Vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy đối với chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ THU HIỀN
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ ĐỐI VỚI
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
(Qua ví dụ của tỉnh Nam Định) Chuyên ngành : Lý luận và Lịch sử Nhà nước pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung

1.2. Khỏi nim, v trớ, chc nng ca Tnh u
11
1.2.1. Khỏi nim, c cu ca Tnh u
11
1.2.1.1. Khỏi nim Tnh u
11
1.2.1.2. C cu ca Tnh u
12
1.2.2. Chc nng
13
1.2.2.1. Chc nng Tnh u
13
1.2.2.2. Chc nng Ban thng v
14
1.2.2.3. Chc nng thng trc Tnh u
16
1.2.3. V trớ ca Tnh u
18
1.2.3.1. V trớ ca Tnh u trong h thng ng
18
1.2.3.2. V trớ ca Tnh u trong quan h vi chớnh quyn a
phng
19
1.3 Vai trũ lónh o ca Tnh u i vi chớnh quyn a
phng trong iu kin xõy dng NNPQ
20
1.3.1. Khỏi nim, vai trũ ca chớnh quyn a phng nc ta
20
2.1.2.2. Lónh o thụng qua t chc cỏn b
40
2.1.2.3. Lónh o qua cụng tỏc kim tra
43
2.1.3. Hn ch
43
2.1.4. Nguyờn nhõn ca hn ch
45
2.2. Vai trũ lónh o ca Tnh u Nam nh i vi chớnh
quyn a phng trong thi k i mi (1986 n nay)
47
2.2.1. S lónh o ca Tnh u H Nam Ninh giai on 1986-
1992
48
2.2.1.1. Nhn thc v s lónh o ca Tnh u i vi chớnh quyn
49 2.2.1.2. Nội dung lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với chính quyền
50
2.2.1.3. Kết quả lãnh đạo của Tỉnh uỷ
53
2.2.1.4. Nguyên nhân kết quả
56
2.2.2. Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Nam Hà giai đoạn 1992- 1997
59
2.2.2.1. Nhận thức về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ
59
2.2.2.2. Nội dung lãnh đạo của Tỉnh uỷ
60

96
2.4.3. Bí thư Tỉnh uỷ kiêm làm Chủ tịch UBND Tỉnh
96
2.4.4. Khi lãnh đạo bầu cử Đại biểu HĐND và bầu các chức
danh cán bộ quản lý thì Tỉnh uỷ nên có định hướng rõ ràng đảm
98 bảo giới thiệu ít nhất hai người ngang nhau cho một chức danh
2.4.5. Đảm bảo tổ chức tốt việc phối hợp giữa lãnh đạo và quản

99
2.4.6. Tăng cường công tác kiểm tra trong việc chấp hành
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
100
2.4.7. Tỉnh uỷ cần xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ thoả đáng
để thu hút nhân tài về công tác ở các cơ quan Đảng, chính quyền
trong Tỉnh
101
2.4.8. Nâng cao năng lực trách nhiệm của Tỉnh uỷ viên nói
riêng, cán bộ Đảng viên nói chung
102
2.4.9. Tỉnh uỷ nên xây dựng một địa chỉ liên lạc để trưng cầu dân
ý về vấn đề:“Tiềm năng và các biện pháp phát huy tiềm năng, thế
mạnh của Tỉnh Nam Định trong nền kinh tế thị trường thời kỳ hội
nhập” qua các hình thức trực tiếp, gián tiếp
103
2.4.10. Tỉnh uỷ lãnh đạo cần linh hoạt căn cứ vào thực tế địa
phương, xác định rõ đối tượng, mục đích, phát huy quyền chủ động
sáng tạo và tính chịu trách nhiệm cao của chính quyền trong nền

5.
Toà án nhân dân
TAND
6.
Trung -ơng
TW
7.
Uỷ ban nhân dân
UBND
8.
Viện Kiểm sát nhân dân
VKSND
9.
Xã hội chủ nghĩa
XHCN


2
Những thách thức hiện nay mà chúng ta phải đối mặt trong nền kinh tế thị
trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình xây dựng NNPQ là:
- Phát triển đất nước theo chế độ một đảng hay đa đảng?
- Vai trò lãnh đạo của Đảng có thể bị lu mờ
- Các thế lực thù địch từ bên ngoài luôn tìm cách chia rẽ sự đoàn kết dân
tộc, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng nhằm âm mưu lật đổ chính
quyền…
Điều đó đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu, có biện pháp nâng cao vai trò
lãnh đạo của Đảng để phát huy lợi thế, đẩy lùi nguy cơ thách thức, đưa đất
nước vững vàng vượt qua mọi khó khăn, xây dựng đất nước phát triển theo
hướng văn minh, hiện đại. Văn kiện Đại hội khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng và “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước” [9, tr.114] đòi
hỏi Đảng phải tự đổi mới, nhạy bén trong quyết sách đường lối để vận dụng
phù hợp với hoàn cảnh thực tại ở Việt Nam. Trong điều kiện Đảng cầm quyền,
muốn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng phải mạnh
từ TW đến cơ sở.
Trong phạm vi địa phương, cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh là Tỉnh
uỷ. Tỉnh uỷ có vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo Nhà nước đảm bảo phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương. Vai trò này được thể hiện như thế nào trong
thời đại mới? làm thế nào để tăng cường hiệu lực lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối
với chính quyền để chính quyền hoạt động hiệu quả? Đây là vấn đề mang tính
thời sự mà ta cần nghiên cứu để nâng cao vai trò lãnh đạo của Tỉnh uỷ trong
giai đoạn hiện nay. Đây là lý do giúp tôi tìm hiểu vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhiều công trình nghiên cứu
mới dừng lại ở tầm vĩ mô như : “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
4
- Phân tích những vấn đề lý luận về vai trò lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với
chính quyền địa phương.
- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, luận văn đưa ra một số kiến nghị
nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Tỉnh uỷ, tăng cường tính hiệu lực, hiệu
quả trong lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với chính quyền trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước Pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
4. Giới hạn của luận văn
Tỉnh uỷ với vai trò là hạt nhân của hệ thống chính trị ở địa phương lãnh
đạo toàn diện các hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị ở địa phương, tuy
nhiên trong phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, luận văn chỉ đề cập đến vai trò lãnh
đạo của Tỉnh uỷ đối với chính quyền, cụ thể như:
- Đề ra chủ trương, đường lối, định hướng cho sự phát triển địa phương
trong từng thời kỳ.
- Thông qua công tác tổ chức cán bộ trong bộ máy chính quyền.
- Kiểm tra, giám sát đảng viên và các tổ chức Đảng trong việc chấp hành,
tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dùng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích, quy nạp, tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê
- Phương pháp so sánh, logic…
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn giúp tôi hiểu hơn về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
trong phạm vi địa phương. 5
7

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ LÃNH
ĐẠO CỦA TỈNH UỶ ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG
1.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc dân chủ là cần thiết
Mỗi nhà nước dân chủ tồn tại cần có một chính đảng lãnh đạo; dân chủ là
giá trị của văn minh nhân loại mà bao đời nay loài người hướng tới. Trong
Nhà nước quân chủ, phong kiến, hình thức truyền ngôi đã hạn chế quyền tự
do, dân chủ của nhân dân trong việc tham gia công việc xã hội, quản lý Nhà
nước. Cách mạng Tư sản thành công đã đem lại quyền tự do dân chủ cho dân
thông qua bầu cử. Qua bầu cử, các tầng lớp nhân dân đã bầu ra đại diện của
mình trong cơ quan Nhà nước, trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý xã hội. Như
vậy, bầu cử lập ra các chức danh trong cơ quan Nhà nước là đặc trưng của Nhà
nước dân chủ. Mà chủ thể đứng đằng sau các cuộc bầu cử là các Đảng chiếm
ưu thế. Nói cách khác, chủ thể lãnh đạo bầu cử là Đảng cầm quyền. Đảng đó

mới, xây dựng “một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
giàu mạnh”.
Sau Đại hội VI, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chính thức
được thể chế hoá trong điều 4 Hiến pháp 80, Hiến pháp 92. Nếu như ở Việt
Nam, Hiến pháp quy định “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội” [29, tr.124] thì trong Nhà nước Tư bản, vai trò lãnh đạo
của đảng Tư sản không được Hiến pháp Tư sản quy định. Có thể nói, chính
thể Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua Hiến pháp khẳng định
rõ việc tổ chức quyền lực phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đảng
của mọi giai cấp tầng lớp nhân dân, khác với chính thể các Nhà nước tư sản
đặt dưới sự lãnh đạo của đảng giai cấp Tư sản. Vậy ở Việt Nam, Đảng Cộng
sản là chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 9
Hơn nữa, thực tiễn ở nước ta, qua công tác thống kê, thường thường có
khoảng tới 90% tổng số các Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là đảng
viên [33, tr.429], số lượng đảng viên được nhân dân tín nhiệm bầu vào cơ
quan quyền lực chiếm vị trí đa số. Đây cũng là cơ sở cơ bản cho việc các cấp
uỷ đảng từ trung ương đến địa phương có quyền bố trí các cán bộ ưu tú của
mình giữ các chức vụ quan trọng trong các cơ quan nhà nước [33, tr.423].
Đảng cộng sản lập ra Chính phủ, cấp uỷ đảng ở địa phương thành lập ra cơ
quan hành pháp ở địa phương.
Như vậy: Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là do thực tiễn cách
mạng Việt Nam quy định. Nhân dân Việt Nam không chấp nhận sự lãnh đạo
của bất kỳ đảng nào khác ngoài đảng cộng sản Việt nam, mà cũng không cho
phép một lực lượng chính trị nào có thể “đối lập” với Đảng cộng sản Việt Nam.
Lịch sử đã trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam vai trò là lực lượng duy nhất cầm
quyền, đảm nhiệm vai trò lịch sử thực hiện dân chủ. Chỉ một mình Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo vẫn có thể đảm bảo xã hội có dân chủ vì mục tiêu của

Quyền lực chính trị của Đảng được hình thành do :
+ Đường lối chính trị đúng đắn
+ Uy tín của Đảng
+ Đảng có cơ sở sâu rộng trong nhân dân
+ Do thành quả cách mạng mà Đảng đã đem lại cho nhân dân.
Quyền lực Nhà nước dựa trên:
+ Cơ sở pháp luật
+ Sức mạnh bạo lực
+ Công cụ và bộ máy cưỡng chế.
Nhà nước nào cũng có quyền lực nhưng với đảng thì không phải đảng nào
cũng có quyền lực chính trị. Ở các nước tư bản, chỉ đảng nào có uy tín hơn 11
chiếm được đa số ghế trong Quốc hội, trở thành đảng cầm quyền mới có
quyền lực chính trị đối với xã hội. Ở nước ta, Đảng Cộng sản là đảng có uy
tín rất lớn và có cơ sở sâu rộng trong nhân dân, là Đảng duy nhất cầm quyền.
Đảng cầm quyền nào cũng lãnh đạo, chi phối quyền lực Nhà nước, chỉ có
hình thức tổ chức và phương thức lãnh đạo là khác nhau. Ở các nước Tư bản,
sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với Nhà nước chủ yếu thông qua bộ
phận đảng viên của đảng đang nắm quyền lực Nhà nước. Ở nước ta sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước thông qua tổ chức, bộ máy của Đảng. Bộ máy
đó hình thành ở các cấp hành chính. Ở Trung ương là TW Đảng, ở địa
phương là Tỉnh uỷ, Huyện uỷ.
Tỉnh uỷ lãnh đạo chính quyền địa phương là tất yếu. Nói đến vai trò lãnh
đạo của Tỉnh uỷ đối với chính quyền là nói đến tác động của Đảng đối với cơ
quan Nhà nước ở địa phương. Với vai trò là hạt nhân của hệ thống chính trị ở
địa phương, Tỉnh uỷ có vai trò tối cao trong địa hạt của mình. Đặc biệt trong
xu thế xây dựng Nhà nước Pháp quyền, hội nhập kinh tế quốc tế, Tỉnh uỷ
càng cần nhạy bén đưa ra đường lối đúng đắn phù hợp với địa phương để thúc

thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Theo Điều 19 điều lệ Đảng: “Cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc TW (gọi
tắt là Tỉnh uỷ, thành uỷ), cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
(gọi tắt là huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ) lãnh đạo thực hiện Nghị quyết
đại hội đại biểu, Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên” [11, tr.32].
Hội nghị Tỉnh uỷ bầu Ban thường vụ, bầu Bí thư và Phó bí thư trong số
uỷ viên thường vụ; bầu uỷ ban kiểm tra; bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra
trong số uỷ viên ban Kiểm tra. Số lượng uỷ viên ban thường vụ và uỷ viên uỷ
ban kiểm tra do cấp uỷ quyết định theo hướng dẫn của BCH Trung ương.
Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội
đại biểu, nghị quyết, Chỉ thị của cấp uỷ cùng cấp và cấp trên; quyết định 13
những vấn đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị
nội dung các kỳ họp của cấp uỷ.
Thường trực cấp uỷ gồm bí thư, các phó bí thư, chỉ đạo kiểm tra thực
hiện Nghị quyết, Chỉ thị của cấp uỷ, của ban thường vụ và cấp uỷ cấp trên;
giải quyết công việc hàng ngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị
nội dung các kỳ họp ban thường vụ.
Tỉnh uỷ bầu ban thường vụ Tỉnh uỷ, bầu thường trực Tỉnh uỷ trong số uỷ
viên thường vụ, bầu Uỷ ban Kiểm tra, bầu chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra trong
số Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra.
+ Ban thường vụ Tỉnh uỷ thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo toàn diện các mặt
công tác của Đảng bộ giữa hai kỳ hội nghị Tỉnh uỷ.
+ Thường trực Tỉnh uỷ thay mặt Ban thường vụ Tỉnh uỷ lãnh đạo điều
hành công việc của Tỉnh uỷ.
Kết luận: Như vậy nói về Tỉnh uỷ thì ban thường vụ có vai trò quan trọng.
Trong ban thường vụ thì thường trực Tỉnh uỷ nói chung và cá nhân người Bí
thư nói riêng có vai trò quyết định, lãnh đạo hoạt động chính quyền, lãnh đạo

kiểm tra Đảng viên chấp hành điều lệ đảng và kiểm tra kỷ luật đảng.
- Trường Chính trị là cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh.
- Báo là cơ quan ngôn luận của Tỉnh uỷ, là tiếng nói của Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân trong tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của
Ban thường vụ Tỉnh uỷ.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CÁC CƠ QUAN ĐẢNG Ở CẤP TỈNH
Đại hội Đại
biểu Đảng bộ
tỉnh

- Ban Thường vụ
- Bí thư, Phó Bí thư
- Uỷ ban kiểm tra
Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh
(Tỉnh uỷ)
- Văn phòng, các ban,
báo, trường chính trị
- Các đảng uỷ, đảng
đoàn, ban cán sự
bầu
bầu
lập 15


viên và tổ chức Đảng theo quy định của điều lệ Đảng. Giới thiệu nhân sự ứng
cử viên vào các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch HĐND và UBND tỉnh.
- Sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết TW và công tác lãnh đạo của
Tỉnh uỷ, tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân cấp uỷ theo quy định của TW.
- Tham gia ý kiến về sự chỉ đạo của Ban thường vụ và hoạt động của uỷ
ban kiểm tra Tỉnh uỷ.
- Lãnh đạo HĐND và UBND tỉnh hoạt động theo luật tổ chức HĐND và
UBND.
1.2.2.2. Chức năng Ban thường vụ:
Ban thường vụ Tỉnh uỷ thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo toàn diện các công tác
của Đảng bộ giữa hai kỳ hội nghị Tỉnh uỷ.
- Cụ thể hoá và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các nghị quyết, Chỉ
thị của TW Đảng và của Tỉnh uỷ; thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo và kiểm tra toàn
diện các mặt công tác của Đảng bộ tỉnh.
- Căn cứ nghị quyết của TW và Nghị quyết của Tỉnh uỷ để quyết định
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh, chiến lược và quy hoạch phát triển một số ngành, lĩnh vực, địa bàn quan
trọng.
- Hàng năm nghe báo cáo và quyết định chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp
chủ yếu về kế hoạch kinh tế- xã hội, dự toán ngân sách, kế hoạch đầu tư xây
dựng và việc triển khai các công trình trọng điểm của tỉnh.
- Quyết định về đánh giá, quy hoạch, điều động , luân chuyển đề bạt, hiệp
y khen thưởng, tặng thưởng các danh hiệu Nhà nước; kỷ luật, xếp lương, nghỉ
chế độ bảo hiểm xã hội đối với các bộ thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý…
- Giới thiệu đảng viên tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND tỉnh; ứng
cử các chức danh lãnh đạo mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị của tỉnh. 17
- Trên cơ sở các quy định của Đảng và Nhà nước, quyết định thành lập,

trong từng thời kỳ và lĩnh vực công tác khó khăn, nổi cộm nhất; trực tiếp chỉ
đạo những vấn đề cơ mật về quốc phòng- an ninh, đối ngoại; chỉ đạo công tác
xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Tỉnh. Chủ động đề
xuất với Ban thường vụ và Tỉnh uỷ các chủ trương, biện pháp đổi mới phương
thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ; bảo đảm cho hoạt động của Tỉnh uỷ, Ban thường
vụ và Thường trực Tỉnh uỷ được thực hiện đúng quy chế, đúng nguyên tắc
của Đảng, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ tỉnh.
+ Chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của TW
và các mặt công tác lớn của tỉnh; thay mặt Tỉnh uỷ báo cáo với TW và thông
báo cho cấp dưới về hoạt động của Tỉnh uỷ theo đúng chế độ quy định; khi
cần thiết trực tiếp báo cáo với Bộ chính trị, Ban Bí thư về tình hình của tỉnh.
+ Chỉ đạo đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ điều hành công việc
hàng ngày của Đảng bộ; chỉ đạo đồng chí phó Bí thư- Chủ tịch UBND tỉnh
lãnh đạo Ban cán sự đảng UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện các Chỉ thị,
nghị quyết của TW và của Tỉnh uỷ có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước
ở địa phương. Thay mặt Tỉnh uỷ, Ban thường vụ và thường trực Tỉnh uỷ ký các
Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản của tỉnh uỷ và Ban thường vụ Tỉnh uỷ.
- Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ:
Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ cùng với Bí thư và Phó Bí thư- Chủ tịch
UBND tỉnh chịu trách nhiệm về toàn bộ công việc và hoạt động của Thường
vụ Tỉnh uỷ, đồng thời chịu trách nhiệm chính và trực tiếp về những công việc
được phân công.
+ Phó Bí thư thường trực chịu trách nhiệm trước Tỉnh uỷ, Ban thường vụ,
Thường trực và đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ về chỉ đạo xây dựng quy chế và chương
trình công tác toàn khoá của Tỉnh uỷ, chương trình công tác hàng tháng hàng quý 19
và hàng năm của Ban thường vụ. Chỉ đạo việc thực hiện quy chế và nội dung hội
nghị của Tỉnh uỷ, Ban thường vụ và các cuộc họp của thường trực Tỉnh uỷ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status