Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN
THIỆN VỀ THỂ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG

Hà Nội - 2012

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1. Tổng quan về chất thải nguy hại 7
1.1.1. Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại 7
1.1.2. Các tính chất và thành phần nguy hại của CTNH 8
1.1.3. Phân loại CTNH 9
1.2. Quản lý Chất thải nguy hại 10
1.2.1. Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH 10
1.2.2. Các giải pháp quản lý CTNH 11
1.2.3. Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại 12
1.2.4. Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại hiện có ở Việt Nam 17
1.3. Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy
hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam 18
CHƢƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Địa điểm nghiên cứu 30
2.2. Thời gian nghiên cứu 30
2.3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 30
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1. Tình hình phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam 32
3.2. Tình hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại 46
3.3. Tình hình xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 51
3.4. Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 52
3.4.1. Khung pháp lý trong quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 53
3.4.2. Khung thể chế trong việc quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam. 56
3.4.3. Về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 60

tổng lƣợng CTNH phát sinh hàng năm của Việt Nam trong năm 2010 vào khoảng 840
ngàn tấn. Tuy nhiên, theo ƣớc tính sơ bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tại 45 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ƣơng, năm 2011 lƣợng CTNH đã vƣợt con số này. Theo
một điều tra khảo sát của JICA, tổng lƣợng chất thải phát sinh tại Việt Nam năm 2010
là trên 31,5 triệu tấn, trong đó chất thải công nghiệp là 5,5 triệu tấn và CTNH là 0,86
triệu tấn. Theo dự báo, tổng lƣợng chất thải phát sinh năm 2015 sẽ khoảng 43.6 triệu
tấn (1,55 triệu tấn CTNH); dự báo lên đến 67,6 triệu tấn năm 2020 (2,8 triệu tấn
CTNH); và khoảng 91 triệu tấn năm 2025 (27,8 triệu tấn chất thải công nghiệp). Do
lƣợng phát sinh CTNH ngày càng gia tăng, nếu không có các biện pháp quản lý phù
hợp sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng bắt nguồn từ các hoạt
động không kiểm soát nhƣ vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn về môi
trƣờng.
Mặc dù bắt đầu đƣợc quan tâm từ năm 1999 với sự ra đời của Quy chế quản lý
CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính
phủ, tuy nhiên phải đến năm 2006, công tác quản lý CTNH mới đƣợc thực sự triển
khai có hiệu quả trong thực tế, cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trƣờng (sửa
đổi) năm 2005 và các văn bản dƣới Luật, đặc biệt là Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT
(hƣớng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và
mã số quản lý CTNH), Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT (ban hành Danh mục
CTNH) của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngƣỡng
chất thải nguy hại QCVN 07: 2009/BTNMT và mới đây nhất là Thông tƣ số
12/2011/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 6 năm 2011. Tuy nhiên, việc
thực hiện các quy định pháp luật này tại các địa phƣơng còn nhiều khi gặp khó khăn,
chƣa có sự thống nhất và còn thiếu sót nhất định.
Hơn nữa, thực tế là sau 5 năm thực hiện Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT chƣa
có báo cáo đánh giá tình hình thực tế về công tác cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, cấp
phép và quản lý nhà nƣớc về CTNH của các địa phƣơng để tổng kết, đánh giá những
thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện và đƣa ra giải pháp phù hợp.
Hiện nay, tổng công suất xử lý của các chủ hành nghề quản lý CTNH chỉ đáp
ứng một phần lƣợng CTNH phát sinh. Một số đơn vị còn thiếu hiểu biết hoặc chƣa cập

Luận văn đƣợc trình bày theo các chƣơng, phần nhƣ sau:
- Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chƣơng 2. Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu;
- Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu;
- Kết luận và kiến nghị;
- Tài liệu tham khảo.
7
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về chất thải nguy hại
1.1.1. Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại
a. Chất thải là gì?
Theo định nghĩa của Công ƣớc Basel về Kiểm soát Chất thải Xuyên biên giới và
việc Tiêu hủy chúng (gọi tắt là Công ƣớc Basel): chất thải là “Những chất hoặc vật thể
bị thải bỏ, hoặc chuẩn bị bị thải bỏ hoặc bị các điều khoản của luật pháp quốc gia yêu
cầu phải thải bỏ”.
Cơ quan Thống kê Liên hợp Quốc (United Nations Statistics Division – UNSD,
1997) đƣa ra một định nghĩa đầy đủ và chi tiết hơn: “Chất thải là những vật chất
không phải là sản phẩm chính yếu (tức là không phải sản phẩm sản xuất dành cho thị
trường) mà người phát sinh ra chúng không có bất kỳ một mục đích sử dụng nào khi
sản xuất, chuyển hóa hoặc sử dụng chúng, và người đó muốn thải bỏ/tiêu hủy chúng.
Chất thải có thể phát sinh từ quá trình khai thác nguyên liệu thô, chế biến nguyên liệu
thô thành sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, tiêu thụ sản phẩm cuối cùng,
và các hoạt động khác của con người. Những chất dư thừa được tái chế hoặc tái sử
dụng ngay tại nơi phát sinh thì không tính là chất thải”.
Theo Cộng đồng châu Âu (EU), chất thải đƣợc định nghĩa là vật mà ngƣời nắm
giữ chúng thải bỏ, có ý thải bỏ hoặc đƣợc yêu cầu phải thải bỏ. Khi một chất hoặc một
vật đã trở thành chất thải, nó sẽ vẫn là chất thải cho đến khi đƣợc thu hồi hoàn toàn và
không còn gây bất cứ một mối nguy hại tiềm tàng nào đối với môi trƣờng và sức khỏe
con ngƣời.
Theo Luật Bảo vệ môi trƣờng (BVMT) năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể

chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550°C.
Chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát
lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển.
Chất thải có khả năng tự bốc cháy: là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong
điều kiện vận chuyển bình thƣờng, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có
khả năng bắt lửa.
Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thƣơng
nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trƣờng hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các
loại vật liệu, hàng hoá và phƣơng tiện vận chuyển. Thông thƣờng đó là các chất hoặc
hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH
lớn hơn hoặc bằng 12,5).
Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy
hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt
cháy các chất đó.
Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố đƣợc cho
là gây bệnh cho con ngƣời và động vật.
Có độc tính (Đ): Bao gồm:
Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thƣơng nghiêm trọng hoặc có
hại cho sức khoẻ qua đƣờng ăn uống, hô hấp hoặc qua da.
9
Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hƣởng từ từ
hoặc mãn tính, kể cả gây ung thƣ, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da.
Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức
hoặc từ từ đối với môi trƣờng, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ
sinh vật.
Những tính chất đƣợc liệt kê ở đây cũng tƣơng đồng với những tính chất đƣợc
liệt kê ở Phụ lục III của Công ƣớc Basel.
1.1.3. Phân loại CTNH
CTNH có thể đƣợc phân loại theo 2 cách cơ bản là theo đặc tính và theo nguồn
phát sinh. Tuy nhiên, việc phân loại theo đặc tính gặp nhiều khó khăn bởi một CTNH

01. Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than.
02. Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất vô cơ.
03. Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất hữu cơ.
04. Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các quá trình nhiệt khác.
05. Chất thải từ quá trình luyện kim.
06. Chất thải từ quá trình sản xuất thuỷ tinh và vật liệu xây dựng.
07. Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu
khác.
08. Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng các sản phẩm
che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), keo, chất bịt kín và mực in.
09. Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy.
10. Chất thải từ ngành da, lông và dệt nhuộm.
11. Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm).
12. Chất thải từ các cơ sở quản lý chất thải, xử lý nƣớc thải tập trung, xử lý nƣớc
cấp sinh hoạt và công nghiệp.
13. Chất thải từ ngành y tế và thú y.
14. Chất thải từ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
15. Chất thải từ hoạt động phá dỡ thiết bị, phƣơng tiện giao thông vận tải đã hết
hạn sử dụng.
16. Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác.
17. Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất
lạnh và chất đẩy.
18. Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ.
19. Các loại chất thải khác.
Theo các danh mục này, còn có thể tiếp tục phân CTNH ra thành các nhóm phụ
từ các nhóm nêu trên.
1.2. Quản lý Chất thải nguy hại
1.2.1. Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH
Quản lý chất thải là quá trình bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc
tiêu hủy, và quan trắc các loại chất thải. Mục đích của quản lý chất thải là nhằm làm

vật liệu trong sản xuất, sinh hoạt để từ đó giảm lƣợng chất thải phát sinh. Trong công
nghiệp, các giải pháp cụ thể là thay đổi công nghệ và kỹ thuật sản xuất, ví dụ: tối ƣu
hóa việc sử dụng nguyên vật liệu, tái sử dụng phế liệu, kiểm soát và giám sát quá trình
sản xuất, tận thu chất thải làm nguyên liệu đầu vào cho công đoạn khác, thay đổi thiết
kế sản phẩm, tăng cƣờng tuổi thọ sản phẩm. Đối với các hộ gia đình, các giải pháp chủ
yếu bao gồm tái sử dụng chất thải (nhƣ giấy, vải), giảm sử dụng các loại bao bì, sử
dụng điện nƣớc tiết kiệm.
12
Thu gom, lƣu trữ và vận chuyển: là một quá trình nhằm thu nhặt các loại chất
thải từ các nguồn khác nhau và vận chuyển các chất thải đến các vị trí (các trạm trung
chuyển, lƣu giữ) mà các xe thu gom có thể đến mang chất thải đi đến nơi xử lý.
Tái sử dụng: sử dụng lại chất thải mà không cần phải xử lý hay chế biến lại, có
thể là với cùng chức năng nhƣ trƣớc khi bị thải bỏ, hoặc với chức năng khác so với
trƣớc khi bị thải bỏ.
Tái chế: xử lý, chế biến chất thải thành các sản phẩm mới nhằm giảm tiêu thụ
nguyên liệu thô, giảm tiêu thụ năng lƣợng, nói một cách khác là giảm ô nhiễm môi
trƣờng thông qua việc giảm sử dụng các biện pháp xử lý/tiêu hủy chất thải “truyền
thống”.
Xử lý: các hoạt động, biện pháp (ngoài các hoạt động đã nêu trên) nhằm đảm bảo
chất thải sẽ gây ít tác động nhất có thể đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Bao
gồm rất nhiều biện pháp kỹ thuật cụ thể đối với từng loại hình chất thải (chất thải rắn,
nƣớc thải, khí thải).
Chôn lấp: đây là biện pháp đƣợc xếp cuối cùng về ƣu tiên trong hệ thống quản lý
chất thải, tuy nhiên cũng là biện pháp lâu đời nhất và hiện nay vẫn đang là biện pháp
phổ biến nhất ở rất nhiều nơi trên thế giới.
1.2.2.2. Yêu cầu về an toàn trong quản lý CTNH
Đối với CTNH, chỉ cần một lƣợng nhỏ phát sinh ra ngoài môi trƣờng mà không
đƣợc quản lý thích hợp là đủ để gây ra những hậu quả không thể lƣờng trƣớc đƣợc.
Chính vì vậy, các yêu cầu về an toàn trong quản lý CTNH là đặt biệt nghiêm ngặt, và
đây cũng là điểm khác biệt chính giữa hệ thống quản lý CTNH so với hệ thống quản lý

loại tại nguồn và đƣợc thu gom, xử lý theo đúng những quy định nghiêm ngặt. Cách
tiếp cận 3R có thể đƣợc áp dụng ngay tại nguồn phát sinh hoặc các khác nhau trong
chuỗi quản lý (thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy).
14

Hình 2: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên nguồn phát sinh (Nguồn: UNEP, 2009)
Trọng tâm của mô hình thứ hai là việc phân loại chất thải tại nguồn, để giúp cho
việc quản lý chất thải đạt hiệu quả cao và tiết kiệm. Đây dƣờng nhƣ là mô hình lý
tƣởng nhất để áp dụng cho hệ thống quản lý CTNH. Nhƣng cần nhận thấy rằng vấn đề
phân loại chất thải tại nguồn không chỉ đòi hỏi phải có công nghệ tiên tiến mà còn đặc
biệt yêu cầu phải có sự chuyển biến nhận thức sâu rộng trong toàn xã hội, để cho phân
loại chất thải trở thành một thói quen trong cả sản xuất lẫn sinh hoạt, tiêu dùng. Quá
trình chuyển biến này sẽ đòi hỏi một thời gian dài và cũng chƣa thể khẳng định đƣợc
chính xác khi nào có thể đạt đƣợc hiệu quả cần thiết. Nhƣ vậy, mô hình này cũng chƣa
thể áp dụng ngay với tình hình của Việt Nam. Nếu áp dụng mô hình này cho quản lý
CTNH thì cũng cần lƣu ý rằng một số biện pháp xử lý sẽ không thực hiện đƣợc nhƣ
với chất thải thông thƣờng, ví dụ nhƣ làm biogas/compost.
Mô hình dựa trên quản lý là sự tổng hợp của các quy định, thể chế, cơ chế tài
chính, công nghệ và cơ sở hạ tầng, cùng với vai trò của nhiều bên liên quan khác nhau
trong chu trình quản lý chất thải (xem hình 3).
15

Hình 3: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên quản lý (Nguồn: UNEP, 2009)
Mô hình này bao gồm 3 nhóm đối tƣợng: quy trình quản lý (từ phát sinh đến tiêu
hủy sau cùng), chủ thể của quá trình quản lý (ngƣời phát sinh, cơ quan quản lý, các
nhà cung cấp dịch vụ quản lý và xử lý), công cụ (quy định, tiêu chuẩn, cải tiến công
nghệ).
Mô hình dựa trên quản lý tập trung vào các biện pháp tổng hợp (chủ yếu về mặt
quản lý, pháp luật, cơ chế) để thực hiện tốt từng bƣớc trong chuỗi quy trình quản lý
chất thải. Mô hình này không thực sự đòi hỏi phải có sự cải tiến nào về công nghệ

thống chất thải bao gồm:
Ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải;
Tái sử dụng;
Thu gom;
Vận chuyển;
Tái chế, hay thu hồi nguyên liệu;
Thu hồi năng lƣợng;
Tiêu hủy an toàn.
Ở Việt Nam, các khía cạnh liên quan đến dịch vụ quản lý CTNH (thu gom, vận
chuyển, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thu hồi năng lƣợng) đã đƣợc quy định cụ thể và thực
hiện một cách tƣơng đối nghiêm chỉnh và hiệu quả. Tuy nhiên, khía cạnh liên quan
đến bên phát sinh chất thải, tức là ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải, vẫn chƣa đạt
đƣợc hiệu quả rõ rệt. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này, bên cạnh trình độ công
nghệ còn lạc hậu, thì chủ yếu vẫn là do ý thức của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ
còn chƣa cao, việc áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa phát sinh
chất thải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự giác tự nguyện của họ, chƣa có các quy định
cụ thể cũng nhƣ các biện pháp khuyến khích liên quan đến vấn đề này.
Các khía cạnh bền vững
Các khía cạnh bền vững bao gồm:
17
Khía chính sách và luật pháp: ở nƣớc ta đã có những văn bản quy định cụ thể về
quản lý CTNH, thể hiện đƣợc sự quan tâm đúng mức của nhà nƣớc đối với lĩnh vực
này.
Khía cạnh thể chế và tổ chức: Việt Nam cũng đã có các cơ quan chuyên trách ở
cấp trung ƣơng về quản lý CTNH.
Khía cạnh văn hóa và xã hội: một điểm còn thiếu sót và chƣa đƣợc quan tâm
trong lĩnh vực quản lý CTNH. Nhìn chung ý thức của ngƣời dân cũng nhƣ doanh
nghiệp về việc giảm thiểu chất thải, phân loại chất thải tại nguồn còn chƣa cao (mặc dù
đã có một số chiến dịch tuyên truyền về vấn đề này). Nếu khía cạnh này đƣợc cải
thiện, tăng cƣờng thì sẽ đem lại chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý CTNH.

Tại một số tỉnh, thành phố hiện nay, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý
CTNH đƣợc thực hiện bởi các tổ chức tƣ nhân dƣới hình thức các Công ty thƣơng mại
và Dịch vụ xử lý môi trƣờng. Các Công ty này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành
nghề quản lý CTNH theo quy định tại Thông tƣ số 12/TT-BTNMT và đƣợc Cơ quan
quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng có thẩm quyền cấp Giấy phép hành nghề QLCTNH.
Dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc các Công ty này đã đóng góp phần lớn trong việc xử lý
CTNH phát sinh từ các nguồn khác nhau, thông qua các báo cáo định kỳ theo quy định
các cơ quan quản lý luôn có thể kiểm soát đƣợc lƣợng CTNH phát sinh, thu gom và xử
lý. Bên cạnh đó về mặt thƣơng mại các Công ty này cũng đóng góp không nhỏ vào
tổng thu nhập quốc dân cũng nhƣ giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận ngƣời
lao động. Theo số liệu thống kê, hiện nay có khoảng 100 Doanh nghiệp đƣợc Tổng cục
Môi trƣờng cấp giấy phép hành nghề quản lý CTNH và khối lƣợng CTNH các đơn vị
này thu gom xử lý chiếm tới 80% tổng lƣợng CTNH đƣợc xử lý. Nhìn chung, đây là
mô hình quản lý CTNH hiệu quả nhất hiện nay.
1.3. Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy
hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam
1.3.1. Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn nguy hại
Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 80 doanh nghiệp hành nghề quản lý chất
thải nguy hại. Các doanh nghiệp này đƣợc Bộ TN&MT hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp
giấy phép hoạt động. Hầu hềt các doanh nghiệp thu gom và xử lý chất thải đều tập
trung ở phía Nam.
Số lƣợng các đơn vị hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH đƣợc Bộ TN&MT
cấp phép gia tăng hàng năm. Tính đến tháng 6 năm 2011, Bộ TN&MT đã cấp đƣợc 80
Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề xử lý CTNH cho
các cá nhân, tổ chức đăng ký.
19
39
64
71

60.000
80.000
100.000
120.000
140.000
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
tấn/năm

Công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau
khi có sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trƣờng 2005 và các văn bản dƣới Luật nhƣ
Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và
Môi trƣờng về hƣớng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép
hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT
ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng về việc ban hành Danh
mục chất thải nguy hại đã có những bƣớc phát triển đáng kể (Hai văn bản pháp quy
nêu trên nay đã đƣợc thay thế bằng Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011
của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy định về Quản lý chất thải nguy hại). Hầu hết
các cơ sở xử lý chất thải công nghiệp đều có quy mô nhỏ và sử dụng lò đốt theo mẻ.
Nhà máy xử lý chất thải Đại Đồng (Công ty URENCO Hà Nội) đã đầu tƣ một lò đốt
20
rác với công suất 20 tấn/ngày là một trong những công trình xử lý chất thải công
nghiệp lớn nhất tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đang trong quá trình vận hành
thử nghiệm để cấp phép.
Nhìn chung, các công nghệ hiện có còn chƣa thực sự hiện đại, sử dụng các công
nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thƣờng ở quy mô nhỏ, nhƣng đã đáp ứng đƣợc
phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam.
Các công nghệ điển hình và phổ biến để xử lý CTNH hiện nay đƣợc tóm tắt
trong bảng dƣới đây.
TT
Tên công nghệ

5
Xử lý, tái chế dầu thải
20
20
3-20 tấn/ngày
6
Xử lý bóng đèn thải
10
10
0,2 tấn/ngày
7
Xử lý chất thải điện tử
6
6
0,3 – 5 tấn/ngày
8
Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải
9
9
0,5 – 200 tấn/ngày
9
Tái chế dung môi
13
13
0,25 – 1,2 m
3
/h
10
Xúc rửa thùng phi
15

C. Một số lò có thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cƣờng
hiệu quả đốt các khí độc. Đa số các lò không có biện pháp lấy tro trong quá trình đốt.
Các lò đốt đều trang bị hệ thống xử lý khí thải và trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không
khí hoặc nƣớc); hấp thụ (phun sƣơng hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có hấp phụ
(than hoạt tính).
Ƣu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập
khẩu hoặc chế tạo trong nƣớc), chi phí đầu tƣ hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện
Việt Nam. Lò đốt cũng là công nghệ chủ lực trong các cơ sở xử lý CTNH do có dải
CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế). .
Tuy nhiên, việc đốt theo mẻ dẫn đến công suất không cao do mất thời gian khi
khởi động và dừng lò, hoặc khi tro đã đầy phải lấy ra đối với các lò không lấy tro giữa
quá trình đốt. Quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công hoặc chƣa tự động hoá cao
nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại nhƣ các chất có chứa halogen (ví dụ
PCB, thuốc bảo vệ thực vật có nhóm cơ clo). Bên cạnh đó, lò đốt tĩnh thƣờng không
đốt đƣợc hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy và có độ kết dính
cao nhƣ bùn thải. Nhiều lò đốt, đặc biệt các lò giá rẻ thƣờng hay bị trục trặc hệ thống
béc đốt hoặc hệ thống xử lý khí thải (nhƣ bị thủng ống khói do hơi axit).

Hình 4: Hệ thống xử lý khí thải lò đốt CTNH
b) Đồng xử lý trong lò nung xi măng
Công nghệ này đƣợc áp dụng tại hai cơ sở sản xuất xi măng ở Kiên Giang và
Hải Dƣơng. Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng lò quay, có thể sử dụng
CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải
đƣợc thiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 1300
o
C). Lò nung
clinke có hình trụ quay quanh trục để đảo trộn các vật liệu khi nung. Do quá trình nung
xi măng thƣờng phát sinh nhiều khí độc và bụi nên các nhà máy sản xuất xi măng
thƣờng đầu tƣ hệ thống xử lý khí thải hiện đại. Hệ thống xử lý khí thải nhà máy xi
măng bao gồm các công đoạn nhƣ: lọc bụi thô bằng xyclon, lọc bụi tinh bằng tĩnh điện

năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ so với nhiều
phƣơng pháp tiêu huỷ khác nhƣ đốt. Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá
trình vận hành nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn là chôn lấp, không có
khả năng phát sinh nƣớc rò rỉ nhƣng vẫn có hệ thống thu gom nƣớc rò rỉ.
23
Tuy nhiên phƣơng pháp này khá tốn diện tích. CTNH không đƣợc xử lý triệt để,
mối nguy cơ rò rỉ vẫn còn nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm. Một lý do khiến
loại hình chôn lấp CTNH chƣa đƣợc triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện
ngặt nghèo về khoảng cách với các khu dân cƣ theo TCXDVN 320:2004.

Hình 6: Hầm chôn lấp CTNH
d) Hóa rắn (bê tông hóa)
Công nghệ này đƣợc sử dụng phổ biến ở 19/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do
Tổng cục Môi trƣờng cấp phép với công suất trung bình từ 1 – 5 m
3
/h.
Đặc điểm của công nghệ là sử dụng CTNH kết hợp với xi măng, cát, sỏi, nƣớc
để đóng rắn CTNH dạng trơ, vô cơ nhƣ tro xỉ, tránh phát tán các thành phần nguy hại
ra môi trƣờng. Hiện nay đang phổ biến hai công nghệ là hoá rắn có nén ép cƣỡng bức
(sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông nhƣ sản xuất gạch block) và hoá
rắn thông thƣờng (đổ bê tông tự nhiên). Cấu tạo của hệ thống hoá rắn thƣờng rất đơn
giản, gồm có máy trộn bê tông và máy ép khuôn hoặc các khuôn đúc.
Công nghệ hóa rắn có ƣu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự
lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành, có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu
xây dựng (gạch block, tấm đan…). Tuy nhiên công nghệ hóa rắn chỉ xử lý an toàn đối
với CTNH trơ, có thành phần vô cơ. Khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi
theo từng loại CTNH nên cần phải nghiên cứu kỹ quá trình cấp phối bê tông. Cần giám
sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vƣợt ngƣỡng CTNH theo quy định tại QCVN
07: 2009/BTNMT.

Hình 8: Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn (trái) và chưng đơn giản (phải)
25
e) Xử lý bóng đèn huỳnh quang thải
Hiện nay có 10/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trƣờng cấp
phép có hệ thống xử lý bóng đèn thải.
Trong bóng đèn có chứa nhiều loại chất thải khác nhau nhƣ bột huỳnh quang,
hơi thủy ngân, thủy tinh, kim loại. Cấu tạo của hệ thống xử lý bóng đèn thải gồm có bộ
phận nghiền bóng đèn trong môi trƣờng kín, kèm theo thiết bị hấp thụ hơi thuỷ ngân
(bằng than hoạt tính hoặc lƣu huỳnh), có thể kèm theo biện pháp tách thu hồi thuỷ tinh
và bột huỳnh quang.
Công nghệ này có ƣu điểm là chi phí đầu tƣ hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân
tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi
măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch. Tuy nhiên, sau khi xử lý bóng đèn thải, quá
trình hấp thụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo ra chất thải mới cần xử lý là
muối thuỷ ngân.
Các thiết bị này đƣợc đầu tƣ chủ yếu để đáp ứng yêu cầu có đủ khả năng để xử
lý nhiều loại mã CTNH của các chủ nguồn thải chứ chƣa có hiệu quả kinh tế do thực tế
loại CTNH này có số lƣợng không nhiều. Do vậy, giải pháp hoá rắn toàn bộ sản phẩm
của quá trình nghiền là một giải pháp hiệu quả. Hình 9: Thiết bị xử lý bóng đèn thải
g) Xử lý chất thải điện tử
Hiện nay chỉ có 6/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trƣờng
cấp phép đầu tƣ công nghệ chuyên xử lý chất thải điện tử với công suất trung bình từ
0,5 – 5 tấn/ngày.
Các hệ thống này chủ yếu thực hiện biện pháp phá dỡ thủ công (nhƣ bàn phá dỡ
đơn giản) hoặc cơ giới (máy nghiền) để phân tách từng thành phần cho các công đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status