ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỀ CƯƠNG VÀ KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN LUẬN VĂN CAO HỌC ĐỀ TÀI:
YÊU CẦU CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Học viên thực hiện: Nguyễn Mậu Tuân
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG
HÀ NỘI - 2007 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1.1.
Quan niệm về pháp luật và hệ thống pháp luật
2.1.2.
Vị trí, vai trò của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
2.2. Những mối quan hệ cơ bản của pháp luật trong Nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.2.1.
Pháp luật và nhà nước
2.2.2.
Pháp luật và kinh tế
2.2.3.
Pháp luật và đạo đức
2.3. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay –
nhìn từ góc độ các thành tố cơ bản của Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa
2.3.1.
Khái quát lịch sử pháp luật Việt Nam
2.3.2.
Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
hƣớng tới Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
3.2.1.
Tính tất yếu khách quan xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật
3.2.2.
Định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
3.2.3.
Nguyên tắc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
3.3. Một số giải pháp cơ bản xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam hƣớng tới Nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
3.3.1.
Tiếp thu và xây dựng mô hình pháp luật phù hợp
3.3.2.
Cải cách luật Hiến pháp
3.3.3.
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo hiến
3.3.4.
Hoàn thiện quy trình lập pháp
góc độ nghiên cứu cũng nhƣ trên quan điểm của từng giai cấp và luôn có sự
kế thừa, phát triển. Về quan điểm lý luận xung quanh việc hình thành, phát
triển của tƣ tƣởng về Nhà nƣớc pháp quyền (NNPQ), cũng có nhiều cách tiếp
cận khác nhau trên cơ sở hệ tƣ tƣởng của mỗi giai cấp, mỗi chế độ chính trị –
xã hội; đặc điểm truyền thống văn hoá của mỗi dân tộc. Tuy nhiên, không ai
có thể phủ nhận đƣợc vai trò, chức năng to lớn của mô hình NNPQ trong quá
trình phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Sự hình thành và phát triển tƣ
tƣởng NNPQ là tinh hoa văn hoá nhân loại.
NNPQ là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù;
vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi quốc gia, dân
tộc. Không thể có NNPQ nhƣ một mô hình chung áp dụng cho mọi quốc gia.
Mỗi quốc gia, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình NNPQ phù hợp.
Đối với nƣớc ta, xây dựng NNPQ đƣợc đặt ra nhƣ một tất yếu. Tính tất
yếu bắt nguồn từ lịch sử xây dựng và phát triển của nhà nƣớc ta, từ bản chất
và định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà mục tiêu là xây dựng xã hội dân
giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; từ đặc điểm của thời
đại với xu thế toàn cầu hoá. Khái niệm NNPQ XHCN đƣợc Đảng ta chính
thức sử dụng từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994). Tiếp theo, 2
các Đại hội khoá VIII, IX, X của Đảng đã khẳng định chủ trƣơng và quan
điểm này.
Đánh giá khái quát 20 năm (1986 – 2006) thực hiện công cuộc đổi mới
do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo, “nƣớc ta đã đạt đƣợc những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã đƣa lại cho đất nƣớc ta một sự thay đổi cơ bản và
toàn diện, làm cho thế và lực, uy tín quốc tế của nƣớc ta tăng lên nhiều so với
trƣớc” [7, tr.8]. Một trong những đột phá về tƣ duy lý luận của Đảng ta trong
thời kỳ đổi mới là đề xƣớng chủ trƣơng xây dựng NNPQ XHCN của nhân
quan cần phải đổi mới toàn diện trên nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó
có HTPL. Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá
trình xây dựng NNPQ, các yêu cầu của NNPQ XHCN đối với việc xây dựng
và hoàn thiện HTPL nƣớc ta hiện nay là việc làm cần thiết và cấp bách.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong những năm qua, ở nƣớc ta có nhiều công trình khoa học, ở nhiều
cấp độ khác nhau nghiên cứu về NNPQ và NNPQ XHCN. Trong các công
trình khoa học đó, các tác giả đã khái quát những tƣ tƣởng cơ bản của NNPQ,
NNPQ XHCN; đồng thời tìm ra bản chất và những đặc trƣng, yêu cầu cơ bản
của NNPQ, NNPQ XHCN. Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của
các nhà khoa học đi trƣớc, đề tài này đi sâu nghiên cứu nhằm tiếp tục khẳng
định bản chất của NNPQ, NNPQ XHCN; đồng thời tìm tòi các yêu cầu của nó
đối với HTPL ở nƣớc ta hiện nay, đề xuất định hƣớng xây dựng và hoàn
thiện.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, việc nghiên
cứu các đặc trƣng NNPQ XHCN; đặc biệt là các yêu cầu của NNPQ XHCN
đối với việc xây dựng và hoàn thiện HTPL Việt Nam hiện nay là vấn đề rất
cấp thiết. Dựa trên các kết quả nghiên cứu về lý luận và đánh giá thực tiễn
để đƣa ra những ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện HTPL Việt Nam đáp ứng
yêu cầu của NNPQ XHCN. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn
cao học, tác giả đặt ra các mục tiêu chủ yếu nhƣ sau:
- Nghiên cứu, làm rõ hạt nhân và các thành tố cơ bản của NNPQ,
NNPQ XHCN; 4
- Tìm tòi và phát hiện ra các yêu cầu cơ bản của NNPQ XHCN đối với
HTPL;
- Phân tích những yếu tố cơ bản về thực trạng HTPL Việt Nam hiện
dựa trên những nghiên cứu về mặt lý luận, tìm hiểu thực tiễn, có thể thấy
những điểm mới của luận văn là:
- Góp phần khẳng định những giá trị chung về bản chất, các thành tố cơ
bản về NNPQ, NNPQ XHCN ở nƣớc ta hiện nay;
- Đƣa ra những yêu cầu của NNPQ XHCN đối với HTPL;
- Tìm ra những hạn chế, bất cập của HTPL nƣớc ta so với yêu cầu của
NNPQ XHCN;
- Điểm mới quan trọng của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu hạt nhân
và các thành tố cơ bản của NNPQ XHCN; các yêu cầu của nó đối với HTPL
và thực tiễn HTPL Việt Nam, luận văn đƣa ra một số giải pháp định hƣớng
xây dựng và hoàn thiện HTPL nƣớc ta hiện nay.
8. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
1.1. Khái quát về Nhà nƣớc pháp quyền
1.2. Khái niệm và bản chất Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
CHƢƠNG 2. PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1. Quan niệm, vị trí, vai trò của pháp luật trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
2.2. Những mối quan hệ cơ bản của pháp luật trong Nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa
2.3. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay – nhìn từ góc độ các
thành tố cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
CHƢƠNG 3. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HƢỚNG TỚI NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
phải tôn trọng quyền con ngƣời và hoạt động vì con ngƣời.
Xôlông (638 – 559 TCN) nêu ý tƣởng về NNPQ khi ông chủ trƣơng cải
cách nhà nƣớc bằng việc đề cao vai trò của pháp luật. Ông cho rằng chỉ có
pháp luật mới thiết lập đƣợc trật tự và tạo nên sự thống nhất “Tôi giải phóng
cho tất cả. Và điều đó đạt đƣợc nhờ có sự ngự trị của pháp luật bởi quyền lực
và pháp luật hoà hợp vào nhau” [30, tr. 28]. Tiếp sau Xôlông, Hêraclít (535 –
475 TCN) đã có sự bổ sung quan trọng, coi luật pháp là phƣơng tiện quan
trọng để chống lại cực quyền; coi công lý chính là sự tuân thủ pháp luật hiện
hành của một nhà nƣớc. Nếu không tuân thủ pháp luật thì cũng không thể có 8
nhà nƣớc và trật tự pháp luật; công dân của nhà nƣớc nào tuân thủ pháp luật
thì nhà nƣớc đó vững mạnh và phồn vinh: “ Ngƣời dân cần phải chiến đấu
bảo vệ cho pháp luật, nhƣ bảo vệ cho ngôi nhà của mình” [30, tr. 28]. Platon
(427 – 347 TCN) xem pháp luật có hiệu lực và khách quan là cơ sở tồn tại của
nhà nƣớc, nhà nƣớc sẽ không tồn tại nếu nhƣ trong nhà nƣớc ấy, toà án không
đƣợc tổ chức một cách thoả đáng: “Ta nhìn thấy sự huỷ diệt của loại nhà
nƣớc, ở đó luật pháp không có sức mạnh và phải nằm dƣới quyền lực của một
ai đó. Còn ở nơi mà luật pháp là lãnh chúa đối với kẻ cầm quyền, và họ là nô
lệ của nó, ta nhìn thấy đƣợc sự cứu vớt nhà nƣớc và mọi của cải mà chỉ
Thƣợng đế mới có thể ban tặng cho nó” [30, tr.31]. Aristote (384 – 323 TCN)
tiếp tục bổ sung, phát triển tƣ tƣởng NNPQ, theo ông, cần thiết phải có sự phù
hợp giữa nhà nƣớc và pháp luật, việc đề cao pháp luật phải gắn với cơ chế, hệ
thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc; ông nêu ý tƣởng về sự cần
thiết phải tổ chức nhà nƣớc một cách quy củ để bảo đảm sự công bằng của
pháp luật “khái niệm pháp luật – thƣớc đo của sự công bằng – là quy phạm
điều chỉnh sự giao tiếp chính trị” [30, tr. 34]. Xixêrông (104 – 44 TCN) tiếp
tục phát triển ý tƣởng của Aristote đến trình độ cao hơn, ông đã đƣa ra quan
niệm mới về nhà nƣớc, coi nhà nƣớc là một cộng đồng pháp lý. Ông đã đề ra
quan trọng của NNPQ tƣ sản. Montesquieu cho rằng quyền lực nhà nƣớc chia
thành: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tƣ pháp. Ba quyền này
đƣợc tổ chức theo cách vừa đảm bảo tính độc lập, vừa kiềm chế lẫn nhau.
Ông viết: “khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một
ngƣời hay một viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì rằng
ngƣời ta sợ chính con ngƣời ấy hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành
một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền tƣ pháp không tách
khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tƣ pháp nhập lại với
quyền lập pháp, thì ngƣời ta sẽ độc đoán đối với quyền sống, quyền tự do của 10
công dân; quan toà sẽ là ngƣời đặt ra luật. Nếu quyền tƣ pháp nhập lại với
hành pháp, thì quan toà sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp” [26, tr. 100]. Cùng với
lý thuyết về phân chia quyền lực, Montesquieu cũng bổ sung những quan
điểm lý luận quan trọng về bảo đảm tính tối cao của pháp luật.
Trong tác phẩm “Bàn về khế ƣớc xã hội”, bên cạnh việc phân tích
nguyên tắc chung của việc cai trị theo pháp luật, Rouseau đã bàn khá chi tiết
về các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tƣ pháp theo lý thuyết của
Montesquieu. Rouseau khẳng định tính tất yếu của khế ƣớc xã hội là cơ sở để
giải quyết vấn đề về nhà nƣớc, pháp luật và công dân. Ông cho rằng, “ Luật là
sự thống nhất cái tổng thể của ý chí với tổng thể của đối tƣợng” và “Dân
chúng tuân theo luật phải là những ngƣời làm ra luật”[27, tr. 34].
I. Kant (1724 – 1804) là ngƣời có đóng góp quan trọng trong việc phát
triển tƣ tƣởng NNPQ, đã đƣa ra những lập luận có tính triết lý về NNPQ. Ông
cho rằng, con ngƣời là chủ thể có ý thức về phẩm giá, trong hành vi của mình
phải tuân thủ những đạo luật đạo đức; thực chất của tự do là cái bên trong của
nhân cách con ngƣời; con ngƣời có khả năng ứng xử theo mục đích với những
cách thức phù hợp…. Pháp luật có hiệu lực bắt buộc cá nhân phải phục tùng ý
chí chung. Nhà nƣớc là liên minh của nhiều ngƣời cùng phục tùng các đạo luật.
nhau tƣơng đối giữa các quan niệm, khẳng định sự thống nhất trong việc nhận
thức về hạt nhân hợp lý của NNPQ và nhóm hợp các đòi hỏi khác nhau về
NNPQ trong việc vận dụng vào các bối cảnh xã hội cụ thể.
Trƣờng phái Anh – Mỹ dùng thuật ngữ “The Rule of Law” để chỉ khái
niệm NNPQ. Trong thuật ngữ đó không có từ “nhà nƣớc”. Trong khi trƣờng
phái Châu Âu Lục địa sử dụng thuật ngữ “Rechtsstaat” của Đức và “État de
Droit” của Pháp đều bao hàm từ “nhà nƣớc”.
Các học giả theo hệ thống Anh quốc cho rằng NNPQ có thể đƣợc hiểu
hoặc là một học thuyết chính trị hay triết học đặt ra các yêu cầu căn bản cho 12
pháp luật, hoặc là một phƣơng cách có tính chất thủ tục (a procedural decive)
mà bởi nó những ngƣời có quyền lực cai trị bị đặt dƣới pháp luật. Bản chất
của NNPQ là bảo đảm chủ quyền hay tính tối cao của pháp luật đối với con
ngƣời. “The Rule of Law” đã đi vào cuộc sống từ rất sớm ở nƣớc Anh và Hoa
Kỳ. Trong khi đó, “Rechtsstaat” phát sinh trong lĩnh vực pháp lý ở Đức và
Pháp do đòi hỏi cấp bách của việc xây dựng nền móng của luật công vào
khoảng nửa sau của thế kỷ XIX. Học thuyết này đã xem nhà nƣớc là một cấu
trúc pháp lý nhƣ Josef Thesing đã khẳng định:
“ NNPQ, một nhà nƣớc dân chủ theo chế độ pháp trị, chịu sự kiểm soát
và hạn chế của pháp luật trong mọi hoạt động của nó, điểm quan trọng nhất là
kiềm chế sự lộng quyền của chính phủ nhằm bảo vệ tự do của cá nhân. Nhƣ
vậy, một “NNPQ” là một nhà nƣớc gắn chặt với pháp luật và đƣợc hợp pháp
hoá bởi pháp luật” [32, tr.33].
“Neil MacCormick, trong một công trình nghiên cứu so sánh giữa
“The Rule of Law” và “Rechtsstaat”, cho rằng không có sự khác nhau chính
yếu giữa chúng. Xuất phát từ góc độ ngôn ngữ, ông lý giải trong học thuyết
NNPQ của hệ thống Anh – Mỹ không có từ “nhà nƣớc” (state) trong tên gọi
của học thuyết, bởi trong luật hiến pháp Anh quốc từ “nhà nƣớc” chƣa bao
chức chính trị – xã hội của công dân, quan hệ giữa các công dân với nhau;
4. Sự phân công quyền lực thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tƣ
pháp; sự hiện diện của cơ chế phối hợp giữa ba loại hình cơ quan ấy;
5. Mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tƣ pháp do
tính chất quan trọng của nó phải đƣợc điều chỉnh bằng các quy phạm pháp
luật và các nguyên tắc của hiến pháp là đạo luật cao nhất có hiệu lực trực tiếp;
6. Hiến pháp, các đạo luật và toàn bộ HTPL phải đƣợc xây dựng trên
nền tảng các tƣ tƣởng pháp lý tiến bộ đã đƣợc thừa nhận chung của nhân loại
nhƣng công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế; 14
7. Quy định trong luật và thực hiện chủ quyền của nhà nƣớc;
8. Hiện diện sự tƣơng ứng của pháp luật trong nƣớc với các nguyên tắc
và quy phạm của pháp luật quốc tế;
9. Thƣờng xuyên sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện HTPL nhằm bảo đảm
một nền pháp lý ổn định, phù hợp và hoàn thiện;
10. Giáo dục pháp luật, nâng cao văn hoá pháp luật và tuyên truyền,
giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân là điều kiện quan trọng để hình thành
NNPQ XHCN”[30, tr. 71-72].
Quan niệm về NNPQ của các học giả Việt Nam hiện nay không quá
khác với các quan niệm về NNPQ nêu trên. Nhiều lý giải về NNPQ cũng dựa
trên căn bản của các yếu tố chủ yếu nhƣ tính tối cao của luật, nguyên tắc pháp
chế và các quyền tƣ do của con ngƣời. Cho đến nay, chúng ta chƣa thể có một
định nghĩa đích xác về NNPQ. Tuy nhiên, có thể khái quát “NNPQ đòi hỏi phải
có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ
chức quyền lực chính trị. Đó là hai yếu tố không thể thiếu đƣợc khi nói đến
NNPQ” [34, tr. 100] hay “NNPQ là nhà nƣớc bị hạn chế quyền lực, mà phƣơng
tiện hạn chế quyền lực của nhà nƣớc này là các văn bản quy phạm pháp luật,
đứng đầu là bản hiến pháp”[27, tr.88].
- Chủ nghĩa lập hiến;
- Chính quyền phải bị điều chỉnh bằng pháp luật;
- Hệ thống toà án độc lập;
- Pháp luật phải đƣợc áp dụng bình đẳng và thích hợp;
- Pháp luật phải rõ ràng, minh bạch và gần gũi với tất cả mọi ngƣời;
- Việc áp dụng pháp luật phải có hiệu quả và đúng lúc;
- Các quyền về kinh tế và tài sản, kể cả hợp đồng phải đƣợc bảo hộ;
- Quyền con ngƣời phải đƣợc bảo hộ; 16
- Pháp luật chỉ có thể đƣợc thay đổi với quy trình đƣợc thiết lập minh
bạch, rõ ràng và gần gũi với tất cả mọi ngƣời” [12, tr. 71 – 72].
Từ kết quả nghiên cứu, đúc rút các thành tố cơ bản của NNPQ nêu trên,
chúng ta có thể khái quát những đặc trƣng chung nhất thể hiện bản chất của
NNPQ nhƣ sau:
Thứ nhất, sự ngự trị của pháp luật trong đời sống nhà nƣớc và xã hội
nhƣ quyền lực tối thƣợng. Với sự ra đời của các tƣ tƣởng và học thuyết về
NNPQ, mối quan hệ giữa nhà nƣớc và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản.
Pháp luật do nhà nƣớc ban hành giữ vai trò thống trị không chỉ đối với xã hội
mà còn đối với bản thân nhà nƣớc. Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì
và phát triển xã hội mà còn là công cụ pháp lý để duy trì và phát triển nhà
nƣớc. NNPQ là nhà nƣớc đƣợc xây dựng trên cơ sở ý chí chung của nhân dân
và là nhà nƣớc hợp hiến. Trong NNPQ, tất cả cán bộ nhà nƣớc chỉ đƣợc làm
những gì pháp luật cho phép, còn công dân đƣợc làm tất cả những gì pháp
luật không cấm. Nhà nƣớc và công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật.
Quản lý xã hội bằng pháp luật và nhà nƣớc đặt mình dƣới pháp luật là
một tiến bộ, một giá trị xã hội. Với nguyên tắc pháp luật thống trị, tính ổn
định về tổ chức và hoạt động của nhà nƣớc đƣợc duy trì; tính thống nhất, hiệu
lực và hiệu quả của các chính sách đƣợc bảo đảm; quan hệ nhà nƣớc – công
nƣớc cam kết, tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm
của công dân. Con ngƣời đƣợc sống trong công lý và lẽ phải.
Trong NNPQ, quyền con ngƣời, quyền công dân đƣợc xác lập về mặt
pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Mọi
công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật, đều có thể yêu cầu cơ quan nhà nƣớc
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Đây là mục đích hàng đầu của NNPQ. Vì
vậy, trong NNPQ quyền lực của nhà nƣớc bị hạn chế để tránh xâm hại quyền tự
do hợp pháp của cá nhân. Các cơ quan nhà nƣớc đƣợc hành động nếu đƣợc 18
nhân dân uỷ quyền và họ không đƣợc tự cho mình quyền đó; thẩm quyền đó
phải do luật hay hiến pháp quy định. Các quyền của công dân đƣợc mở rộng
bao nhiêu thì quyền nhà nƣớc bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu.
Thứ năm, NNPQ bảo đảm và phát huy dân chủ. Dân chủ vừa là mục
tiêu, vừa là điều kiện tiên quyết của NNPQ. NNPQ tạo ra những cơ chế, thiết
chế thực hiện các quyết định của pháp luật, duy trì trật tự và tự do công cộng
nhƣ là những điều kiện cần thiết cho các biểu hiện của dân chủ. Pháp luật
trong NNPQ vừa là công cụ để thực hiện dân chủ, vừa là phƣơng tiện làm chủ
của nhân dân đối với nhà nƣớc và xã hội, quy định tổ chức và thẩm quyền của
các cơ quan nhà nƣớc trong việc xây dựng và vận hành các thiết chế dân chủ.
Dân chủ cần sự điều chỉnh của pháp luật và dân chủ trong khuôn khổ của
pháp luật. Dân chủ thực chất là xây dựng quyền lực của dân, tạo môi trƣờng
cho hoạt động tự do và sáng tạo của mọi ngƣời dân. Các quan hệ giữa công
dân và nhà nƣớc, công dân với công dân và giữa các quốc gia đƣợc bảo đảm
bằng pháp luật. NNPQ là một nhà nƣớc dân chủ, phát triển cùng với sự phát
triển của một nền dân chủ. Nếu dân chủ bị thủ tiêu thì không có NNPQ.
1.2. Khái niệm và bản chất Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.2.1. Quá trình nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
phƣơng pháp căn cứ vào luật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa
xã hội thắng lợi triệt để. Có thể nói V.I.Lênin là ngƣời đã sáng tạo ra khái
niệm pháp chế XHCN và là ngƣời trực tiếp chỉ đạo xây dựng tổ chức Viện
Kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm pháp chế nghiêm minh và thống nhất.
b. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời sáng lập Đảng và Nhà nƣớc ta. Ngƣời
đích thân lãnh đạo việc xây dựng bộ máy nhà nƣớc và HTPL Việt Nam. Tƣ 20
tƣởng của Ngƣời đã dựa trên một hệ quan điểm rõ ràng, nhất quán phù hợp
với đặc điểm và truyền thống Việt Nam, trên nền tảng cơ sở kinh tế và cơ cấu
xã hội Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử. Ở Ngƣời đã sớm hình thành một
hệ thống quan điểm về pháp quyền, nhân quyền, về Hiến pháp, về các quyền
tự do, dân chủ, về bản chất, vai trò của pháp luật trong cải cách xã hội v.v; có
thể khái quát trên những điều cơ bản sau đây:
Hồ Chí Minh cũng kế thừa tƣ tƣởng triết học phƣơng Tây và phƣơng
Đông về "đề cao nhân dân", khẳng định nguồn gốc sâu xa của quyền lực nhà
nƣớc là ở nhân dân. Trong quan hệ với nhân dân, nhà nƣớc chỉ là cơ quan đại
diện đƣợc nhân dân trao quyền, quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân, nhân
dân trao quyền lực cho nhà nƣớc qua bầu cử theo nguyên tắc "phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín". Hồ Chí Minh khẳng định: “Nƣớc ta là nƣớc
dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Nói tóm lại, quyền hành và lực
lƣợng đều ở nơi dân” [20, tr. 698]. Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định chế độ
trƣng cầu dân ý, rằng "những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đƣa ra
nhân dân phán quyết" [1, Điều 32].
Dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là một nền dân chủ triệt để, cả
trong dân chủ đại diện cũng nhƣ dân chủ trực tiếp đều phải phát huy dân chủ
đến cao độ mới có thể tạo nên sức mạnh to lớn, bền vững cho nhà nƣớc và
cách mạng. Mặt khác, Ngƣời thƣờng nhấn mạnh, dân chủ ở đây là "dân chủ