Truyện ngắn Làng cho thấy những chuyễn biển trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời chống Pháp. - Pdf 26

Bài viết số 6 Ngữ văn lớp 9
Đề 2: Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những
chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến
chống thực dân Pháp?
Hướng dẫn:
I. Tìm hiểu đề.
- Yêu cầu cách thức nghị luận: Suy nghĩ
- Yêu cầu về vấn đề nghị luận: Những chuyển biến mới trong tình cảm của người
nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp mà tiêu biểu là nhân vật ông
Hai.
II. Dàn ý:
A. Mở bài (SGK)
- Kim Lân là nhà văn am hiểu cuộc sống nông thôn và người dân Miền Bắc. Ông
có sở trường viết truyện ngắn và truyện của ông thường viết về đề tài nông dân.
Truyện ngắn “Làng” được ông sáng tác trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp
đang bùng nổ trên quy mô toàn quốc. Đây là một tác phẩm xuất sắc thể hiện thành
công hình ảnh người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến mà tình yêu
làng quê đã hoà nhập tròng lòng yêu nước và tinh thần của người dân kháng chiến.
Nhân vật ông Hai trong truyện có những nét tình cảm cao đẹp và đáng quý đó.
B .Thân bài:
Tình yêu làng nói chung:
- Ở mỗi người nông dân, quả thực tình yêu làng quê là bản chất có tính truyền
thống. Yêu làng, gắn bó với làng, tự hào về làng của mình vốn là tâm lý rất quen
thuộc có tính gốc rễ. Vậy người nông dân thường tự hào, hãnh diện về làng:
Làng ta phong cảnh hữu tình
Dân cư giang khúc như hình con long
Luận điểm bao trùm bài nghị luận: Ở nhân vật ông Hai, tình yêu quê hương, yêu
làng Dầu đã quyện chặt với lòng yêu nước. Đây là vẻ đẹp đáng quý của nhân vật,
cũng là điều tâm huyết nhất mà nhà văn muốn nói với người đọc.
Luận điểm 1: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi đi tản cư.
- Cũng như bao con người Việt Nam khác ông Hai cũng có một quê hương để yêu

hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa
xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý,
người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ây”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt
gian, cam –nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”
- Nhưng chính lúc này, tình cảm đẹp trong con người ông Hai lại càng được bộc lộ
rõ hơn bao giờ hết. Những đau đớn, dằn vặt, sự hổ thẹn đến tột cùng đã đẩy ông
Hai vào một tình huống phải lựa chọn. Quê hương và Tổ Quốc, bên nào nặng hơn?
Quê hương đáng yêu, đang tự hào Nhưng giờ đây dường như mới chỉ nghĩ tới
đó, lòng ông Hai đã nghẹn đắng lại. Tình yêu quê hương và tình yêu tổ quốc xung
đột dữ dội trong lòng ông. Một ý nghĩ tiêu cực thoáng qua trong đầu: Hay là quay
về làng. Nhưng rồi ông cảm thấy “rợn cả người”. Ông đã từng nhớ làng da diết,
từng ao ước được trở về làng. Nhưng “vừa chớm nghĩ, lập tức ông lão phản đối
ngay” bởi vì “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cuối cùng ông đã quyết
định: “không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải
thù”. Như vậy,tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu, cũng không thể
mạnh hơn tình yêu đất nước.
- Chuẩn mực cho tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đối với ông Hai lúc bấy
giờ là cuộc kháng chiến. Tuy đau xót tưởng chừng bế tắc nhưng trong cõi thẳm sâu
của tấm lòng, người nông dân ấy vẫn hướng về kháng chiến, vẫn tin ở những điều
tốt đẹp, cố giữ cho tâm hồn không vẩn đục, để đón đợi một điều gì đỡ đau đớn,
tuyệt vọng hơn.
+ Khi tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ, nghe con nói: “Ủng hộ cụ Hồ Chí
Minh”, nước mắt ông Hai cứ giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má, giọng ông như
nghẹn lại: “ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?”. Phải chăng, trong tâm hồn người
nông dân chất phác ấy vẫn không phút nào nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương, yêu
quê hương và nỗi đau đớn khi nghe tin quê hương rời xa công việc chiến đấu
chung của đất nước bấy giờ? Tâm sự với đứa con, ông Hai muốn bảo con nhớ câu
“nhà ta ở làng chợ Dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “ủng hộ
cụ Hồ Chí Minh”. Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng thật sâu
nặng, bền vững và thiêng liêng: “Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ

Luận điểm 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật ông Hai
- Nhà văn Kim Lân đã khá thành công khi xây dựng nhân vật ông Hai, một lão
nông cần cù, chất phác, yêu mến, gắn bó với làng quê như máu thịt.
+ Nhà văn đã chọn được một tình huống khá độc đáo là sự thử thách bên trong bộc
lộ chiều sâu tâm trạng.
+ Tâm lý nhân vật được nhà văn miêu tả cụ thể, gợi cảm qua các diễn biến nội tâm,
qua các ý nghĩ, cảm giác, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt là nhà văn đã diễn tả đúng
và gây được ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật.
VD1 (tâm trạng): Khi nghe tin làng theo giặc thì bị dằn vặt, đau khổ: « Đã ba bốn
hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng
không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội ấy mà
nghe ngóng. …… thôi lại chuyện ấy rồi ». Khi tin đồn được cải chính thì « cái mặt
buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên ».
VD2: Miêu tả đúng các « phản ứng » bằng hành động của một người nông dân
hiền lành, chất phác và chưa đọc thông, viết thạo : Khi muốn biết tin tức thì : « ông
cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm ». Khi nghe tin
làng theo giặc thì « ông Hai cứ cúi gằm mặt xuống mà đi » rồi « nắm chặt hai bàn
tay mà rít lên : « chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái
giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ». Khi tin đồn được cải chính thì «
ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin đồn ấy với mọi người.
VD3: Ngoài ra còn phải kể đến các hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật ông
Hai trong mối quan hệ với các nhân vật khác như : Bà Hai, các con, mụ chủ nhà….
+ Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại….)
C. Kết bài (sgk)
- Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật ông Hai.
- Thành công của nhà văn khi xây dựng nhân vật ông Hai.
VD:
Qua truyện ngắn “Làng”, tác giả đã khắc hoạ thành công hình tượng một người
nông dân yêu làng, yêu nước hồn nhiên chất phác nhưng xúc động. Hình tượng
nhân vật ông Hai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người

những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông.
Không chỉ nhớ mà ông còn luôn tự hào, cho rằng làng chợ Dầu của ông đẹp nhất
nhfi thiên hạ. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự
nhiên , hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ nững kỉ niệm trong cuộc sống hằng
ngày,từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày … Tình cảm đó thuầnphác và
trong sáng biết bao.
Khi nghe tin làng chợ dầu theo Tây ông hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân” .
Trước hết là sự xót xa của ông về làng mình , sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn
của mình . Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước sự việc đó . Tình yêu làng vẫn thắm
thiết trong ông, làng chợ Dầu vẫn là nới ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm
hãnh diện , tự hào. Vaỵa mà bây giờ… ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý
nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng chợ
Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm . Từ lau ông yêu làng ông, mong
được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn , thiêng liêng
hơn: không vì làng mà bro nước, bỏ kháng chiến. Giưũa sự giằng co trong tâm
hồn , ông hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy ,
nhưng làng theo Tây thì phải thù Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ
trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy , có bao
giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai.” Khi ông tâm sự với con, ông Hai
muốn bảo connhớ câu”nàh ta ở làng chợ dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự
nhắc mình “Ủng hộ Hồ CHí MInh”. Tình quê và lòng yêu nước của những người
nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông hai đã trải qua những buồn
vui, đau khổ, những tự hào, chua chát, những nguyện vọng và hi vọng… hài hoà ,
gắn bó giưũa quê hương và tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiên gian khổ ấy thì cách mạng đã đổi đời cho những người
nhân dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng. Gặt sangmột
bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống
với Tây. Tình cảm gắn bó với cách mạng , với Bác Hồ của những người nông dân
như ông nó chất phác, mộc mạc, sâu sắc, nó xuất phát từ đáy lòng, máu thịt.
Thấy được tình yêu làng, yêu nước của ông hai, ta hiểu và cũng mừng cho sự hớn

trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công
đáng quý ấy!
Bài tham khảo 2:
Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921, quê ở Hà Bắc. Là nhà văn
chuyên viết truyện ngắn, ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8.
Là nhà văn am hiểu sâu sắc, gắn bó với nông dân và nông thôn, Kim Lân hầu như
chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân.
Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được
viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác
phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu, lòng yêu nước này xuất phát
từ tình yêu quê hương, yêu làng sâu sắc của ông. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở
thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp.
Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà, tha thiết , yêu đến nỗi đi đâu
ông cũng khoe về cái làng của ông. Kể về làng chợ Dầu, ông nói một cách say sưa
mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà
ngói san sát, sầm uất, đường trong làng lát toàn bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu
làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và
thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh
phần của tổng đốc làng ông. Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo,
có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công, nó đã giúp ông hiểu dc sự sai
lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi
nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập.
Ông còn khoe cả những hố , những ụ, những hào, lắm công trình không để đâu
hết.
Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải xa làng. Xa
làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Vì vậy, nên lúc tản cư, ông khổ
tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật, cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó
với buồn vui của làng. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành
một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Có thể
tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản, nhỏ : cây đa, giếng nướ, sân

vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Mọi đau khổ, buồn tủi đã
được rũ sạch.
Quả thật, Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai, một
trong những người dân bấy giờ, đơn giản, chất phác, tiêu biểu cho tầng lớp nông
dân VN sau cách mạng tháng 8. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng.
Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện, nhất là nghệ thật sử
dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai đúng là lời
nói của những người nông dân thời bấy giờ, kể cả những từ dung sai: “bác Thứ
đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. Bên cạnh đó Kim Lân còn
thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ
đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng.
Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ, tủi nhục, và khi biết làng mình
không theo giặc, ông sung sướng, thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy
một cách vui sướng, hả hê. Xây dựng được những chi tiết ấy, miêu tả sự phát triển
tâm lý nhân vật như vậy, Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình.
Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước, yêu
làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. Kim Lân đã thể hiện
được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được
một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân, mọi người một lòng theo Bác, theo
Đảng khánh chiến đến cùng, có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng
lợi vẻ vang.
Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển
biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống
thực dân Pháp.
Bài tham khảo 3:
Truyện ngắn Làng được nhà văn Kim Lân sáng tác trong những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp, in trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Bối cảnh của truyện
là những năm đầu kháng chiến. Theo lệnh của ủy ban xã, ông Hai cùng dân làng
phải đi tản cư để tránh những trận càn lớn của giặc. Xa làng, ông nhớ cảnh, nhớ
người, muốn về thăm nhà. Một hôm ra phố huyện, nghe đám người mới ở dưới

thông tin rộng rãi sáng sủa nhất vùng… Ông Hai rất kiêu hãnh về phong trào
kháng chiến sôi nổi của làng Chợ Dầu. Ông đã tích cực cùng mọi người đào đường
đắp lũy, rào làng kháng chiến, góp phần vào những thành tích đáng tự hào của quê
hương.
Tác giả đặt nhân vật vào một tình huống gay cấn để từ đó miêu tả những chuyển
biến mới trong tình cảm của ông Hai. Tình huống ấy là cái tin làng Chợ Dầu theo
giặc, mà chính ông nghe được từ miệng những người mới tản cư dưới xuôi lên.
Khi nghe cái tin đột ngột ấy, ông Hai đau đớn, sững sờ: Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn
lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được… Lúc đã
trấn tĩnh được phần nào, ông vẫn ngờ ngợ, nhưng rồi những người tản cư đã kể
rành rọt, lại khẳng định vừa ở dưới ấy lên, khiến ông không thể không tin
Ông cảm thấy đau đớn vì làng Chợ Dầu yêu quý của ông đã rời bỏ kháng chiến.
Tủi nhục và xấu hổ, lúc nào ông Hai cũng nơm nớp lo sợ người ta để ý, bàn tán về
dân làng Chợ Dầu theo giặc. Có lúc uất quá, ông nắm chặt tay, nghiến răng nguyền
rủa: Chúng bay ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt
gian bán nước đề nhục nhã thế này.
Tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên
cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông Hai trước cái tin làng mình theo giặc.
Ồng lão yêu làng tha thiết nhưng lại vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo
giặc. Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm
dữ dội. Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng
làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Đây là một nét mới trong tình cảm của người
nông dân trong thời kì đánh Pháp. Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm
lên tình cảm đối với làng quê. Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không
thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông càng xót xa, cay đắng.
Ông Hai càng bị đẩy vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà nơi tản cư
muốn đuổi gia đình ông đi. Đi đâu bây giờ? Không ai muốn chứa chấp dân của cái
làng Việt gian, cũng không thể quay về vì về làng tức là chịu quay về làm nô lệ
cho Tây. Mâu thuẫn trong tình thế và trong nội tâm nhân vật dường như đã tới đỉnh
điểm, đòi hỏi phải được giải quyết. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, ông Hai

người nông dân Việt Nam. Yêu làng cũng là yêu nước. Ông Hai đã buồn vui,
sướng khổ, đã kiêu hãnh, tự hào về làng Chợ Dầu quê hương ông. Đó chính là vẻ
đẹp mới trong tâm hồn người nông dân thời kháng chiến chống Pháp đã được nhà
văn Kim Lân khám phá và thể hiện rất thành công.
Bài tham khảo 4:
“Làng quê”, hai tiếng thật êm đềm và thân thuộc biết bao. Đã có rất nhiều nhà văn,
nhà thơ hướng ngòi bút của mình về giếng nước, gốc đa, con đò… hướng về
những người nông dân thật thà, chất phác. Kim Lân là một trong những nhà văn
viết truyện ngắn và khai thác rất thành công về đề tài này. Truyện ngắn “Làng” là
một truyện ngắn thành công của Kim Lân gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ về
những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng
chiến chống thực dân Pháp.
Kim Lân vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống và con người ở nông thôn
Việt Nam nên các truyện gắn của ông thường gây ấn tượng độc đáo, rất giản dị,
chân chất về đề tài này. Truyện ngắn Làng cũng vậy, truyện ra đời trong những
năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn
nghệ năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc. Câu truyện xoay quanh nhân vật ông Hai
và tình yêu làng Chợ Dầu. Với những chuyển biết trong nhận thức và suy nghĩ,
ông Hai đã trở thành một điển hình của người nông dân Việt Nam sau Cách mạng
tháng Tám.
Như bao con người Việt Nam khác, ông Hai cũng có một quê hương yêu thương,
gắn bó. Làng Chợ Dầu luôn là niềm tự hào và là kiêu hãnh của ông. Ông luôn
khoe về làng mình, đức tính ấy như đã trở thành bản chất. Ông cũng như mọi
người nông dân Việt Nam khác, có quan niệm rằng “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong
dù đục ao nhà vẫn hơn”, đối với họ, không có bất cứ đâu đẹp hơn nơi chôn rau cắt
rốn của mình. Trước cách mạng, mỗi khi kể về làng, ông đều khoe về cái sinh
phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng. Sau Cách mạng, làng ông đã trở
thành làng kháng chiến, ông đã có nhận thức khác. Ông Hai không còn khoe về cái
sinh phần ấy nữa mà ông lấy làm hãnh diện với sự cách mạng của quê hương, vê
việc xây dựng làng kháng chiến của quê mình. Ông khoe làng có “những hố,

chính. Niềm vui trong ông Hai như vỡ òa. Ông chạy đi khoe ngay với bác Thứ rồi
gặp bất cứ ai ông cũng khoe Tây đã đốt nhà mình như muốn chứng minh làng
mình không theo giặc với tất cả niềm tin và tình cảm của ông. Đối với ông hai
cũng như mọi người nông dân khác, con trâu, mảnh ruộng, gian nhà là vô cùng
quý giá nhưng họ thà mất đi tất cả chứ không chịu mất nước và ý chí ý đã trở
thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta.
Cách mạng và sự nghiệp kháng chiến đã tác động mạnh mẽ, đem lại những nhận
thức, những tình cảm mới lạ cho những người nông dân. Từ đó khiến họ nhiệt tình
tham gia kháng chiến và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng, vào lãnh tụ. Ở nhân
vật ông Hai, tình cảm đẹp đẽ có tính chất truyền thống của người nông dân Việt
Nam là tình yêu làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước. Sự hòa quyện và
gắn bó của tình yêu quê hương và tình yêu đất nước là nét mới mẻ trong nhận thức
của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong giai đoạn văn học chống
Pháp.
Với kếu cấu đơn giản, xoay quanh nhân vật ông Hai với tình yêu làng sâu sắc,
“Làng” đã để lại trong lòng người đọc nhiều ý vị sâu sắc. Làng Nhà văn Kim Lân
đã xây dựng rất thành công nhân vật ông Hai với các phẩm chất tốt đẹp của người
nông dân. Đồng thời nhà văn còn khôn khéo xây dựng tình huống thử thách làm
bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả đặc biệt tài tình nội
tâm của nhân vật với những suy nghĩ phức tạp, giằng xé. Tác giả đẩy các chi tiết
đến cao trào rồi giải quyết một cách nhẹ nhàng, thỏa đáng và có hậu, tạo hứng thú
và bất ngờ cho người đọc, người nghe. Cách sử dụng từ ngữ địa phương mộc mạc,
gần gũi với nông dân trong đối thoại, giao tiếp kết hợp với sự hiểu biết sâu sắc
về cuộc sống của họ khiến những trang viết của Kim Lân thật gần gũi nhưng
không kém phần sâu sắc.
Nhân vật ông Hai gây ấn tượng mạnh mẽ và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp, sự yêu
mến, trân trọng và cảm phục trong lòng người đọc. Tình yêu làng của ông Hai
mang tinh chất truyền thống đã được nâng lên thành tình yêu nước nồng nàn như
“ dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào dải trường giang Vônga, dòng sông
Vônga đi ra biển ”. Qua nhân vật ông Hai như là nông dân với những phẩm chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status