Kinh tế xã hội tỉnh An Giang - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------

Phạm Thị Tuyết Nga

KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2005 Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN ĐẠT
Phạm Thị Tuyết Nga
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
An Giang - một tỉnh đồng bằng phía Tây nam
của tổ quốc - mảnh đất giàu truyền thống lịch
sử - văn hóa, có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều thế kỷ trôi qua, vùng đất và con người
An Giang đã góp công to lớn vào những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam không chỉ trong
chiến đấu chống giặc ngoại xâm mà còn cả trong lao động sản xuất.
Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng (30/04/1975), nhân dân An Giang với đức
tính cần cù, chịu t
hương chịu khó và tinh thần cách mạng kiên cường đã nhanh chóng bắt tay vào
công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua 10 năm khôi phục và
phát triển kinh tế - xã hội (1975 – 1985), bằng sự nổ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân,
tỉnh An Giang đã thu dược những thắng lợi cơ bản, đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân
được cải thiện đáng kể so với trước giải phóng. Tuy vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
An Giang giai đoạn này cũng tồn tại những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đại hội Đảng toàn quốc lần t
hứ VI (12/1986) với đường lối đổi mới đúng đắn đã tạo động
lực cho sự phát t
riển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Vận dụng
sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với thực tế địa phương, trong những năm 1986 –
2005, kinh tế - xã hội An Giang đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao rõ rệt. Mặc dù vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong giai
đoạn đầu thực hiện công cuộc đổi mới cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định.
Chính vì vậy, việc dựng lại bức tranh chân thực và sinh động quá trình phát triển kinh tế - xã
hội từ sau ngày giải phóng đến năm

.
Trước hết phải kể đến các bài v
iết của những nhà lãnh đạo Đảng, nhà nước ta như: “Đổi mới
để tiến lên” của đồng chí Nguyễn Văn Linh, “Sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội” của đồng chí
Đỗ Mười, hay “Đổi mới - bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng
chí Nguyễn Khánh,... Nhìn chung, các tác phẩm
này tập trung tìm hiểu những vấn đề kinh tế - xã
hội có tính khái quát trên cả nước, qua đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới, đồng
thời cũng rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, góp phần làm cho chủ trương và đường lối đổi mới của Đảng nhanh chóng phát huy
tác dụng trong cuộc sống.
Các cuốn sách: “Đổi mới kinh tế và phát triển” của tác giả Đoà
n Thị Thu Hà, nhà xuất bản
Khoa học xã hội 1995; “Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp
bách” của Trần Xuân Tường, nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996; “Đổi mới chính sách xã hội:
Luận cứ và giải pháp” của tác giả Phạm Xuân Nam, xuất bản 1997; “Đổi mới để phát triển”, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia 2002,... đã đề cập, nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội của nước
ta trong thời kỳ đổi mới mang tính khái quát cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Một số công trình khác nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới như: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu và triển vọng” của tác giả Nguyễn Văn
Bích, nhà xuất bản Hà Nội 1994; “Đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn”, nhà xuất bản
Nông nghiệp 1998; “Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp nông thôn” của
Lương Xuân Quý, nhà xuất bản Hà Nội 1999; “Đổi mới nông nghiệp và nông t
hôn dưới góc độ thể
chế”, Trường Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2000; “Chính sách phát triển nông nghiệp và
nông thôn sau Nghị quyết 10”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2000,... Trong mức độ nhất định,
các công trình này đã cung cấp cách nhìn, đánh giá công cuộc đổi mới trên lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn.
Thời kỳ 1954 – 1975 có nhiều công trì
nh nghiên cứu về Nam Bộ, vùng đất An Giang hoặc

Pháp thuộc.
Quyển Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long của Ngu
yễn Công Bình, Lê
Xuân Diệm, Mạc Đường xuất bản năm 1990 đã nghiên cứu về các tộc người đang sinh sống trên
mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long. Các tác giả đã đề cập đến mọi mặt trong si
nh hoạt về mặt
kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống ở vùng đất này.
Tác phẩm Về dân tộc ở vùng đồng bằng sông cửu Long xuất bản năm 1991 đã đề cập khá
chi tiết về sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đang sinh sống ở Đồng bằng sông
Cửu Long nói chung, vùng đất An Giang nói riêng.
Quyển Góp phần tì
m hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của Huỳnh Lứa
xuất bản năm 2000. Tác giả có đề cập đến quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ, khai hoang lập ấp,
công cuộc đào kênh, các hoạt động kinh tế ở An Giang trong hai thế kỷ XVIII – XIX.
Bên cạnh đó còn có các tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển do
Nguyễn Công Bình chủ biên, Nghề nông Nam Bộ của Trần Xuân Kiêm biên soạn năm
1992, Lược
sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Vũ Minh Giang chủ biên.
Ngoài ra, các bài viết trong các kỷ yếu hội thảo khoa học như Nam Bộ và Nam Trung Bộ
những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX do Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ
chức, Lịch sử phát triển kinh Vĩnh Tế, Lịch sử hình thành vùng đất An Giang do Ủy ban nhân dân
tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang và Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh An
Giang đã phối hợp với Viện khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, …; các bài viết
trên các b
áo chuyên ngành được công bố thường xuyên có liên quan đến kinh tế - xã hội An
Giang.
Kinh tế - xã hội tỉnh An Giang thời kỳ đổi mới được Đảng bộ, các cấp chính quyền tỉnh An
Giang đặc biệt quan tâm
.
Quyển An Giang 25 năm xây dựng và phát triển của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang xuất

2005.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài luận văn tập trung nghiê
n cứu quá trình xây dựng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An
Giang từ 1986 đến 2005. Trên cơ sở đó dựng lại bức tranh kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong 20
năm đổi mới (1986 – 2005).
Từ thực tiễn sinh động của quá trình phát triển cũng như những thành tựu kinh tế - xã hội
tỉnh An Giang đạt được, đề tài rút ra những đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội tỉnh An Giang trong
thời kỳ đổi mới, những bài học kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh An Giang.
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho tỉnh An G
iang trong quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay.

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiê
n cứu
4.1. Ng
uồn tư liệu
Để nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa vào các ng
uồn tư liệu sau:
Các t
ác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin bàn về kinh tế - xã hội, các văn kiện,
nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tỉnh An
Giang về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Những công t
rình nghiên cứu về kinh tế - xã hội các vùng nông thôn An Giang, các niên
giám thống kê lưu trữ tại cục thống kê An Giang.
Nguồn tư liệu gốc viết về tỉnh An Giang như: Các báo cáo ch
ính trị tại những lần Đại hội
Đảng bộ tỉnh từ 1975 đến 2005, Báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm,

xã hội giai đoạn hiện nay.
Có thể dùng luận văn làm
tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy lịch sử địa phương, giáo
dục thế hệ trẻ, đặc biệt đối với tỉnh An Giang.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết
cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người, tình hình ki
nh tế - xã hội tỉnh An Giang trước
năm 1986.
Chương 2: Kinh tế tỉnh An Giang từ năm
1986 đến năm 2005.
Chương 3: Xã hội tỉnh An Gian
g từ năm 1986 đến năm 2005.

Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ
HỘI TỈNH AN GIANG TRƯỚC NĂM 1986

1.1. Khái quát về vùng đất, con người An Giang
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
An Giang là tỉnh t
huộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa vĩ tuyến 10
0
và 11
0
Bắc, giữa
kinh tuyến 104,71
0
và 105,5

.
Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mê Kông, hàng năm có
gần 70% diện tích tự nhiên bị ngập lũ, thời gian ngập lũ từ 3 – 4 tháng, vừa đem lại lợi ích to lớn –
đưa lượng phù sa, vệ sinh đồng ruộng... nhưng cũng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng. Trong
30 năm qua đã có đến 5 lần ngập cao làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở của
cư dân... làm cho suất đầu tư của tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả m
ang lại bị hạn chế.
Về đất đai và thổ nhưỡng, An Giang có 6 nhóm chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa
151.600 ha chiếm 44,5% diện tích đất tự nhiên; nhóm đất phù sa có phèn 93.800 ha chiếm 27,5%;
nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ 24.700 ha chiếm 7,3%; còn lại là đất phèn và các
nhóm khác.
Hệ thống sông rạch tỉnh An Giang đã góp phần hình thành 72% diện tích đất phù sa hoặc
có nguồn gốc phù sa do bù đắp hàng năm. Địa hình bằng phẳng, độ thích nghi đối với các loại cây
trồng khá rộng. Diện tích đất nông nghiệp từ 289.316 ha năm
1976, bình quân khoảng 0,212
ha/người, đến năm 2005 dự kiến đất nông nghiệp còn 258.523 ha, bình quân khoảng 0,117
ha/người, thấp hơn nhiều tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long.
An giang có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với
154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ. Sau 1975 một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm
đầu của thập niên 90 trở đi tỉnh đã chú ý nhiều tới việc g
ây lại vốn rừng. Năm 2000 đất rừng
12.443 ha và với 30.500 ha diện tích cây phân tán, đến năm 2005 đất rừng 15.755 ha và với 50.000
ha cây phân tán, độ che phủ khoảng 19%. Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có loài
quý hiếm. Rừng tập trung chủ yếu ở vùng Bảy núi tạo nên nhiều phong cảnh đẹp cùng với những
di tích văn hóa – lịch sử, góp phần phát triển kinh tế địa phương tương đối đa dạng.
Nguồn lợi thủy sản trên hai con sông T
iền sông Hậu không nhỏ, và cùng với hệ thống
kênh, rạch, ao, hồ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi cá bè, ao hầm,
tôm trên chân ruộng mà từ lâu nó đã trở thành nghề truyền thống của nhân dân địa phương – đây
cũng là thế mạnh đặc trưng ở An Giang.

Nghề mộc cũng sớm
phát triển trên đất Chợ Mới. Ở An Giang và cả Miền Tây đều biết đến
những người thợ miệt Chợ Thủ (Chợ Mới) qua những sản phẩm t
hủ công tinh xảo có tính nghệ
thuật cao, từ đơn giản đến cầu kỳ, phức tạp.
Ở núi Sam, núi Sập do nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dần dần hình thành tầng lớp “thợ”
chuyên khai thác đá. Ngoài đá xây dựng ra, họ còn làm ra những đồ dùng như cối giã gạo, chày
đâm tiêu, cối xay bột, mặt bàn… và cả đồ trang sức bằng đá quý.
Nghề đan bàng, đưng tập trung ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn. Với bàn tay khéo léo của người
nông dân, từ những cây cỏ ngoài đồng sâu đã biến thành những vật dụng cần thiết cho gia đình
như mái
nhà, đệm, giỏ xách… Đặc biệt là cây bàng đã tạo ra chiếc nón kỳ diệu để sau này cùng
với cây tầm vông đi vào lịch sử đấu tranh oai hùng của dân tộc, in đậm trong ký ức của người dân
vùng đồng bằng châu thổ.
Tuy nghề thủ công c
ó phát triển, nhưng cơ nghiệp của người dân An Giang dựng lên được
hàng trăm năm nay chủ yếu là bắt nguồn từ cây lúa. Những người dân An Giang đầu tiên cũng chỉ
biết làm ruộng cấy ở vùng Cù lao, Bảy Núi, còn ở vùng ngập nước thì đánh bắt cá, tôm hoặc trồng
hoa màu phụ sinh sống qua ngày. Cảnh “phá sơn lâm, đâm hà bá” ngày càng không phù hợp với
sự gia tăng dân số. Bản thân cây lúa cũng bị hạn chế về diện
tích gieo trồng, không đối đầu được
với mùa nước nổi hàng năm. Người dân An Giang trong quá trình lao động cần cù sau này đã tìm
cho mình cây lúa nổi đủ sức vươn mình và tồn tại lên trên mặt nước mênh mông. Cây lúa nổi đối
với cư dân An Giang là một biểu tượng tuyệt vời về sức sống mãnh liệt trong quá trình mở đất và
giữ đất.
Nhìn chung, tiềm năng kinh tế của tỉnh An Giang là khá đa dạng, nhân dân An Giang lại
cần cù, khéo tay và năng động. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An
Giang ra sức x
ây dựng và bảo vệ quê hương trong thời kỳ mới.
1.1.2.2. Đặc điểm xã hội

nghệ thuật cao như Lăng Thoại Ngọc Hầu (1829), chùa Tây An (1847), nhà thờ Cù lao Giêng

(Chợ Mới), chùa Giồng Thành (Phú Tân), chùa Linh Sơn (Thoại Sơn), chùa Xà Tón (Tri Tôn),
chùa Ông Bắc (Long Xuyên)... và hàng trăm ngôi đình, chùa, miếu... mang sắc thái riêng của từng
dân tộc, từng tôn giáo.
An Giang tuy là một trong những vùng đất được mở mang sau cùng trên bước đường Nam
tiến của các chúa Nguyễn. Nhưng ngày nay, vùng đất này đã trở thành nơi “đất lành chim
đậu”.
Quá trình lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh kiên cường hằng trăm năm nay đã khẳng định được
khả năng của bàn tay, khối óc và cả trái tim của những con người nơi đây.
Đất An Giang vẫn mãi mãi in dấu của đoàn quân Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi mở
đất phương Nam năm 1699. Dù rừng thiêng nước độc đã sớm cướp đi cuộc đời của người đi mở
cõi, nhưng tên gọi Cù lao Ông Chưởng vẫn đời đời gợi nhớ đến một vị công thần khai quốc.
Thoại Ngọc Hầu với dòng kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế đã mang dòng nước mát, mang

ấm no đến cho biết bao người. Công lao của Thoại Ngọc Hầu mãi mãi được nhân dân An Giang
ghi nhớ.
Trong đấu tranh giành độc lập, Tôn Đức Thắng – người con ưu tú của An Giang và biết
bao vị anh hùng cách mạng đã hiến dâng cuộc đời m
ình cho lịch sử, để khẳng định truyền thống
yêu nước là dòng chảy không ngừng dẫn tới chiến thắng lịch sử của quân và dân An Giang, góp
phần cùng cả nước giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc.
Từ những điều kiện đặc thù của nền kinh tế, văn hóa, xã hội ở An Giang. Để giữ gìn mảnh
đất này, bảo vệ những giá trị tin
h thần, vật chất mới xây dựng, người dân An Giang đã không tiếc
xương máu trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược qua các thời kỳ, nhằm bảo vệ biên cương tổ
quốc.
1.1.3. Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân An Giang qua các thời kỳ lịch
sử
Suốt trong thời kỳ dài, từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1846, nhân dân vùng Châu Đốc vùng

nhiều đồng chí thanh niên ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sang Quảng Châu (Trung Quốc)
học khóa 3 trường Tổng bộ. Tại đây các đồng chí ấy được học những bài lý luận cách mạng đầu
tiên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc biên soạn. Học xong các đồng chí được kết nạp vào Hội Việt
Nam cách mạng tha
nh niên và tuyên thệ tước mồ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái, rồi trở về nước hoạt
động.
Tháng 2/1928, tại Long Xuyên tỉnh bộ Việt Nam cách mạng thanh niên thành lập do đồng
chí Châu Văn Liêm làm
bí thư.
Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong
lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ đây Long Xuyên và Châu Đốc đã có một Đảng của giai cấp công
nhân trực tiếp lãnh đạo.
Tháng 5/1930 lần đầu tiên cờ đỏ búa liềm được treo trên cột dây thép xã Long Điền, truyền
đơn rải dán khắp nơi, cả trong văn phòng làm việc của địch, nhằm cổ vũ cho các cuộc đấu tranh
của nông dân, của thợ dệt diễn ra khắp nơi trong tỉnh.
Ngày 23/11/1940, cả vùng nông thôn Nam Kỳ rung chuyển trước sức nổi dậy của quần
chúng. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện trong các cuộc biểu tình t
hị uy. Long xuyên – Châu
Đốc nhận lệnh khởi nghĩa chậm 7 ngày, khi các nơi khác nổ ra cao trào, nhưng quần chúng tham
gia khởi nghĩa rất dũng cảm. Thực dân Pháp và bọn tay sai Việt gian, Miên gian đàn áp quần
chúng khởi nghĩa, chúng bắn xả vào đoàn biểu tình t
ay không, đốt nhà, xé xác trẻ em ném vào lửa,
nhiều đồng chí, đồng bào yêu nước bị bắt, bị tù đày, bị xử tử. Theo Báo cáo chính trị tháng
12/1940 của thống đốc Nam Kỳ, gởi toàn quyền Đông Dương, riêng ở liên tỉnh Long Xuyên chúng
bắt 315 vụ. Ngoài số đồng chí bị đem đi xử tử ở Cần Thơ, bọn thực dân đã xử bắn 3 đảng viên ưu
tú của tỉnh ở đầu bờ Núi Sam (
Vĩnh Tế - Châu Đốc).
Ngày 25/8/1945, cùng với Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long,
nhân dân các xã, huyện kéo vào thị xã Long Xuyên, Châu Đốc giành toàn bộ chính quyền. Sau
cách mạng tháng Tám, các lực lượng vũ trang cách mạng ở An Giang lần lượt ra đời và không

phóng miền Nam là con đường cách mạng. Đồng bào và chiến sĩ Long Xuyên, châu Đốc chiến đấu
theo hướng đó. Ở Bảy Núi, hàng ngàn đồng bào K
hmer kéo tới dinh quận trưởng đấu tranh, vạch
trần Mỹ là xâm lược, ngụy là tay sai bán nước. Phong trào đấu tranh ngày càng lên cao trong nhân
dân. Cơ sở cách mạng ngày càng nhiều và vững chắc.
Năm 1957, ta hợp nhất hai tỉnh lại thành tỉnh An Giang, theo đơn vị hành chính của địch
để tiện việc bám sát tình hình địch và bố trí lực lượng đấu tranh của ta. Từ lực lượng tự vệ, tỉnh đã
xây dựng thành lực lượng vũ t
rang do đồng chí Nguyễn Khắc Sương làm tiểu đoàn trưởng tiểu
đoàn 364 và đồng chí Nguyễn Sên (nay là đồng chí Nguyễn Văn Hơn) làm chính trị viên.
Sau đó, các lực lượng vũ trang liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi, ghi nhiều chiến công. Tại
Bảy Núi, tiểu đoàn 512 được thành lập. Những tháng đầu năm 1960 An Giang đã có nhiều trận
tiến công địch, như ở xã Vọng Thê, ta diệt gọn 3 đồn giặc, thu hơn 50 súng các loại, phá tan khu
trù mật. Ở Tân Châu đồng bào đấu tranh với chính quyền địch đòi
bồi thường thiệt hại cho 400 gia
đình bị chính quyền Ngô Đình Diệm đốt phá nhà cửa để dồn họ vào trại tập trung; Thới sơn là xã
thí điểm đồng khởi của tỉnh...
Lực lượng kháng chiến của ta ngày càng mạnh, kẻ thù càng hoảng sợ, điên cuồng,
gây ra
biết bao tội ác. Nhân trận lụt năm 1961 Mỹ - Diệm thừa dịp thiên tai dùng máy bay, đại bác tàn sát
đồng bào vùng lũ. Những năm tiếp theo nhiều cuộc dấu tranh chính trị nổ ra và giành thắng lợi tiêu
biểu là cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trong những ngày chiến đấu sôi nổi
này, quân và dân An Giang đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.500 tên địch, có 71 tên Mỹ, 10 sĩ quan
ngụy, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.
Ngày 3/5/1970 quân và dân An Giang kại cùng lúc tiến công gần 20 vị trí đồn bót, căn cứ
quân sự địch ở huyện Tri Tôn, Tịnh Biên tiêu diệt hơn 500 tên, diệt gọn và đánh thiệt hại nặng một
ban chỉ huy tiểu đoàn và bốn đại đội ngụy, bắn rơi 4 m
áy bay, phá hủy 4 súng lớn, đốt cháy một
kho xăng lớn..
Năm 1971 – 1972, tại Cô Tô – Tức Dụp diễn ra một cuộc đọ sức giữa ta và địch, tại đây hố

huy động xuồng ghe cho bộ đội.
Số địch ngoan cố lại trốn về nhập chung với bọn tà
n quân, co cụm lại ngôi chùa cổ - ngôi
chùa Tây An Cổ Tự thuộc quận Chợ Mới, cũng với danh nghĩa là bộ đội Phật giáo Hòa Hảo.
Trước khi giải quyết điểm co cụm này, ta đã giải phóng thị xã Long Xuyên. Ở đây cùng với các
giới đồng, các giáo chức và học sinh trong phong trào nổi dậy chiếm
chính quyền.
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước là quá trình gian khổ hy sinh. Quân và dân An Giang đã
chiến đấu kiên cường, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, trong lúc nhân dân ta đang ra sức
xây dựng, hàn gắn vết thương chiến tranh, bè lũ Pôn pốt – Iêng Xary, gây ra chiến tranh biên giới
phía Tây Nam tổ quốc ta. Trong đó có biên giới An Giang.
Tháng 5/1975, chúng cho quân đổ bộ lên đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu, xâm
phạm lãnh
thổ Việt Nam từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Cuối năm 1975 và đầu năm 1976, chúng lấn chiếm lãnh
thổ Việt Nam thuộc các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Từ giữa năm 1976, chúng kích động
trong nhân dân và quân đội của chúng tư tưởng sô vanh, tâm lý chống Việt Nam, coi Việt Nam là
“kẻ thù truyền kiếp”, “kẻ thù số một”. Ngày 30/4/1977, chúng dùng nhiều sư đoàn tiến công trên
toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang nước ta, mở rộng cuộc chiến tranh xung đột vũ trang ở biên
giới hai nước thật sự thành một cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam [81, tr.14-15]
.
Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng trong hai cuộc kháng chiến, năm 1979, quân
và dân An Giang góp phần cùng nhân dân cả nước bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của tổ
quốc, làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia hồi sinh.
Bước vào giai đoạn mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân An
Giang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua khó khăn, thử thách, tập trung sức vào

công cuộc tái thiết quê hương, từng bước ổn định cuộc sống nhân dân lao động, các hoạt động xây
dựng nếp sống văn hóa mới ở các cơ sở được tiến hành và chú trọng.
Mỗi một năm qua đi từ sau ngày giải phóng, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ

mạng, nuôi ảo vọng ngoài đánh vào, trong bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng.
Trước tình hình thực tế ấy, Đảng bộ An Giang đã dứt khoát khẳng định: phải tiếp tục phát

động quần chúng truy quét địch ở nội địa và chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc, nhanh chóng ổn
định trật tự an ninh, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân, đồng thời phát triển kinh tế -
xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhâ
n dân. Trong hai nhiệm vụ cực kỳ quan trọng
ấy, ngay từ đầu An Giang cũng đã nhận rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân
phải được đặt lên hàng đầu, trước hết là ăn, bởi vì có ăn mới đánh thắng được địch, có ăn mới xây

dựng được chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ sở tiếp thu, quán triệt nghị quyết 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa 3),
vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của An Giang, Tỉnh ủy đã xác định phải đẩy mạnh phát triển cả
công nghiệp và nông nghiệp nhưng phải coi phát triển sản xuất nông nghiệp là hàng đầu, trước hết
là lương thực, thực phẩm.

Đây là một quyết định hết sức đúng đắn, phù hợp với đường lối, quan điểm tư tưởng của
Đảng, phù hợp với thực tiễn, vừa giải quyết mâu thuẫn trực tiếp trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu cơ
bản lâu dài của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Để giải quyết nhanh vấn đề lương thực,
Tỉnh ủy chỉ đạo tích cực động viên quần chúng, điều chỉnh ruộng đất t
rong nhân dân, làm thủy lợi,
cải tạo đồng ruộng, sử dụng giống mới, ngắn ngày, có năng suất cao, tập trung chuyển vụ đông
xuân và tăng vụ hè thu. Từ hơn 10.000 ha vụ đông xuân 1974 - 1975 (trước khi giải phóng) lên
45.000 đông xuân 1976 – 1977 và tăng vụ hè thu 1977 là 36.000 ha.
Quán triệt đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV vạch ra với nội
dung chủ yếu là: “ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ...” và
nghị quyết 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV về phát triển sản xuất nông nghiệp.
Lãnh đạo tỉnh đã khẳng định rõ phương hướng: tập trung phát triển nông nghiệp mà hàng đầu là

ra những hình thức, bước đi, quy mô, biện pháp, nhất là cơ chế quản lý thích hợp để vừa đẩy
mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, vừa đảm bảo tốt mục đích yêu cầu chính của cải tạo là phát triển
sản xuất. Từ khi có chỉ thị 100 của Ban bí thư thì
phong trào cải tạo nông nghiệp ở An Giang tiến
lên mạnh mẽ và tương đối vững chắc. Thời gian này, toàn tỉnh có hơn 2.000 tập đoàn sản xuất, 150
liên tập đoàn sản xuất và 7 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tập thể hóa 62% nhân khẩu và 63%
lao động nông nghiệp. Số còn lại tổ chức hầu hết vào các tổ đoàn kết sản xuất. Riêng vùng lúa
chuyển vụ, tăng vụ đông xuân, hè thu đã tập thể hóa 100% diện tích canh tác. Có 3 huyện, thị v
à
hơn 40 xã, phường đã hoàn thành cơ bản hợp tác hóa nông nghiệp.
Diện tích gieo trồng từ 200 ha/1975 lên 319.000 ha/1984, tăng 42% trong đó diện tích lúa
tăng 24%, riêng lúa tăng vụ tăng 6,5 lần với 100.000 ha đông xuân và 75.000 ha hè thu, hệ số sử
dụng ruộng đất từ 1,1 vòng năn 1975 lên 1,9 vòng năm 1984; năng suất lúa bình quân toàn Tỉnh từ
2 tấn năm 1975 lên 3,1 tấn năm 1984. Bình quân lương thực đầu người 290kg/1975 với 1,32 t
riệu
dân, lên 500kg/1984 với 1,7 triệu dân, đưa tổng sản lượng lương thực từ 385.000 tấn/1975 lên
842.000 tấn/1984. Riêng về cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: bắp từ 3.000 tấn/năm lên
13.000 tấn/năm, tăng hơn 4 lần; đậu xanh từ 500 tấn / năm lên 5.000 tấn/năm tăng 10 lần; đậu
nành từ 200 tấn/năm lên 3.000 tấn /năm tăng 15 lần, riêng năm 1983 đỉnh cao của sự phát triển là
6.300 tấn/
năm [210, tr.8].
Đi đôi với phát triển trồng trọt, tỉnh cũng chú trọng phát triển chăn nuôi, nuôi trồng khai
thác thủy sản, và trồng rừng. Tuy thiên tai, địch họa ảnh hưởng nhiều đến tốc độ phát triển. Đàn
heo từ 56,700 con /năm/1975 lên 317.000 con năm 1984; đàn bò tăng 1,3 lần; đàn trâu tăng 1,9
lần; cá nuôi từ 12 triệu con năm 1975 lên 19 triệu con năm 1984 [210,tr.9].
1.2.1.2. Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Trên cơ sở phát triển nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng đã khôi phục
và phát triển khá tốt cùng với tập trung sức phát triển nông nghiệp, Lãnh đạo tỉnh đã quan tâm đẩy
mạnh phát triển sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Ngay từ đầu, Tỉnh đã chủ trương khôi phục và phát triển hệ thống công nghiệp cơ khí từ sửa

dệt gồm 1.287 lao động, 85 tổ hợp sản xuất với 2.051 lao động; 15% lao động công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp vào làm ăn tập thể, nhà nước quản lý từ 30 – 40% sản phẩm [210, tr.13].
1.2.1.3. Thương mại – dịch vụ, tài chính - tín dụng
Đi đôi với chỉ đạo phát triển sản xuất, Tỉnh coi trọng và đi vào chỉ đạo lĩnh vực phân phối
lưu thông, xây dựng lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa với gần 750 cán bộ công nhân viên
đứng chân ở 54 điểm sung yếu ở thị xã, thị trấn. Nhưng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa lúc bấy
giờ chủ yếu là làm
nhiệm phục vụ cán bộ, công nhân viên chức và lực lượng vũ trang, doanh số
bán lẻ chiếm tỷ trọng còn thấp so với tổng mức bán lẻ, hàng hóa xã hội. Mặt khác do áp dụng
chính sách giá cả chưa phù hợp với đặc điểm tình hình tồn tại nhiều thành phần kinh tế, không
kiên quyết tổ chức lại và đấu tranh với thị trường tự do với những hình thức thích hợp, lực lượng
thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phát triển chậm,
thị trường tự do phát triển lấn áp thị trường có tổ
chức.
Trước tình hình đó, Tỉnh vừa củng cố và tăng cường lực lượng đã có, vừa từng bước xây
dựng thêm lực lượng mới, vừa tổ chức nắm lại thị trường, tổ chức lại các chợ sắp xếp các ngành
hàng để quản lý bằng niêm yết giá
, bắt đầu thu thuế công thương nghiệp...Từ đó mà nắm các mặt
hàng chủ yếu như lương thực, đậu, mè, đường, heo.... cộng với lực lượng hàng hóa của Trung
ương về, tạo được dần lực lượng hàng hóa cho thị trường có tổ chức, kết hợp với biện pháp chính
quyền, tạo ra thế và lực mới cho ngành thương nghiêp xã hội chủ nghĩa trong những năm
1975 đến
năm 1980.
Từ thực tiễn yêu cầu phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân lao động, đầu năm
1980 tỉnh vận dụng trương chủ thực hiện chính sách 2 giá: mua đúng, bán đúng trong thu mua
lương thực và nông sản, đối lưu theo hợp đồng hai chiều với người sản xuất, từ đó nhà nước huy
động lương thực hàng hóa nông sản và hàng công nghiệp chủ yếu ngà
y càng nhiều, thương nghiệp
xã hội chủ nghĩa dần dần phát triển hơn, nhờ vậy mà thúc đẩy sản xuất phát triển, từng bước ổn
định đời sống nhân dân, trong điều kiện khách quan trong những năm này có rất nhiều khó khăn

Năm 1984 xuất khẩu xuất khẩu đạt 8 triệu đôla. Như vậy, trên thực tế nguồn nông sản chủ lực của
tỉnh là lúa gạo nhưng chưa được xuất khẩu trực tiếp, do tình hình khó khăn chung về lương thực
của cả nước.
Về tiền tệ, từ khi có nghị quyết 6
của Trung ương (khóa V) tỉnh An Giang nhanh chóng cụ
thể hóa thực hiện, nên tài chính và ngân hàng có phục vụ cho kế hoạch sản xuất và kinh doanh,
nhưng chỉ là bước đầu. Từ chỗ thiếu hụt Trung ương phải chi viện đã vươn lên cân đối được ngân
sách cho tỉnh, còn là
m tròn nghĩa vụ với Trung ương và có kết dư. Cụ thể ngay trong chiến tranh
biên giới tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, tiến hành phân cấp quản lý về ngân sách, thương nghiệp, xuất
khẩu, tổ chức cán bộ cho huyện, tiến hành xong quy hoạch tổng thể và quy hoạch ở các huyện

Trích đoạn Y tế, thể thao Chính sách ưu đãi người có công Công tác phòng chống tệ nạn xã hộ Thực hiện chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình Thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status