Phân tích bài thơ Bếp Lửa của nhà thơ Bằng Việt
Hẳn ai cũng có một quá khứ bên người thân, gia đình, một tuổi thơ trong sáng,
hạnh phúc, hoặc một tuổi thơ dữ dội, đau thương, nhưng sâu trong trái tim mỗi
người, những kỉ niệm, những hồi ức về tuổi thơ luôn là thứ có sức ám ánh sâu sắc
và lớn lao nhất cuộc đời mà ta mãi không thể quên. Nó sẽ đi theo ta suốt những
chặng đường đầy thăng trầm của đời ta, ăn sâu vào tâm khảm và ngự trị vĩnh hằng
trong tim ta Dù tuổi thơ ta có ngọt ngào hay cay đắng, thì vẫn còn có một hoặc
nhiều con người đã nâng đỡ ta, chăm sóc ta, và để lại dấu ấn làm kỉ niệm sống
mãi theo thời gian, năm tháng Nhà thơ Bằng Việt cũng có một tuổi thơ như
thế Một tuổi thơ đói khổ, cô đơn nhưng lại đầy đủ, ấm áp và hạnh phúc vô cùng!
Đầy đủ, tràn đầy tình yêu thương của bà, ấm áp bởi sự quan tâm, chăm sóc, chở
che của bà những ngày xa bố mẹ và hạnh phúc bởi có bà! Ông đã sáng tác bài thơ
“Bếp lửa” khi đang là một du học sinh ở Liên Xô, theo dòng hồi tưởng trong một
ngày mùa đông giá rét không có bà ở bên, ông tìm về tuổi thơ được ở cùng bà với
dòng chảy thời gian bên bếp lửa bập bùng tình yêu thương ấm áp, theo nhịp đập
của một con tim nhớ nhung da diết ”Bếp lửa” không chỉ làm ấm tình cảm bà cháu
mà còn sưởi ấm một đời người ”Bếp lửa” hay cùng chính là bà đang bên cháu,
hình ảnh bà đang hiện về lung linh qua ánh lửa “chờn vờn”, “chờn vờn”, đúng
không bà ơi ?
Bà đang nhóm bếp trong những dòng thơ đầu của cháu
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Ngay ba câu thơ đầu, điệp ngữ “một bếp lửa” đã đi liền với các từ láy … gợi cho
ta cái cảm giác ấm áp với tình cảm chứa chan. Ta cảm nhận được trong câu thơ
đầu, bếp lửa với những ngọn lửa ấm nóng cứ “chờn vờn” sưởi ấm cả gian nhà vào
lúc sớm tinh mơ mà sương sớm xuống buốt giá một mùa đông khi hai bà cháu
sống bên nhau. Bếp lửa là hình ảnh đầu tiên mà cháu nhớ lại khi hồi tưởng về quá
khứ. Vì có hình bóng bà luôn gắn liền với bếp lửa “rồi sớm rồi chiều” bà nhen hay
bếp lửa ấy cũng ấm như lòng bà thương cháu, ấm như tình cảm gia đình, hơi ấm
của bếp lửa cũng chính là của bà đang sưởi tim cháu, lan tỏa cả gian nhà chỉ có hai
kiệt sức dần, như thể từ từ giết chết người ta vậy! Bao trùm lên toàn xã hội lúc bấy
gời là cái đói ghê rợn, cái đói lịch sử của dân tộc ta đã làm chết hơn hai triệu người!
Trong kí ức của cháu, đến giờ nó vẫn còn ám ảnh dai dẳng lắm, khủng khiếp lắm!
Hơn hai mươi năm sau, khói vẫn làm cay mắt tác giả, như thể vừa mới “hun
nhèm” thôi! Kỉ niệm ùa về ngập tràn trong tim, trong tâm óc, và đọng lại nơi khóe
mắt cay cay mùi khói của quá khứ. Cay vì khói, vì cái đói làm những giọt nước
mắt của đứa trẻ thơ dại cay xè đi trong cảm giác “đói mòn đói mỏi”đang ăn sâu
vào từng tế bào, dấy lên trong cổ họng và dường như là cả cơ thể nỗi thèm khát cái
ăn, củ khoai, củ sắn, hay là giọt nước mắt mừng rỡ, sung sướng, hạnh phúc đến tột
cùng khi sắp được ăn cho thỏa nỗi thèm, bù lấp phần nào cái đói dai dẳng, lúc bà
đang lặng lẽ nhóm bếp lửa, tức là cháu sắp được ăn rồi đấy! Trong tâm trí non nớt
của đứa trẻ lên bốn, dù đồ ăn cũng chẳng có gì ngon, nhưng hồi ấy là cả một thứ
“sơn hào hải vị” không gì sánh bằng, cả một điều lớn lao, vĩ đại!
“ Cái năm đói củ rong giềng luộc sượng
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”
(Đò Lèn-Nguyễn Duy)
Vâng! Chỉ như thế thôi, cũng làm ấm lòng cháu và trở thành một kỉ niệm không
thể quên của đời cháu! Cái “cay” ấy còn là cái đắng cuả những đói khổ không
chỉ của có hai bà cháu tác giả mà còn của nhiều người khác nữa! Đến người còn
không có ăn, nói chi “ngừa gầy””khô rạc” là điều dĩ nhiên! Theo lời tâm sự của tác
giả, lúc đó, để kiếm thêm tiền nuôi gia đình, bố tác giả có đi đánh xe chạy chuyến
Phùng (Đan Phượng, Hà Tây) đi Hà Nội . Đó cũng là một kỉ niệm còn neo lại nơi
tâm trí cháu, trở thành một trong những điều ám ảnh suốt cuộc đời cháu mãi không
quên! Khổ thơ không nhắc tới bà, nhưng sao bà đẹp và lặng thầm thế! Bà chở che
cho cháu và cho cả gia đình, là cây cao bóng cả suốt những ngày đói khổ, những
giông tố ập đến phũ phàng và dai dẳng Bà nhỏ bé mà vĩ đại, lớn lao như thế
đấy Trong lòng cháu !
Tới đây, dòng cảm xúc hòa vào dòng chảy của những câu thơ tự sự, tưới đẫm chất
trữ tình cho giọng thơ, góp phần làm cho hình ảnh bà trong bài thơ hiện ra rõ hơn
và đẹp hơn cả:
của Tố Hữu, làm sục sôi khao khát tự do mãnh liệt, bùng cháy mạnh mẽ nơi người
tù cách mạng, khiến anh phải thốt lên:
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi!
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
Tiếng kêu đầy khao khát và khắc khoải ấy cũng xuất hiện ở nỗi nhớ da diết về quê
hương và bóng người cha già quạnh hiu, cô đơn trong lòng cô con gái tuổi thanh
xuân-bài thơ “Tiếng chim tu hú” của nữ thi sĩ Anh Thơ:
“Rồi tiếng chim tu hú
Vang suốt những mùa hè
Con đi dài thương nhớ
Mười năm chưa về quê!”
Ta dễ dàng cảm nhận được trong “Bếp lửa”, tiếng chim tu hú khắc khoải làm cho
dòng kỉ niệm của cháu trải dài hơn, rộng hơn và sâu hơn trong cái không gian xa
vẳng của nỗi nhớ thương Và bà ơi khi tu hú kêu, thì đó cũng là lúc “Bà hay kể
chuyện hồi còn ở Huế”. Những câu chuyện ấy, rất dài mà rất hay, thấm thía, hơn
thế nữa, nó còn được kể qua chất giọng ấm áp, chậm rãi, chan chưa cảm xúc và
tình yêu thương của bà. Có thể đó là những chuỗi ngày hạnh phúc khi gia đình ở
Huế, bà cũng là người hoài niệm, sâu sắc và đầy suy ngẫm Cũng có thể đó là rất
nhiều những câu chuyện, giống như những câu chuyện mà bà hay kể “hồi còn ở
Huế”! Vậy ư? Thế thì nhiều lắm lắm! Trong kho tàng chuyện ấy, có thể, tuổi thơ
cháu đã ướp đậm vị ngọt ngào của hương cổ tích! Cháu hào mình vào thế giới nơi
có cô Tấm thảo hiền, có chằng Thạch Sanh dũng cảm, có mẹ con nhà Cám độc ác,
tàn nhẫn, có mẹ con Lí Thông gian xảo, mưu mô, có cái thiện cũng như cái ác.
Và hơn hết, cái thiện bao giờ cũng thắng cái ác! Nhắc tới tuổi thơ, người ta bao giờ
cũng nghĩ ngay đến những câu chuyện cổ tích mà bà và mẹ hay kể cho con trẻ
nghe, rồi bảo chúng rút ra bài học, hoặc dăn dạy những điều hay, lẽ phải từ câu
chuyện ấy! Chuyện cổ tích mà bà kể cho cháu nghe cũng thế! Vừa đơn giản, dễ
hiểu, mà lại vừa sâu sắc, thấm đẫm tình Bà đã ươm lên và nuôi dưỡng trong
rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu
chuyện những ngày ở Huế, Nhà thơ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến
ở cùng bà?/Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa!”. Một lời than thở thể hiện nỗi
nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ người khi nghĩ lại những ngày tháng đã
xa Xen lẫn trong đó là một niềm tự hào vì mình có bà của đứa cháu ngây thơ
trước những con chim tu hú bơ vơ cứ “kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
ngoài kia! Cháu thương bà và cũng thương tu hú nữa! Vì cảnh ngộ của hai bà cháu
ta sao mà giống tu hú thế! Cũng hiu quạnh, cô đơn, cha mẹ thì “bận công tác
không về” mất rồi! “Tu hú ơi, hãy về ở cùng bà đi, bà sẽ chăm sóc cho tu hú, như
là bà đã chăm sóc cho ta, và tu hú sẽ không phải bơ vơ nữa! Tu hú về với bà, thì cả
bà và tu hú sẽ cùng bên nhau, không ai cô đơn cả!”Cảm xúc này, thật giống với
những cảm xúc của cô con gái xa bố, xa vườn vải, xa quê hương trong bài thơ
“Tiếng chim tu hú” của Anh Thơ:
“-Tu hú ơi tu hú!
Kêu hoài chi vườn xanh
Ta còn đi đi nữa
Như dòng sông trôi nhanh
Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn
gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn quýt không rời. Tình yêu
thương của bà dành cho cháu, của cháu đối với bà đã để lại trong lòng cháu những
kỉ niệm không bao giờ nhạt phai và nó luôn sống mãi bởi âm thanh tiếng chim tu
hú da diết ấy luôn âm vang trong tim cháu, như tiếng lòng thổn thức của cháu luôn
nhớ mong về bà
Chiến tranh ! Một danh từ bình thường nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vô
cùng, nó đã gây ra đau khổ cho bao người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ
cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt
cháy rụi Đốt làng là sự kiện tiêu biểu của hậu phương trong chiến tranh, như
trong truyện ngắn “Làng”của Kim Lân, nhà ông Hai cũng bị đốt, ở bài hát“Làng
tôi”của nhạc sĩ Nam Cao, hình ảnh đau thương ấy cũng được nhắc đến hay trong
một bài thơ cũng viết về bà rất cảm động “Đò Lèn” của Nguyễn Duy :
cháu, luôn tin tưởng vào kháng chiến, vào cách mạng khi nhắc cháu viết thư vẫn
bảo nhà bình yên để bố mẹ an tâm công tác chiến đấu.Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt
đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn, một ngọn lửa:
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng ”.
Bà lại làm lại từ đầu, từ “lại” trong câu thơ thể hiện sự chắt chiu, sự bắt đầu làm lại
sau những khó khăn, thiếu thốn! Bà vẫn “nhen” lên bếp lửa “rồi sớm rồi chiều”, dù
“nhen” thì khó hơn là “nhóm”! Trên nền đất cũ của ngôi nhà đã bị đốt “cháy tàn
cháy rụi”, bà nhen lên một sự sống mới, mãnh liệt hơn, dai dẳng hơn, bởi trong
lòng bà “một ngọn lửa luôn ủ sắn”, “một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”! Đó
chính là ngọn lửa mà bà đã truyền cho cháu-sức mạnh và niềm tin, để cháu vững
lòng vượt qua những khó khăn, thử thách đầu đời giống như bà đang cố gắng đây!
Giặc Pháp có thể phá làng, đót nhà, nhưng không thể dập tắt đi ngọn lửa, ấm áp
cháy mãi trong lòng bà! Ngọn lửa “chưa niềm tin dai dẳng”, ngọn lửa mang tình
yêu thương của bà, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng soi sáng
cho con đường cháu đi, ngọn lửa hi vọng vào một tương lai tốt đẹp cho tổ quốc,
cho lẽ sống thiêng liêng, cao đẹp của cả dân tộc! Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong
câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn
lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu. Bà- một con người nhỏ bé mà vĩ đại vô
cùng! Bà đốt lên ngọn lửa cháy vĩnh hằng trong tim cháu bằng ngọn lửa mà “lòng
bà luôn ủ sẵn”, bà sưởi ấm lòng cháu trong suốt những năm tháng đã qua bằng
ngọn lửa yêu thương vô bờ! Bà nâng bước cháu đi trên con đường đời bởi ngọn
lửa của niềm tin bất diệt ấy, bà truyền cho cháu hơi ấm tình thương và bà sáng mãi
như một ngọn lửa Không bao giờ tắt !Bốn tuổi cháu biết cái đói, tám tuổi cháu
hiểu những câu chuyện của bà, rồi biết chiến tranh đau khổ, gian lao của đất nước,
và bắt đầu có niềm tin mà bà nhen lên trong cháu Và giờ đây, cháu cảm được :
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm
hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người, bà nuôi dưỡng tâm hồn cháu
ngay từ những ngày còn thơ dại để tạo gốc rễ cho sự hình thành tốt đẹp mãi tới tận
mai sau!Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu
tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân
Quỳnh:
“Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
Bà làm cho kỉ niệm những năm tháng ấy trở thành bóng che rợp mát đi theo suốt
cuộc đời cháu, khiến cháu thốt lên trong những xúc động nghẹn ngào: “Ôi kì lại và
thiêng liêng-bếp lửa!”Tình thương và lòng nhân ái, bao la của con người mãi ấm
nóng, bền bỉ tóa sáng trường tồn. Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh
bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà. Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như
tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vào bãi biển xanh thẳm lòng cháu. Bà đã là,
đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương
trời nào. Bà đã trờ thành ngọn lửa luôn cháy mãnh liệt và sưởi ấm tim cháu!
Để rồi giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, nhà thơ Bằng Việt vẫn luôn
hướng lòng mình về bà, cảm giác nhớ nhung da diết cồn cào những hồi ức quá đẹp
đẽ, ấm áp bên bà và hình ảnh bả luôn thường trực trong tâm khảm của người cháu:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
Bài thơ được kết lại trong một câu hỏi tu từ. Đó là một nỗi đau đáu nhớ về bà! Nhà
phê bình Văn Giá nhận xét:”Trong mọi trường hợp, người đán bà dưới mái ấm gia
đình thường gắn liền với nhứng gì thường nhật, thiết thân nhất. Họ giữ cho ta có
chỗ trở về sau những thăng trầm, biến cố, thành bại ở đời. Trong dáng hình bình dị,
thầm lặng khiêm nhường quá đỗi ấy ẩn giấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái,
xếp hàng mua vé:
"Lần đầu tiên trong nghìn năm,
có lẽ,
Cho tôi xin một vé
đi Tuổi Thơ."
Vé hạng trung-
Người bán vé hững hờ
Khe khẽ đáp:
Hôm nay vé hết!-
Biết làm sao
Vé hết, biết làm sao!
Đường tới Tuổi Thơ
còn biết hỏi nơi nào?
Nếu không kể
đôi khi ta tới đó
Qua trí nhớ
của chúng ta
từ nhỏ Ôi thành phố Tuổi Thơ-
bài ca ngày nhỏ
Chúng tôi hát-
Xin cảm ơn điều đó!
Nhưng chúng tôi không trở lại,
Đừng chờ!
Trái Đất nhiều đường,
Từ thành phố Tuổi Thơ
Chúng tôi lớn,
đi xa