ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
HOÀNG NGUYỄN GIÁP
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG
CỘNG ĐỒNG Ở NGÂN SƠN - BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
25
2.1
Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………
2.2
Địa điểm nghiên cứu………………………………………
25
2.3
Thời gian và kế hoạch nghiên cứu………………………….………
29
2.4
Phƣơng pháp nghiên cứu………………………………….………
30
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……………………………………….
33
3.1
Tình hình kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất tại các thôn và
tiểu khu ở Nà Phặc……………………………….…………………
33
3.2
Thực trạng quản lý rừng ở Nà Phặc………………………………
65
3.3
Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững rừng cộng
đồng………………………………………………………………
71
Kết luận……………………………………………………………………
76
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………
78
v
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Các hình thức quản lý rừng cộng đồng phổ biến………………… …
9
Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại nhóm cộng đồng…………………………….……
12
Bảng 1.3: Thủ tục giao rừng cho cộng đồng dân cƣ thôn………………… …
17
Bảng 3.1: Diện tích rừng và đất rừng quy hoạch cho lâm nghiệp năm 2010 của Nà
Phặc………………………………………………………………………….
Hình 3.11: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Nà Duồng
40
Hình 3.12: Thành phần dân tộc–Cơ cấu lao động–Phân loại kinh tế hộ Nà Duồng
40
Hình 3.13: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Khuổi Tinh
41
Hình 3.14: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Khuổi Tinh
42
Hình 3.15: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Bản Mạch
42
Hình 3.16: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Bản Mạch
43
Hình 3.17: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Nà Nọi
44
Hình 3.18: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Nà Nọi
44
Hình 3.19: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Công Quản
45
Hình 3.20: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Công Quản
46
Hình 3.21: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Nà Khoang
46
Hình 3.22: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Nà Khoang
47
Hình 3.23: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Bản Hùa
48
Hình 3.24: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Bản Hùa
48
Hình 3.25: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Nà Này
49
Hình 3.40: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Lủng Lịa
58
Hình 3.41: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Cốc Xả
59
Hình 3.42: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Cốc Xả
59
Hình 3.43: Hiện trạng sử dụng đất tại Tiểu Khu III
60
Hình 3.44: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Tiểu Khu III
61
Hình 3.45: Hiện trạng sử dụng đất tại Tiểu Khu II
61
Hình 3.46: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Tiểu Khu II
62
Hình 3.47: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Cốc Tào
62
Hình 3.48: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Cốc Tào
63
Hình 3.49: Hiện trạng sử dụng đất tại thôn Bản Cầy
64
Hình 3.50: Thành phần dân tộc – Cơ cấu lao động – Phân loại kinh tế hộ Bản Cầy
64
1
MỞ ĐẦU
Rừng là bộ phận quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát
triển kinh tế, xã hội, sinh thái và môi trường. Tài nguyên rừng trên Trái Đất ngày
càng bị thu hẹp về diện tích và chất lượng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với
tốc độ lớn nhất. Với vai trò không thể thay thế của rừng nên con người phải bảo vệ
và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trên quy mô toàn cầu cũng như ở các cấp độ địa
hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng, gắn bó chặt chẽ với
nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội.
Ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên
rừng có thể khái quát thành hai quan điểm chính:
- Thứ nhất, “cộng đồng” là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã
hội nhỏ có những quan điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền
thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong đời sống và sản xuất gắn bó với
nhau và thường có ranh giới không gian một thôn bản.
- Thứ hai, “cộng đồng” không chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm
cả cộng đồng sắc tộc; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn.
Các loại hình cộng đồng chính: cộng đồng thôn bản; cộng đồng sắc tộc; cộng đồng
tôn giáo và cộng đồng theo các dòng họ.
Dân tộc thiểu số
Là một thuật ngữ khoa học chỉ những dân tộc có dân số ít trong một quốc gia nhất
định. Tại Việt Nam có 54 cộng đồng dân tộc thì có 53 cộng đồng là những cộng
đồng dân tộc thiểu số.
Cộng đồng dân tộc thiểu số được xác định trong phạm vi nghiên cứu nhóm người có
cùng dân tộc, chung sống trên địa bàn thôn bản.
Lâm nghiệp cộng đồng
Theo Arnold 1992, đã đưa ra một định nghĩa tổng quát: LNCĐ là một thuật ngữ
bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người nông dân thôn bản với cây và rừng
cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng.
3
Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một
định nghĩa chính thức nào được công nhận. Tuy nhiên, mọi người đều cho rằng có
hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của Arnold là Quản lý
rừng cộng đồng và quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ)
QLRCĐ là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia
sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu
- Cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của
pháp luật: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với
hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng
vào mục đích cộng đồng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; Được sản
xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng thành quả
lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; Được hướng dẫn kỹ
thuật; hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng
và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang
lại; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển
rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng.
- Cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của
pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức bảo vệ và
phát triển rừng; Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến
tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; Thực hiện nghĩa vụ
tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; Giao lại rừng khi
nhà nước có quyết định thu hồi hoặc khi hết thời hạn giao rừng; Không được
phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư thôn; Không đươc
chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh
doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao.
5
1.2. Hiện trạng về vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Các công trình đã nghiên cứu
Công tác nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng đã được nhiều tác giả, nhà nghiên
cứu tiến hành trên nhiều phương diện và những quy mô khác nhau. Trong đó điểm
hình là những công trình nghiên cứu như: “Nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng của
đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc”, “Quản lý rừng cộng đồng ở Việt
Nam: Thực trạng, vấn đề và giải pháp” của TS. Nguyễn Bá Ngãi; nghiên cứu về
“Xây dựng quy chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng” của TS. Bảo Huy hay
nghiên cứu “Quản lý rừng cộng đồng ở Hoà Bình – Các giải pháp” của Trần Duy
họ. Toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của cộng đồng được thực hiện
thông qua các luật tục hay hương ước thôn và hiệu lực của các luật tục được
thực hiện thông qua sự hợp lực gắn bó với nhau giữa xã hội và tâm linh.
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức
nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ …)
được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng theo hợp đồng
khoán rừng lâu năm, 50 năm với 32,3% xem hình 1.1. Về thực chất với loại
hình này cộng đồng chỉ là người làm thuê cho chủ rừng, ngoài công việc
thực hiện theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng nhận khoán, cộng
đồng không có quyền lợi hay nghĩa vụ gì khác.
Hình1.1: Sơ đồ tỷ lệ cộng đồng quản lý rừng và đất rừng
7
Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam đang dần hình thành theo 2 xu hường phù hợp
với điều kiện cụ thể ở từng vùng, đó là quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu
sinh kế và quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hoá.
- Quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện
sản xuất và thị trường kém phát triển. Các sản phẩm lấy từ rừng chủ yếu
được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng. Rừng được quản lý theo luật
tục của cộng đồng.
- Quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất và thị
trường phát triển. Các hình thức quản lý đa dạng và phong phú ở trình độ cao
và cộng đồng dân cư thôn sẽ tiến tới thực sự là chủ đầy đủ trong quản lý và
sử dụng rừng.
Về chính sách và pháp luật trong quản lý rừng cộng đồng được khái quát thành các
giai đoạn như sau:
- Trước năm 1954, thừa nhận về sự tồn tại của rừng cộng đồng: Lâm nghiệp
thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống. Quản lý rừng
cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống.
xã, Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của nhà
nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của
Bộ NN&PTNN về hướng dẫn hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển
rừng trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg về quy chế quản lý 3
loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ khi
tham gia quản lý rừng.
- Từ năm 2003 đến nay, hình thành khung pháp lý cơ bản cho quản lý rừng
cộng đồng: Luật đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn đươc Nhà
nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là
người sử dụng đất; Luật BV&PTR mới năm 2004 có mục riêng quy định về
giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân
9
cư thôn được giao rừng; Luật dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu
chung của cộng đồng.
Thực tiễn tại các cộng đồng, đồng bào dân tộc thiểu số đều có tập quán quản lý đất
đai và tài nguyên theo cộng đồng. Những tập quán ấy là một phần của luật tục cổ
truyền của cộng đồng dân tộc giúp họ quản lý cộng đồng trong quá trình bảo tồn và
pháp triển. Tập quán QLRCĐ cuả một số cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số điển
hình ở nước ta:
- Người Thái vùng Tây Bắc, rừng được phân loại thành từng khu vực nhằm
phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người như: Rừng phòng
hộ nằm trên khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm thai thác. Rừng khai
thác để làm mới hoặc sửa chữa nhà và các nhu cầu khác của cộng đồng, tuyệt
đối không được phát làm rẫy. Rừng phục vụ đời sống tâm linh, cấm chặt phá.
- Người Tà Ôi, Vân Kiều vùng miền Trung: Luật tục quy định không được
phát rẫy tại các khu Rừng đầu nguồn, Rừng thiêng, Rừng độc.
- Người Raglai vùng Tây Nguyên: Có quan niệm là rừng thuộc quyền sở hữu
của cộng đồng (buôn). Do đó không một ai được vi phạm những quy định do
cộng đồng đặt ra, không một ai được lấy làm tài sản riêng.
Cụ thể tại Miền núi phía Bắc ở Điện Biên, Hoà Bình và Thanh Hoá cho thấy 4 hình
31ha.
Phủ xanh đất trống, lấy gỗ,
tre nứa bán ra thị trường.
Thôn Pháng – Phú Thanh – Quan Hoá – Thanh Hoá (Cộng đồng người Thái)
3
Cộng đồng
quản lý
Giao và hợp
đồng khoán
Rừng tự nhiên
200ha (giao
Bảo vệ nguồn nước, lấy gỗ
làm nhà, các lâm sản khác
10
bảo vệ với khu
bảo tồn Pù Hu.
102ha, khoán
98ha).
tiêu dùng hàng ngày, thu
nhập từ khoán bảo vệ.
4
Nhóm hộ tự
liên kết quản
lý
Giao cho hộ
quản lý và sử
dụng, các hộ tự
liên kết.
120 ha do 10
nhóm hộ tự
liên quan đến chính sách và pháp lý. Bên cạnh đó những vấn đề về kỹ thuật trong
QLRCĐ mới chỉ là những thí điểm. Bao gồm những vấn đề sau:
- Địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn chưa thưc sự rõ ràng: Mặc dù Luật
đất đai 2003, Luật BV&PTR 2004 và một số văn bản khác của Nhà Nước
quy định cộng đồng dân cư thôn thuộc đối tượng giao đất, giao rừng, có
quyền quản lý và sử dụng rừng nhưng địa vị pháp lý của cộng đồng vẫn chưa
đầy đủ và rõ ràng. Bộ Luật dân sự 2005 quy định một tổ chức được công
nhận là một pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: Được cơ quan có thẩm
quyền thành lập hoặc công nhận, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản, tham
gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Cộng đồng dân cư thôn chưa hội
đủ các điều kiện trên nên không phải là một pháp nhân. Nếu giao rừng cho
cộng đồng dân cư thôn, khi có xẩy ra tranh chấp dân sự với chủ thể khác
hoặc có hành vi phạm pháp luật thì cơ quan pháp luật không thể giải quyết
được.
- Những điểm thiếu trong cơ chế chính sách và thể hiện cụ thể ở những điểm
sau đây: Quyết định 178 và Thông tư 80 không đề cấp tới hưởng lợi của
cộng đồng và nghĩa vụ của họ khi tham gia quản lý rừng. Các yêu cầu về kỹ
thuật như xác định tiêu chuẩn rừng khai thác, tỷ lệ hưởng lợi là rất phức tạp
và cộng đồng không có khả năng xác định. Những thủ tục hành chính về khai
thác gỗ thương mại đối với rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý chưa được
quy định; Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ
NN&PTNT V/v ban hành hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn
chỉ giới hạn cho Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng tại 40 xã của
10 tỉnh. Quyết định này cho phép cộng đồng khai thác gỗ gia dụng và khai
thác thương mại theo 2 phương pháp trữ lượng hoặc cây theo cấp kính,
Quyết định 2324/QĐ-BNN-LN ngày 21/8/2007 V/v hướng dẫn các chỉ tiêu
khai thác và thủ tục khai thác rừng cộng đồng lại giới hạn cộng đồng khai
thác gỗ cho gia dụng theo khối lượng. Cho thấy chính sách hiện nay chưa
12
quy định riêng về cộng đồng hưởng lợi từ rừng mà đang vận dụng những quy
Tiêu chí
Nhóm
cộng đồng I
Nhóm
cộng đồng II
Thành phần dân tộc
Ít dân tộc thiểu số
Nhiều dân tộc
thiểu số
Trình độ quản lý rừng của cộng đồng (trình
độ về kỹ thuật, tổ chức và quản lý, trách
nhiệm của hộ gia đình và lãnh đạo thôn).
Cao
Thấp
Sự phụ thuộc vào rừng của cộng đồng
Ít
Nhiều
Phát triển kinh tế hộ gia đình
Cao
Thấp
Vị trí thuận lợi của cộng đồng cho các cơ hội
pháp triển
Thuận lợi
Ít thuận lợi
Vùng thị trường và tiêu thụ lâm sản
Gần
Xa
Kết quả xếp loại cộng đồng
quan thẩm quyền phê duyệt; Cơ chế hưởng lợi theo phương án điều chế rừng
và kế hoạch khai thác hàng năm.
- Quyền và nghĩa vụ đối với rừng non, phục hồi, rừng nghèo kiệt: Cộng đồng
được nhà nước đầu tư để thực hiện các biện pháp chăm sóc, quản lý bảo vệ,
phòng chống các tác động phá hoại rừng, phòng chống cháy rừng. Mức đầu
tư và hưởng lợi theo suất đầu tư hiện hành của nhà nước. Thời gian đầu tư và
hưởng lợi được tính từ thời điểm giao rừng cho đến thời điểm rừng sang
trạng thái có trữ lượng. Sau đó sẽ áp dụng cơ chế hưởng lợi như đối với rừng
tự nhiên có trữ lượng là rừng sản xuất giao cho cộng đồng.
- Hỗ trợ các địa phương xác lập hai loại hình QLRCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế
và QLRCĐ cho sản xuất hàng hoá: QLRCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán
truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản
lý còn thấp. Các sản phẩm từ rừng chủ yếu sử dụng cho nhu cầu trong cộng
đồng; QLRCĐ cho sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất và thị trường phát
15
triển thì các hình thức quản lý sẽ đa dạng, phong phú và cộng đồng sẽ thực
sự trở thành chủ thể đầy đủ trong quản lý và sử dụng rừng.
- Hỗ trợ các địa phương về phương pháp thống kê tài nguyên rừng: Thống kê
tài nguyên rừng là một cơ sở cho giao đất giao rừng, hợp đồng sử dụng rừng
cho cộng đồng. Dựa vào kết quả thống kê tài nguyên rừng để xác lập tỷ lệ
hưởng lợi từ rừng và để đánh giá kết quả quản lý rừng. Mặc dù nhiều nơi đã
thử nghiệm một số phương pháp cộng đồng đánh giá tài nguyên rừng nhưng
nhìn chung chưa phù hợp, khả năng áp dụng thấp cho nên nhà nước cần
nghiên cứu, tổng kết để đưa ra phương pháp phù hợp để địa phương dễ dàng
áp dụng.
- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và tổ chức cộng đồng: Bài học kinh nghiệm
ở nhiều nơi khác nhau cho thấy hai điều kiện quan trọng để QLRCĐ thành
công là lãnh đạo cộng đồng mạnh, rừng bắt buộc phải bảo vệ để chống xâm
hại, ý chí, nguyện vọng của dân làng và nhận rừng phải là cơ hội giải quyết
dân cư thôn.
- Quyết định số 550/QĐ-QLR ngày 08/5/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc ban hành hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển
rừng cộng đồng dân cư thôn.
- Công văn số 754/CV-LNCĐ ngày 31/5/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng cộng
đồng.
- Công văn số 815/CV-LNCĐ ngày 12/6/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc xây dựng mô hình cấu trúc rừng mong muốn cho rừng gỗ tự
nhiên của cộng đồng.
- Công văn số 1326/CV-LNCĐ ngày 07/9/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng.
- Công văn số 1327/CV-LNCĐ ngày 07/9/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về hướng dẫn điều tra rừng cộng đồng.
17
- Công văn số 1703CV-DALNCĐ ngày 14/11/2007 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc hướng dẫn giám sát và đánh giá việc thực hiện quản lý rừng
cộng đồng dân cư thôn.
- Công văn số 141/CV-DALN ngày 05/02/2008 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc sửa đổi, bổ sung hướng dẫn điều tra rừng cộng đồng.
- Công văn số 588/CV-LNCĐ ngày 12/5/2008 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc hướng dẫn cắm mốc ranh giới và làm bảng sơ đồ khu giao
rừng cho cộng đồng thôn.
- Công văn số 787/CV-LNCĐ ngày 23/6/2008 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc thí điểm áp dụng phân bố cây theo cỡ kính mong muốn để lập
và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng.
- Công văn số 1155/ĐC-LNCĐ ngày 22/8/2008 của Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp về việc đính chính công văn số 787/CV-LNCĐ.
Các công văn này được đăng tải trên trang Web chính thức của Bộ NN&PTNT. Bên
cạnh đó có nhiều văn bản được các địa phương cấp tỉnh, huyện ban hành về công
Hạt
kiểm lâm
Phối hợp với Phòng NN&PTNT trong việc thẩm
định hồ sơ giao đất giao rừng cho cộng đồng
Tỉnh
UBND
- Ban hành văn bản về việc giao đất giao rừng cho
cộng đồng dân cư thôn.
Sở
NN&PTNT
- Tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành văn bản
hướng dẫn giao đất giao rừng.
Sở
TN&MT
- Phối hợp với Sở NN&PTNT trong việc tham mưu
giúp UBND tỉnh về giao đất giao rừng.
Chi cục
kiểm lâm
- Phối hợp với Sở NN&PTNT trong việc tham mưu
giúp UBND tỉnh về giao đất giao rừng.
Tổ chức khác (LTQD,
Ban quản lý rừng, Trung
tâm khuyến lâm, …)
- Hỗ trợ cộng đồng trong việc được nhận rừng.
Tại các chương trình, dự án thí điểm đã triển khai có được chủ chương của Bộ
NN&PTNT và các hướng dẫn của Cục Lâm nghiệp cùng với sự hỗ trợ từ các tổ
chức khác là các dự án đã rất thuận lợi trong việc giao đất giao rừng cho các cộng
đồng dân cư thôn. Đồng thời các cộng đồng cũng hưởng ứng và tham gia tích cực.
Về lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
Sau giao đất giao rừng, việc lập kế hoạch quản lý rừng 5 năm và hàng năm là bước
- Cấu trúc N/D đồng dạng chuẩn: Nếu căn cứ vào rừng “chuẩn” có năng suất
cao thì các trạng thái rừng hiện tại không thể được tác động. Trong khi đó
đặc điểm của các trạng thái rừng hiện nay thường có cấu trúc bị xáo trộn, cần
có sự điều chỉnh để ổn định và mô hình “rừng ổn định” đối với QLRCĐ có
thể xác định là mô hình “đồng dạng chuẩn” để tiếp cận được với tình hình
thực tế làm cơ sở cho việc xác định lượng chặt nhằm cải thiện cấu trúc rừng.
20
- Xác định lượng tăng trưởng - lợi ích của cộng đồng và lập kế hoạch khai thác
gỗ: Lợi ích của cộng đồng chính là tăng trưởng số cây theo cỡ kính trong 5
năm. Dựa vào đây cộng đồng lập kế hoạch khai thác sử dụng rừng bền vững
theo định kỳ 5 năm; việc xác định lợi ích như vậy đảm bảo tính công bằng,
đơn giản, ít chi phí, chỉ thông qua so sánh số cây của lô rừng với mô hình.
- Khai thác sử dụng và nuôi dưỡng rừng ở các trạng thái rừng khác nhau: Theo
quy định hiện hành, các lô rừng chỉ được phép khai thác khi đạt tiêu chuẩn
về trữ lượng và điều này gặp phải hạn chế vì thời gian chờ đợi quá lâu, người
dân khó nhận biết tiêu chuẩn rừng khai thác. Trong khi đó nếu so sánh số cây
theo cỡ kính của các trạng thái rừng hiện tại với mô hình rừng ổn định thì các
trạng thái rừng non, nghèo vẫn có thể chặt một số cây ở các cấp kính khác
nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của cộng đồng, đồng thời lại có thể điều
chỉnh cấu trúc rừng từng bước ổn định, có năng suất hiệu quả hơn.
Về xây dựng quy ước bảo vệ rừng
Công việc xây dựng quy ước đã được ngành kiểm lâm thực hiện ở nhiều nơi, nhấn
mạnh vai trò của người dân, cộng đồng và vận dụng luật tục địa phương trong xây
dựng quy ước. Cách làm này đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng và từng bước
làm cho quy ước có tính khả thi trong đời sống cộng đồng. Trong các chương trình,
dự án đã triển khai đặc biệt chú ý đến sự tham gia của cộng đồng trong việc xây
dựng quy ước này nhằm thể hiện được thực tế nhất nguyện vọng cũng như tri thức
bản địa trong công tác quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng.
Về xây dựng cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng
Hưởng lợi từ rừng trong quản lý rừng cộng đồng là một vấn đề quan trọng, thúc