hoặc không rõ ràng, hoặc có phạm vi thông tin quá rộng. Nhiều trường hợp cơ
quan công không cần cung cấp tài liệu cho đương đơn nhưng cần phải trực
tiếp thông báo nguồn thông tin cho đương đơn.
Trong mọi trường hợp, luật cần cho phép cá nhân được quyền khiếu
nại khi bị từ chối cung cấp thông tin bởi cơ quan công. Cả nguyên đơn và cơ
quan giải quyết khiếu nại đều có thể khởi kiện quyết định của cơ quan hành
chính lên tòa án.
- Nguyên tắc 6: Chi phí tiếp cận thông tin
Về cơ bản, người dân không phải trả chi phí hoặc chi phí quá cao cho
việc yêu cầu thông tin, nhằm đảm bảo rằng những chi phí cho việc yêu cầu
thông tin không là cản trở cho việc yêu cầu thông tin. Bởi vì, Luật tiếp cận
thông tin là để thúc đẩy tiếp cận thông tin và nhằm hướng tới lợi ích lâu dài
của sự mở cửa thông tin hơn là vấn đề chi phí. Trong một số trường hợp ở các
quốc gia, chi phí tiếp cận thông tin không phải là phương tiện hiệu quả để bù
cho các chi phí về quyền tự do thông tin. Đồng thời phải quy định việc miễn
hoặc giảm đáng kể mức phí cho các yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân hoặc
những thông tin mà công chúng quan tâm.
- Nguyên tắc 7: Mở các cuộc họp
Tự do thông tin là quyền được biết của công chúng về những công
việc do Chính phủ làm đại diện cho công chúng thực hiện và đại diện ra quyết
định. Luật tự do thông tin thiết lập một giả định rằng tất cả các cuộc họp của


b) Được thành lập bằng một đạo luật;
c) Là một bộ phận ở bất cứ cấp nào của Chính phủ;
d) Được sở hữu, điều khiển hoặc tài trợ chủ yếu bởi các quỹ của
Chính phủ hoặc Nhà nước;
e) Thực hiện chức năng nhà nước hoặc do pháp luật quy định.
Cơ sở tư nhân, theo mục 6 (3) là bất cứ tổ chức nào, ngoại trừ một cơ
quan công cộng, mà:
a) Thực hiện các hoạt động thương mại, kinh doanh hoặc nghề nghiệp
trong khả năng của tổ chức đó;
b) Có năng lực pháp luật.
Như vậy, Luật mẫu về tự do thông tin đã xác định các thuộc tính cấu
thành của các chủ thể là đối tượng điều chỉnh thay vì dùng phương pháp liệt
kê các chủ thể đó. Điều này sẽ giúp cho việc bao quát hơn các chủ thể và
tránh phải sửa đổi, bổ sung luật nhiều lần khi có sự thay đổi.
Phạm vi thông tin phải công khai
Vấn đề phạm vi thông tin phải công khai được nêu ở mục 17 của Luật
mẫu. Đó là những thông tin:
a) Mô tả cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và ngân sách hoạt động;
b) Những thông tin chi tiết liên quan đến các dịch vụ cơ quan đó cung
cấp cho công dân;
c) Các yêu cầu trực tiếp hoặc cơ chế khiếu nại công dân có thể thực
hiện liên quan đến những việc cơ quan đó đã thực hiện hoặc chưa thực hiện,
cùng với bản tóm tắt các yêu cầu, khiếu nại hoặc các hoạt động khác do công
dân trực tiếp thực hiện và tình hình giải quyết các yêu cầu, khiếu kiện đó;

Trích đoạn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm XU HƯỚNG BAN HÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Nguyên nhân thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status