ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Khƣơng Văn Đạt
QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƢỚC
VÀ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái
Hà nội – 2009
1
MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục những chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
01
24
1.3.3. QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện nội dung pháp lý và kinh tế
của quyền sở hữu nhà nước.
25
1.3.4. QHPL giữa nhà nước và DNNN thể hiện quyền tự chủ kinh doanh của
DNNN.
27
1.3.5. Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu mà thông qua cơ
quan và người quản lý điều hành DNNN được nhà nước bổ nhiệm
28
1.4. Những yếu tố chi phối và tác động đến quá trình hoàn thiện quan hệ
pháp lý giữa nhà nước và DNNN ở Việt Nam
30
1.4.1. Chức năng kinh tế của nhà nước
30
1.4.2. Cơ chế kinh tế
32
1.4.3. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập
34 Kết luận chƣơng 1
37
Chƣơng 2: Thực trạng qHPL giữa Nhà nƣớc và dNNN ở Việt Nam
hiện nay
38
2.1. Về chủ thể của quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN ở Việt
Nam
38
2.1.1. Các loại hình chủ thể nhà nước
nƣớc và DNNN
82
3.1. Phương hướng hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa nhà nước và
DNNN
82
3.1.1. Quyền và nghĩa vụ của nhà nước và DNNN phải được xác lập
phù hợp với kinh tế thị trường
83
3.1.2. Đảm bảo vai trò nòng cốt của DNNN để KTNN giữ vai trò chủ
đạo
85
3.1.3. Hoàn thiện môi trường kinh doanh
88
3.1.4. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động DNNN
90
3.1.5. Hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đẩy
91
4
mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực kinh tế
3.2. Giải pháp hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN
93
3.2.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật
93
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền sở hữu nhà nước với tư cách
nhà nước là nhà đầu tư vào DN.
101
3.2.3. Nâng cao năng lực chủ thể DNNN
107
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
HĐQT: Hội đồng quản trị
HĐTV: Hội đồng thành viờn
HĐBT: Hội đồng bộ trưởng
KTNN: Kinh tế nhà nước
QHPL: Quan hệ phỏp lý
SCIC: Tổng cụng ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
SHNN: Sở hữu nhà nước
TCT: Tổng Cụng ty Nhà nước
6
TNHH: Trỏch nhiệm hữu hạn
UBND: Uỷ ban nhõn dõn
XNQD: Xớ nghiệp quốc doanh
XHCN: Xó hội chủ nghĩa
DNNN (đơn vị kinh doanh) cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nước ta
trong từng giai đoạn phát triển.
Quá trình hoàn thiện QHPL này đã có những bước tiến rất lớn. DNNN từ một
đơn vị kinh tế thụ động phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước đã trở thành một DN tự
chủ kinh doanh. Nhà nước cũng dần chuyển từ việc thực hiện cơ chế tập trung quan
liêu sang cơ chế thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNN.
Trong hơn hai thập kỷ qua, hoàn thiện QHPL này luôn được Đảng và Nhà nước ta
coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Hầu
hết các nỗ lực đều tập trung vào hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế kinh tế để
tăng cường chức năng chủ sở hữu, hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước và quyền tự
chủ của DNNN. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc hoàn thiện QHPL này vẫn
chưa đem lại kết quả như mong muốn. KTNN chưa làm tốt vai trò chủ đạo; chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN chưa cao.
8
Hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Thứ nhất là do hệ thống pháp
luật về DNNN chưa phù hợp, tính khả thi không cao, các yếu tố của thị trường phát
triển chưa hoàn chỉnh, nhiều quan hệ được thiết lập không trên cơ sở luật pháp dẫn
tới còn sự bất bình đẳng giữa các loại hình DN. Thứ hai, do việc chấp hành pháp
luật yếu kém, ý thức tôn trọng pháp luật không cao của nhiều cán bộ, viên chức nhà
nước, người quản lý và lao động trong DNNN. Thứ ba, do nhà nước chưa thực hiện
đúng vai trò, chức năng của mình về việc xây dựng môi trường pháp lý và thị
trường bình đẳng. Thứ tư, nhà nước chưa phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nước
và quản lý kinh doanh, việc thực hiện quyền sở hữu của nhà nước và quyền tự chủ
kinh doanh còn mang nặng tính hành chính, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị
trường. Thứ năm, việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật đối với các chủ thể
nêu trên chưa kịp thời, chưa nghiêm chỉnh, dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật bị
hạn chế.
Vì vậy, hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN có ý nghĩa lý luận và thực
trình này đã đánh giá tương đối có hệ thống sự tác động của Nhà nước thông qua
luật pháp và các chính sách lớn trong quá trình hình thành và phát triển thị trường ở
Việt Nam, đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường và đổi mới sự tác động của
Nhà nước đối với thị trường định hướng XHCN. Các công trình này cũng đã phân
tích cơ sở lý luận, thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
Nhà nước đối với các loại hình DN.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN,
đánh giá thực trạng quan hệ, đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện
QHPL giữa nhà nước với DNNN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Một là, xác định khái niệm DNNN và khái niệm QHPL giữa nhà nước và
DNNN. Từ đó làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm, khách thể và các yếu tố tác động đến
QHPL giữa nhà nước và DNNN.
10
Hai là, đánh giá thực trạng quá trình hình thành và phát triển của QHPL giữa
nhà nước và DNNN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Ba là, trên cơ sở những tiền đề lý luận và sự đánh giá thực trạng QHPL giữa
nhà nước và DNNN, luận văn đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện QHPL
giữa nhà nước và DNNN trong điều kiện mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ pháp lý giữa nhà nước với DNNN,
trong đó nhà nước với tư cách là nhà đầu tư. Việc nghiên cứu các quan hệ pháp luật
cụ thể trong đời sống thực tiễn (trạng thái động) có tính chất minh chứng cho
những nhận xét, đánh giá về QHPL giữa nhà nước và DNNN (trạng thái tĩnh).
qua việc sử dụng một số tư liệu và kết luận của một số cuộc phỏng vấn đưa tin và
thăm dò xã hội học của một số tác giả, báo chí để xem xét đánh giá những biểu hiện
trên thực tế của QHPL giữa Nhà nước và DNNN. Phương pháp luật học so sánh
được dùng để so sánh sự phát triển, sự tương đồng và khác nhau của một số quy
định pháp luật điều chỉnh QHPL ở Việt Nam và ở một số nước khác qua các giai
đoạn lịch sử.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Làm sáng tỏ một cách có hệ thống cơ sở lý luận của việc hoàn thiện QHPL giữa
nhà nước với DNNN.
Đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng QHPL giữa Nhà nước và
DNNN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay.
Đề xuất phương hướng và giải pháp về việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và
DNNN. Các phương hướng và giải pháp này sẽ là định hướng cho quá trình
nghiên cứu tiếp theo của học viên, định hướng trong công tác hàng ngày của học
viên và góp ý cho việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN, làm cho
quan hệ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao hơn nữa quyền tự
chủ kinh doanh, hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của nhà
nước đối với DNNN.
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA NHÀ NƢỚC
VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO). Theo UNIDO, DNNN được định
nghĩa là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước (SHNN) hoặc do nhà nước kiểm
soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Theo định
nghĩa này, DNNN bao gồm các DN hoàn toàn thuộc sự quản lý của các bộ, ngành,
các DN mà Nhà nước giữ phần lớn cổ phần và cả những DN tuy Nhà nước không
giữ phần lớn cổ phần song do sự phân tán của cổ đông mà Nhà nước nắm giữ
quyền chi phối 33, tr. 69 - 70.
Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 của Việt Nam quy định
“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Trên cơ sở tiếp thu định nghĩa về DNNN trên thế giới, học viên nhận thấy nên
định nghĩa DNNN như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế có mục
đích thương mại do nhà nước nắm quyền kiểm soát và chi phối.
Theo khái niệm này, các đơn vị kinh tế có cơ cấu tổ chức nhất định hoạt động
nhằm vào các giá trị lợi ích do nhà nước kiểm soát hoặc chi phối là DNNN. Tuy
nhiên, khái niệm “mục đích thương mại”, “kiểm soát và chi phối” được hiểu ở mỗi
quốc gia một cách khác nhau. Trong mỗi giai đoạn phát triển, khái niệm trên cũng
có sự thay đổi nhất định.
1.5.2. Vị trí, vai trò của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị trƣờng
Mặc dù DNNN trên thực tế tỏ ra kém hiệu quả kinh tế hơn các DN tư nhân;
mặc dù DNNN thường trở thành gánh nặng cho ngân sách các quốc gia; mặc dù các
chính phủ ngày càng bán hoặc CPH nhiều hơn các DNNN và giảm mạnh đầu tư vào
khu vực này, nhưng các DNNN vẫn tiếp tục chiếm một phần quan trọng trong nền
kinh tế 106, tr.54.
14
Ở nước ta, DNNN giữ vị trí gần như độc tôn trong thời kỳ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung, bao cấp. DNNN được coi là đơn vị kinh tế cơ sở, là tổ chức xã
hoạt động, giải thể, thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh DNNN là
DN, vì vậy nó có đầy đủ đặc điểm của DN và được nhìn nhận trên cả hai phương
diện, đó là kinh tế và pháp lý.
Thứ nhất, DNNN là một đơn vị kinh doanh có chức năng chính là sản xuất
hàng hoá, dịch vụ. Có thể khái quát về đặc điểm này qua sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Khái quát về doanh nghiệp
DN hoạt động kinh doanh là việc DN thực hiện một, một số, hay tất cả các
công đoạn của quá trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình, tổ hợp tác,
những chủ thể này cũng đều trực tiếp tham gia kinh doanh, nhưng pháp luật không
thừa nhận là DN. Những tổ chức xã hội mà chức năng hoạt động chính của nó
không phải là kinh doanh ví dụ như các cơ quan nhà nước, đoàn thể quần chúng,
các tôn giáo, các tổ chức từ thiện… cũng không thể coi là DN. DNNN được quyền
hoạt động kinh doanh trong một số ngành nghề liên quan đến an ninh quốc phòng
và ngành nghề đặc biệt mà DNNQD không được phép kinh doanh nhưng phải hoạt
động theo pháp luật.
Thứ hai, DNNN là những đơn vị kinh doanh bằng vốn và tài sản của mình.
Nhà nước có thể xác định hoặc không xác định mức vốn pháp định dựa trên cơ sở
tuỳ theo ngành nghề và loại hình DN.
Doanh nghiệp
Đăng ký kinh
doanh và tính công cộng.
Tính chất kinh doanh thể hiện ở mục đích hoạt động của DNNN. Kết quả và
năng lực hoạt động của chúng phụ thuộc vào năng lực thực hiện quyền tự chủ kinh
doanh và khả năng tổ chức, quản lý kinh doanh. Vì thế, lợi nhuận hay hiệu quả tài
chính được pháp luật thừa nhận là một mục tiêu chủ yếu.
Tính chất công cộng của DNNN được phản ánh không chỉ qua tính chất công
hữu của tài sản, mà còn ở các mục đích sử dụng tài sản và kết quả hoạt động. Bên
cạnh mục đích kinh doanh, hoạt động của DNNN luôn hướng tới việc phục vụ lợi
ích công cộng, xã hội, nhà nước, dịch vụ công ích… cho nên tổ chức và hoạt động
của DNNN có những đặc thù khác so với DNNQD.
Dựa trên hai tính chất này, chúng ta nhận ra được sự khác nhau giữa DNNN
và DNNQD, đồng thời thể hiện quan hệ hữu cơ giữa chức năng kinh doanh và chức
năng công cộng của DNNN.
Tính chất “kinh doanh” của DNNN:
Giống như các DNNQD, DNNN hoạt động trong môi trường kinh doanh chịu
ảnh hưởng của các yếu tố và quy luật của thị trường. Vì vậy, mục tiêu, quyền và
nghĩa vụ pháp lý của DNNN cũng như DNNQD. Tuy nhiên tính chất kinh doanh
của DNNN vẫn có những đặc điểm riêng.
Mục tiêu kinh doanh là yếu tố cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
DNNN. DNNN có nghĩa vụ phải tạo ra nguồn tài chính cần thiết để duy trì hoạt
động của mình và tạo ra lợi nhuận từ chủ yếu kết quả kinh doanh. Nhưng, tính chất
17
kinh doanh này bị hạn chế nếu DNNN cung cấp hàng hoá và dịch vụ có tính chất
công cộng và nguồn tài chính được bù đắp từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, đối
tượng mục tiêu và phương thức kinh doanh có sự tham gia của nhiều yếu tố và chủ
thể liên quan nên quyền tự chủ kinh doanh bị ảnh hưởng.
Việc xác định và đánh giá kinh doanh luôn là một vấn đề phức tạp vì tính đa
mục tiêu của DNNN. Vì vậy, chính sách phân phối lợi nhuận được áp dụng khác
Trong cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, vai trò của pháp luật khá
mờ nhạt và trở nên thứ yếu trước sức mạnh của các mệnh lệnh hành chính. Để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN, các cơ quan quản lý nhà nước vẫn
cần phải có cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động quản lý. Trong nền kinh tế thị
trường, pháp luật trở thành công cụ quyết định trong điều chỉnh các quan hệ xã hội
căn bản. Việc điều chỉnh của pháp luật đối với DNNN ngày càng trở nên là một nhu
cầu không thể thiếu để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước thực hiện quyền
sở hữu tại DNNN, điều tiết và định hướng phát triển nền kinh tế.
Thứ hai, sự điều chỉnh pháp luật đối với DNNN là cơ sở, là điều kiện cần thiết
nhất, quan trọng nhất trong việc tạo “khung pháp lý” cho DNNN tổ chức và hoạt
động. Bởi lẽ, các chủ thể kinh doanh nói chung, trong đó có DNNN, muốn hoạt
động một cách có hiệu quả thì cần phải có một khung pháp lý đầy đủ và hợp lý.
Với tư cách là công cụ chủ yếu để nhà nước sử dụng quản lý xã hội, pháp luật
xác định bản chất, nội dung, phương hướng, biện pháp thực hiện quan hệ giữa nhà
nước và DNNN. Vì được xác lập và đảm bảo thực hiện trên cơ sở pháp luật nên nội
dung của QHPL giữa nhà nước và DNNN luôn luôn được thể hiện ở hệ thống quyền
và nghĩa vụ pháp lý của hai chủ thể là nhà nước và DNNN. Trong đó, quyền pháp lý
là khả năng xử sự của chủ thể theo một cách thức nhất định được pháp luật cho
phép. Còn nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là cách xử sự bắt buộc của chủ thể nhằm
đáp ứng quyền và lợi ích của các chủ thể khác. Quan hệ đó được pháp luật điều
chỉnh sẽ xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể về mặt lý thuyết. Khi có sự kiện
pháp lý xảy ra, các quyền và nghĩa vụ đó sẽ được hiện thực hoá. Theo GS, TS Đào
Trí Úc, quan hệ pháp lý có thể được xem xét ở phương diện lý thuyết (trạng thái
tĩnh) và phương diện thực tiễn (trạng thái động).
19
Quan hệ pháp luật thể hiện trong quy phạm pháp luật, nếu không được áp
dụng trong thực tế, thì không bao giờ đạt được mục đích của nó. Như vậy, sự liên
hệ giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật là sự liên hệ giữa “cái cần” (cái có
quan hệ xã hội. Những quan hệ giữa nhà nước và DNNN có tính điển hình phổ biến
được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật sẽ trở thành quan hệ pháp lý. QHPL
biểu hiện thành quan hệ pháp luật trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể làm nảy
sinh quyền và nghĩa vụ chủ thể, từ đó chủ thể pháp luật thể hiện ý chí của mình
thông qua hành vi và xử sự của họ. Vì vậy, chủ trương, định hướng phát triển kinh
tế, hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện pháp luật và môi trường kinh doanh đòi
hỏi và quyết định việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN.
Hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN phải tạo ra cơ chế để nhà nước
phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, triệt để đối với chủ thể có hành vi vi
phạm quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế. Nhà nước cần bảo đảm tính chặt chẽ,
minh bạch trong việc quy định về trình tự, thủ tục, xác lập quyền và nghĩa vụ pháp
lý để chúng trở thành hiện thực trên thực tế và mọi hành vi xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể cụ thể phải đảm bảo tính kịp thời, nghiêm minh,
công bằng, không phân biệt loại hình DN, không phân biệt nhà nước, cá nhân, hay
DN. Hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN phải trên cơ sở nhận thức đúng
đắn bản chất quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể kiên quyết xử lý hành vi vi
phạm pháp luật để quan hệ pháp luật giữa nhà nước và DNNN phát sinh, thay đổi,
chấm dứt từ những sự kiện hợp pháp, tích cực được nhà nước và xã hội không
ngừng tạo điều kiện, khuyến khích phát triển.
1.6. CẤU TRÚC CỦA QHPL GIỮA NHÀ NƢỚC VÀ DNNN
Xem xét cấu trúc một loại quan hệ pháp lý là xem xét các bộ phận hợp thành
của nó. Để phân tích một cách chính xác nhất cấu trúc của quan hệ pháp lý cần xác
định khái niệm cấu trúc như là phương thức liên hệ của các yếu tố mang tính hệ
thống trong phạm vi của cái toàn bộ.
Trong khoa học pháp lý nước ta, quan điểm được thừa nhận và sử dụng rộng
rãi là quan hệ pháp lý gồm ba yếu tố hợp thành: chủ thể, khách thể và nội dung
(quyền, nghĩa vụ pháp lý). Quy chế pháp lý và quyền, nghĩa vụ trong quan hệ pháp
21
22
hợp với vị trí và chức năng của nó và quan hệ tổ chức của nó với nhà nước. Do đó,
khái niệm địa vị pháp lý của DNNN bao gồm vị trí, vai trò, nhiệm vụ của DN trong
xã hội, trong nền kinh tế và hệ thống quyền, nghĩa vụ pháp lý của DNNN.
Vì vậy, địa vị pháp lý của DNNN là tổng hợp những quyền hạn, nghĩa vụ và
trách nhiệm được pháp luật quy định, thể hiện vị trí, vai trò và chức năng của nó
trong quá trình kinh doanh. Đây là cơ sở pháp lý của những quyền hạn, nghĩa vụ
của DNNN khi tham gia vào các QHPL được hình thành trong quá trình kinh
doanh. Địa vị pháp lý của DNNN bao gồm hai bộ phận.
Bộ phận thứ nhất bao gồm những quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm được pháp
luật xác định cho DNNN. Bộ phận này thể hiện rõ nhất sự khác nhau trong đặc
điểm pháp lý của DNNN với DNNQD. DNNN là mô hình tổ chức kinh doanh thuộc
SHNN và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền. Do đó cần có sự phân biệt rõ ràng tư cách của nhà nước
trong quan hệ với DNNN với tư cách chủ sở hữu hay thực hiện quyền lực công
cộng.
Bộ phận thứ hai trong địa vị pháp lý của DNNN là những quyền hạn, nghĩa vụ
của một DN độc lập với chức năng kinh doanh. Ở đây, pháp luật phải quy định phù
hợp với nguyên tắc thị trường, đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế, các loại hình DN không phân biệt quy mô ngành nghề,
sở hữu. Nội dung và phạm vi quyền và nghĩa vụ của DNNN phải được quy định
phù hợp với những đòi hỏi khách quan do vị trí độc lập của DNNN với tư cách là
người cung cấp hàng hoá dịch vụ trong cơ chế thị trường.
Về hình thức pháp lý, hai bộ phận này trong địa vị pháp lý của DNNN được
thể hiện ở hai hình thức khác nhau. Bộ phận thứ nhất được thể hiện trong pháp luật
về DNNN. Bộ phận thứ hai thể hiện trong các qui định pháp luật điều chỉnh những
quan hệ về DN và kinh doanh.
1.6.2. Địa vị pháp lý của nhà nƣớc
Trong QHPL giữa nhà nước và DNNN, nhà nước là chủ thể của quyền lực
chức các đơn vị kinh tế và hệ thống quản lý nhà nước về kinh tế. Nội dung quyền
này được thể hiện như sau: