Điều tra hiện trạng mô hình tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ đại dương tại phường Vĩnh Phước - Nha Trang - Pdf 26

1
LỜI NÓI ĐẦU
hánh Hòa là tỉnh có điều kiện tự nhi ên hết sức thuận lợi để phát triển ng ành
khai thác thủy sản, với 520 km đường bờ biển và hơn 100 đảo lớn nhỏ ven bờ.
Trong một vài năm gần đây, nghề câu cá ngừ đại d ương tại Khánh Hoà phát triển khá
mạnh mẽ. Với sản lượng cao, giá trị xuất khẩu lớn đ ã làm chuyển dịch cơ cấu nghề
nghiệp trong cộng đồng dân c ư các vùng ven biển trong tỉnh và đã trở thành nghề chủ
lực trong khai thác hải sản xa bờ. Do đặc điểm của nghề n ày tại Khánh Hoà chủ yếu
là khai thác độc lập, ngư dân chủ yếu đánh bắt bằng kinh nghiệm c òn về trình độ văn
hoá, khoa học công nghệ thấp cho n ên ý thức chấp hành các quy định của ngành chưa
cao. Về công tác đảm bảo an to àn hàng hải trên biển chưa đảm bảo, đang còn nhiều
tai nạn xảy ra trên biển mà không có lực lượng ứng cứu kịp thời n ên đã để lại những
hậu quả to lớn cho ng ư dân. Thực hiện chủ trương chính sách của Chính phủ, Bộ thuỷ
sản, UBND tỉnh Khánh Ho à là xây dựng và phát triển các mô hình tổ chức sản xuất
trên biển cho ngư dân nhằm khai thác có hiệu quả, đảm bảo an to àn cho người và
phương tiện trong suốt quá tr ình sản xuất trên biển. Để giải quyết vấn đề tr ên, nay
Trường Đại Học Nha Trang – Khoa Khai Thác Hàng H ải đã phân tôi làm đề tài tốt
nghiệp với nội dung “Điều tra hiện trạng mô h ình tổ chức sản xuất nghề câu cá
ngừ đại dương tai phường Vĩnh Phước Nha Trang”
Kết quả của đề tài là nêu lên được thực trạng về t ình hình tổ chức sản xuất
nghề câu cá ngừ đại d ương của phường Vĩnh Phước và phân tích lựa chọn mô hình
tổ chức sản xuất ph ù hợp với điều kiện thực tế của địa ph ương, sao cho hài hoà gi ữa
tiêu chuẩn kỷ thuật với khả năng kinh tế của ng ư dân nhằm khắc phục các mặt c òn
yếu kém và nâng cao năng l ực khai thác xa bờ v à hiệu quả kinh tế cho ng ư dân, đảm
bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động trên biển dài ngày.
Nha Trang, tháng 10 năm 2007
Ngư ời thực hiện
Đinh Văn Giang
K
2
CHƯƠNG 1

Bảng 1.1: Phân bố dân c ư nghề cá:
a. Thành phố Nha Trang.
1) Phường Vĩnh Thọ
2) Phường Vĩnh Phước
3) Phường Xương Huân
4) Phường Vĩnh Nguyên
5) Phường Vĩnh Trường
6) Xã Phước Đồng
7) Xã Vĩnh Lương
b. Thị xã Cam Ranh.
1) Xã Cam Bình
2) Phường Cam Linh
3) Phường Cam Lợi
4) Thị trấn Ba Ngòi
5) Phường Cam Thuận
6) Xã Cam Phú
7) Xã Cam Phúc B ắc
8) Xã Cam Phúc Nam
9) Xã Cam Hải Đông
10)Xã Cam Thành B ắc
11)Xã Cam Lập
c. Huyện Vạn Ninh.
1) Xã Đại Lãnh
2) Xã Vạn Thọ
3) Xã Vạn Long
4) Xã Vạn Phước
5) Xã Vạn Thắng
6) Thị Trấn Vạn Giã
7) Xã Vạn Hưng
8) Xã Vạn Lương

2.684
2.706
2
20CV ÷ 50CV
7.324
1.178
1.241
1.680
1.581
1.644
3
50CV ÷ 90CV
3.782
777
719
683
786
817
4
90CV ÷ 150CV
1.144
131
158
217
312
326
5
150CV ÷ 400CV
193
20

4800
5000
5200
5400
5600
5800
2002 2003 2004 2005 2006
Số lượng
Hình 1.2: Biểu đồ số lượng tàu thuyền của địa phương
Nhận xét
Nhìn vào biểu đồ và bảng tổng hợp trên ta thấy số lượng tàu của các địa
phương là tăng liên t ục theo các năm từ năm 2002 đến năm 2006, năm 2002 có tất
5
cả là 4901 chiếc chiếm 18,71% trong tổng số t àu, năm 2004 có 536 1 chiếc, tăng
mạnh so với năm 2003, đến năm 2006 đ ã lên tới 5562 chiếc chiếm 21,24%. Nguy ên
nhân của sự gia tăng này là do số lượng tàu có công suất từ 90CV đến 150CV tăng
liên tục, số lượng tàu có công suất từ 50CV đến 90CV tăng mạnh từ năm 2005 đến
năm 2006, số lượng tàu có công suất từ 150CV đến 400CV cũng tăng nh ưng không
nhiều. Mặt khác ta cũng thấy đ ược tốc độ tăng của tàu ở những năm sau càng chậm
hơn so với những năm trước bởi vì một khi tàu quá nhiều thì cũng đồng nghĩa với
lợi nhuận bình quân thấp, ngư dân sẽ không đồng loạt đi biển nữa.
Tuy nhiên theo th ời gian, số lượng tàu vẫn ngày càng gia tăng m ặc dù với
số lượng không nhiều, cũng l à do nhu cầu của con nguời về hải sản . Để đáp ứng
nhu cầu đó, trong tương lai nghề biển sẽ tiếp tục phát tr iển, và số lượng tàu ở các
địa phương sẽ tiếp tục tăng.
1.2.2. Phân loại theo nghề.
Bảng 1.3: Phân loại t àu thuyền theo nghề:
TT
Nghề
Nhóm công suất

82
19
4
90CV ÷ 150CV
326
88
64
86
60
28
5
150CV ÷ 400CV
66
6
5
22
9
24
6
400CV trở lên
3
-
-
-
2
1
7
Tổng cộng
5562
722

mua, mành, tè…, Bên cạnh đó cũng có những nghề có số l ượng tàu thuyền chiếm
tỷ trọng không đáng kể nh ư: nghề đánh bắt cá chuồn, tàu dầu, … Nhiều nhất l à
những tàu có công suất dưới 20CV, cụ thể có 1918 chiếc, tiếp theo l à tàu có công
suất từ trên 20CV đến 50CV, cụ thể có 355 chiếc. H ơn nữa, qua thực tế em thấy
ngoài những con tàu đã đựơc đăng ký, còn có rất nhiều số lượng tàu nằm ngoài sự
quản lý của cơ quan chuyên ngành. S ở dĩ có những con số lớn nh ư vậy là bởi vì
Tỉnh Khánh Hoà có 520 km đư ờng bờ biển và 135 km đường bờ ven đảo rất thuận
lợi cho các nghề đánh bắt gần bờ v à nghề du lịch. Với thực tế nh ư vậy có thể cho ta
tin rằng trong tương lai số lượng tàu phục vụ nghề khác sẽ c òn tiếp tục tăng hơn
nữa.Bên cạnh những nghề khác nh ư đã nói ở trên thì nghề lưới vây cũng chiếm tỷ
trọng rất lớn trong tổng số l ượng tàu của Khánh Hoà, cụ thể là 25.08%. Trong đó s ố
lượng tàu có công suất từ 20CV đến 50CV l à nhiều nhất (796 chiếc). Ng ược lại
7
nghề mà có số lượng tàu chiềm tỷ lệ ít nhất l à nghề câu, chiếm 7.64% trong tổng số
các nghế khai thác biển.
1.2.3. Bảng thống kê tổng tàu thuyền và tổng công suất theo địa ph ương năm 2007
Bảng 1.4: Bảng thống kê tổng tàu thuyền và tổng công suất theo địa ph ương
Địa phương
Tổng tàu thuyền (chiếc)
Tổng công suất (cv)
Ninh hòa
650
12.173,7
Vạn Ninh
1.032
25.762
Cam Ranh
1.406
30.738,5
Nha Trang

trường chính ở Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau), ngh ề vây (ngư trường
chính ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) và Nghề câu cá ngừ đại d ương (Ngư
trường kéo dài từ quần đảo Ho àng Sa đến quần đảo Trường Sa). Với thời điểm hiện
nay toàn tỉnh Khánh Hòa có khoảng trên dưới 400 tàu tham gia kha i thác cá ngừ đại
dương, do mùa v ụ của nghề câu cá ngừ ngắn n ên hầu hết các tàu đều tập trung khai
thác theo hai vụ là vụ Bắc và vụ Nam. Trong đó vụ Bắc với thời gian khai thác từ
đầu tháng 1 đến tháng 5 v à vụ Nam từ tháng 7 đến tháng 9. Kéo theo đó l à ngư
trường cũng thay đổi theo thời gian trong năm.
Vụ Bắc, tàu câu thường hoạt động ở ng ư trường phía Bắc Biển Đông v à gần
Hoàng Sa (Từ 12
0
N đến 17
0
N và 111
0
E đến 117
0
E), là nơi có độ sâu lớn trung b ình
từ 400 – 4000 m và sau đó chuy ển dần xuống phía Nam.
Vụ Nam tàu hoạt động ở bãi Tư Chính và phía Tây Nam qu ần đảo Trường Sa (Từ
6
0
N đến 11
0
N và 110
0
E đến 115
0
E) là nơi có độ sâu trung bình từ 200 – 3000 m.
9

18.545
58.166,5
TS khác
60
62,5
320
274
716,5
Tổng
30.000
6.500
7.000
21.500
65.000
(Nguồn phòng thống kê sở thuỷ sản Khánh Ho à)
0
5 0 00
1 0 00 0
1 5 00 0
2 0 00 0
2 5 00 0
3 0 00 0
S ả n lư ợ n g
T ôm Mự c C á T S khác
T h ủ y s ả n
B iể u đ ồ sả n lư ợ n g T S th e o đ ịa p h ư ơ n g
Nha Trang
Vạn N inh
Nin h Hòa
C am R a n h

7.201
Lưới rê
4.215
62,5
60
5.094
Câu
968
0
480
1.024
Nghề khác
11.971,33
2.187,5
1.886
2.443
Tổng
22.674,33
6.500
7.000
21.500
11
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
Sản lượng

Khánh Hòa cho th ấy số lượng lao động trong nghề cá của tỉnh chiếm một tỉ trọng
khá lớn trong tổng số lao động của to àn tỉnh. Với số dân khoảng 1.1 triệu ng ười
(Thống kê năm 2006) trong đó ở thành thị khoảng 400.000 ng ười và nông thôn
khoảng 700.000 người. Trong đó lực l ượng lao động chiếm 46.6% dân số, lực l ượng
lao động trong nghề cá l à khoảng 80.000 ng ười chiếm khoảng 17% số l ượng lao
động trong tỉnh. Ri êng đối với nghề khai thác thủy sản th ìcó khoảng 20.500 lao
động chiếm 25.6 % tổng số lao động trong nghề cá.
Từ đó có thể cho thấy tiềm năng về lực l ượng lao động trong tỉnh l à khá
phong phú và dồi dào với một đội ngũ lao động trẻ chiếm một tỷ trọng khá lớn về
số lượng. Tuy nhiên, về trình độ văn hóa thì vẫn còn hạn chế và thấp hơn các lĩnh
vực khác, trong đó đại đa số ng ư dân đều chưa học hết phổ thông c ơ sở (CấpII) chủ
yếu là chỉ biết đọc biết viết. C òn trình độ về chuyên môn thì hầu hết là chưa được
qua đào tạo mà chủ yếu được đào tạo theo phương thức “cha truyền con nối ”. Đội
ngũ thuyền trưởng, máy trưởng hầu hết là không có các ki ến thức cơ bản để có thể
sử dụng thành thạo các thiết bị máy móc h àng hải và các thiết bị khai thác, thiếu các
kiến thức về luật hàng hải để có thể hoạt động khai thác ở những v ùng ngư trường
xa bờ, mà chủ yếu chỉ được đào tạo qua lớp ngắn hạn về bằng thuyền tr ưởng, máy
trưởng do Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản Tỉnh tổ chức. V ì vậy việc nắm bắt
thông tin và kiến thức khi hoạt động đánh bắt của ng ư dân vẫn còn bị hạn chế khá
nhiều.
13
1.6. Khu vực neo đậu cho t àu thuyền nghề cá của tỉnh Khánh Ho à.
Bảng 1.7: Danh sách các vị trí neo đậu to àn tỉnh Khánh Hoà.
Huyện,Thị
xã, TP
Bến cá chính
Số tàu
tiếp nhận
Các nghề chính
Hình thức

Hình thành tự
phát
Cầu Ông Hưởng
20
Giã đơn, giã đôi,
Vây ánh sáng
Bến cá tư
nhân
Cầu Bà Thương
Giã đơn, giã đôi,
Vây ánh sáng
Bến cá tư
nhân
Cam Ranh
Bến cá Ông Rạng
20
Giã đơn, giã đôi,
Vây ánh sáng
Bến cá tư
nhân
Đại Lãnh
150
Lưới giã,Trũ rút, vây
Hình thành tự
phát
Vạn Giã
100
Lưới giã, Trũ rút,vây
Hình thành tự
phát

Khải Lương
100
Trũ rút, Lưới vây
Hình thành tự
phát
Lương Sơn
150
Giã cào đơn, giã cào
đôi, lưới cước
Hình thành tự
phát
Ninh Hoà
Ninh Thuỷ
20
Giã cào đơn, giã cào
đôi, lưới cước
Hình thành tự
phát
(Nguồn từ sở thủy sản Khánh H òa)
Hiện nay ở Khánh Ho à ngoài những khu neo đậu theo quy hoạch của nh à nước
thì còn có nhiều khu tự phát do ng ư dân sử dụng làm nơi neo đậu thường xuyên
điển hình là khu neo đậu xóm bóng. Đây l à khu neo đậu đã có từ lâu chủ yếu của
ngư dân hai phường là Xương Huân và V ĩnh Phước, khu neo đậu n ày nằm ngoài sự
quản lý của các c ơ quan nhà nước, cho nên không quản lý được số lượng tàu thuyền
ra vào trong khu v ực này.
Hình 1.7: Khu neo đâu Xóm Bóng
15
1.7. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghề cá tỉnh Khánh Ho à.
1.7.1. Cơ sở hạ tầng.
Tại Khánh Hoà hệ thống cảng cá đ ược phân bố rất đều và hợp lý thuận lợi cho

Hưng, Công ty cổ phần Nha Trang seafoods( F17 ) v à công ty TNHH Đ ại Dương.
Địa điểm mua chủ yếu ở cảng cá H òn Rớ, bến cá Cù Lao và các v ị trí thuận lợi
xung quanh cầu Xóm Bóng - Nha Trang.
Khi tàu từ ngư trường về đến bến, khá ch hàng đến tần tàu để khảo sat và thoả thuận
giá cả, sau đó chuyển về địa điểm mua v à phân loại cụ thể. Cá được rửa lại bằng
nước đá lạnh, đặt nằm tr ên bàn inox. Khách hàng thư ờng dùng que xiên rút thịt cá
ra để đánh giá chất lượng từng con. Đa số khâu đá nh giá chất lượng cá thường do
các chuyên gia nước ngoài thuộc các công ty đảm nhận, họ l à khách mua hàng của
các công ty thu mua và ch ế biến thuỷ sản tại Khánh Ho à.
Căn cứ vào chất lượng, cá được phân thành 2 loại : loại chất lượng tốt, giá mua cao
giao động từ 60.000đ – 110.000 đ/kg, lo ại chất lượng thấp hơn hoặc trọng lượng
nhỏ hơn 30kg thường được mua với giá khoảng 30.000đ – 40.000 đ/kg.
1.8. Những chủ trương, chính sách và đ ịnh hướng phát triển nghề cá của
tỉnh Khánh Hoà
1.8.1. Chủ chương phát triển nghề cá của tỉnh Khánh H òa
 Tổ chức quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản v ùng ven bờ như:
- Điều chỉnh nghề cơ cấu các nghề khai thác thủy sản tự nhi ên phù hợp với
khả năng cho phép khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ.
- Tập trung chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ở độ sâu từ 10 m n ước trở
vào bờ như các nghề giã cào, giã nhũi và các nghề có mắt lưới nhỏ sang nghề truyền
thống hoặc nuôi trồng thủy sản.
- Phục hồi và phát triển các ngành nghề thay thế nghề khai thác nguồn lợi tự
nhiên vùng biển ven bờ, tạo điều kiện ổn định đời sống cho ng ư dân, giảm được sức
ép khai thác đối với nguồn lợi thủy sản v ùng biển ven bờ.
17
- Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven bờ phù hợp với tập
quán, truyền thống của ngư dân địa phương nhằm phát huy và nâng cao vai trò c ủa
cộng đồng ngư dân tại các vùng biển ven bờ tham gia hoạt động quản lý, bảo vệ
nguồn lợi và môi trường sống của các lo ài thủy sản.
 Giáo dục nâng cao về nhận thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong đời sống

hợp với nguồn lợi hải sản hiện có tại địa ph ương.
- Phối hợp với Sở Khoa học Công nghệ v à chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu
khoa học thuộc lĩnh vực thủy sản (đ ã được thực hiện trong những năm gần đây) để
tổ chức triển khai các nội dung đề t ài trong thực tế.
- Tăng cường du nhập những nghề khai thác thủy sản tiến bộ, khai thác thủy
sản có chọn lọc, ứng dụng công nghệ v à trang thiết bị ngư cụ tiên tiến của các nước
phù hợp với nghề cá địa phương nhằm tăng hiệu quả khai thác, giảm bớt c ường độ
lao động và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ
diệt nguồn lợi và môi trường sống của các lo ài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà.
Hình thành và qu ản lý có hiệu quả hệ thống các khu vực: cấm khai thác, hạn chế
khai thác, khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ v à phát triển nguồn lợi thủy sản tr ên vùng
biển Khánh Hòa.
- Xây dựng quy hoạch, ch ương trình khai thác h ải sản phù hợp với quy hoạch
phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá. Hợp tác, du nhập các công
nghệ và trang bị kỹ thuật của các n ước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức đ ược
các đội tàu đủ mạnh có thể tiến h ành hợp tác đánh cá viễn d ương.
- Có giải pháp hạn chế đóng t àu cá loaị nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại t àu
khai thác thuỷ sản có công suất < 90 CV v ào năm 2020, khuyến khích đầu t ư đóng
mới tàu vỏ thép, vỏ composit , loaị tàu có công suất >150 CV cùng với việc đầu tư
đồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ.
- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển
thuỷ sản; tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đ ã bị suy thoái; Bổ sung, tái tạo nguồn
19
giống hải sản “ nhân tạo” cho v ùng biển, kể cả đối với các loài bản địa - đối tượng
khai thác từ bao đời của người dân ven biển.
- Giáo dục cộng đồng để mọi ng ười dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều có ý
thức chấp hành tốt Luật Thuỷ sản, Luật biển v à các công ước quốc tế cũng nh ư luật
pháp Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu và hoạt động về tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ đại

Dương và công ty tư nhân M ạnh Hà.
Theo số liệu của hải quan, trong năm 2002, Việt Nam xuất khẩu cá ngừ đạt
20.274 tấn, năm 2003 đạt 17.362,11 tấn và theo tính toán của các chuyên gia bộ
Thuỷ Sản là sản lượng cá ngừ của Việt Nam đạt khoảng 30.000 tấn (xuất khẩu
chiếm từ 30 – 50% sản lượng khai thác được).
2.2. Một số mô hình tổ chức sản xuất của t àu thuyền nghề câu cá ngừ đại
dương của thế giới và Việt Nam.
2.2.1. Mô hình tổ chức sản xuất của hạm t àu câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản.
Mô hình hạm tàu Nhật Bản chuyên nghề câu cá ngừ đại dương đánh bắt tại
vùng biển Tây Thái B ình Dương từ vĩ độ 40
0
N – 40
0
S, kinh độ 100
0
E – 80
0
W.
Hình thức tổ chức khai thác của một đội t àu này sẽ có từ 1 đến 2 t àu lớn được trang
bị hệ thống đông lạnh v à một số dây chuyền công nghệ chế biến có thể chế biến một
số dạng thành phẩm. Có khả năng bảo quản sản phẩm một cách tốt nhất v à dự trữ
các nhu yếu phẩm, nhiên liệu phục vụ cho đội t àu. Tàu này có thể là tàu mẹ hoặc là
tàu dịch vụ hậu cần có thể tham gia đánh cá v à làm nhiệm vụ chuyển tải, bảo quả,
chế biến và cung cấp nhiên liệu, thực phẩm, nước uống cho các tàu trong đội. Khi
đã đủ sản phẩm tàu mẹ sẽ chuyên chở sản phẩm về cảng để ti êu thụ sau đó tiếp tục
nhận lương thực, thực phẩm, vật t ư nhiên liệu hoặc là chở các thuyền viên thay thế
của các tàu để trở lại ngư trường tiếp tục hoạt động. Khi kết thúc m ùa vụ cả đội tàu
cùng quay trở về cảng.
21
2.2.2. Các mô hình tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ đại d ương của Việt Nam.

an tâm sản xuất, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hiệu quả sẽ cao h ơn những đơn vị
tàu sản xuất riêng lẻ.
- Về dịch vụ hậu cần tr ên biển
Các tàu được tổ chức luân phi ên nhau vào bờ bán cá và tiếp nhận thêm nhiên
liệu, lương thực thực phẩm, n ước đá bảo quản sản phẩm, nước ngọt phục vụ tr ên
biển nên sẽ đảm bảo đầy đủ, kịp thời các dịch vụ hậu cần cho các t àu trong tập đoàn
sản xuất. Việc hành trình từ cảng đậu đến ng ư trường sẽ giảm thiểu bớt l ượng chở
nhiên liệu, thực phẩm cho mỗi t àu khỏang 2/3 trọng tải ch o mỗi tàu ( so với tàu đi
riêng lẽ ) giúp cho tàu đến ngư trường nhanh hơn và giảm thời gian các t àu khác
phải vào bờ để nhận nhiên liệu, giảm phí tổn cho chuyến biển.
- Về đảm bảo an to àn cho người và phương tiện nghề cá và tham gia bảo vệ
an ninh quốc phòng trên biển
Do được tổ chức sản xuất th ành tập đoàn và lúc nào cũng có sự hiện diện của
hai tàu trên biển nên các tàu đã phối hợp được các trang thiết bị an to àn và có điều
kiện để trao đổi thông tin, kịp thời hỗ trợ nhau khi bị rủi ro tai n ạn và các tình
huống bất trắc trên biển để đảm bảo sản xuất an to àn và hiệu quả, giúp các tàu an
tâm sản xuất, qua đó góp phần tham gia bảo vệ an ninh quốc ph òng trên biển, nhất
là đối với các ngư trường xa bờ, vùng biển khơi.
2.2.2.2. Mô hình Công ty XN K Lâm Thuỷ sản Bến Tre
Đây là mô hình khai thác hải sản xa bờ của một doanh nghiệp nh à nước được
tổ chức theo tổ, đội v à sản xuất theo một quy tr ình khép kín từ khai thác, vận
chuyển đến tiêu thụ sản phẩm và cung ứng dịch vụ hậu cần cho các t àu khác bám
biển hoạt động với năng suất cao, giải quyết việc l àm cho 324 lao đ ộng.
Việc tổ chức bộ máy gọn nhẹ v à khoa học, bố trí lực lượng lao động có tr ình
độ tay nghề phù hợp, có chế độ khen th ưởng rõ ràng, luôn quan tâm đến đời sống
23
của mỗi lao động n ên luôn tạo ra sức mạnh tập thể , góp phần nâng cao năng suất v à
hoàn thành kế hoạch.
Trong sản xuất trên biển, công ty có đội ngũ thuyền tr ưởng, thuyền viên giỏi,
chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho t àu trước khi ra khơi, tổ chức thành tổ đánh bắt

Với cách tổ chức th ành lập đội khai thác tr ên nguyên tắc tự nguyện để
hợp tác, giúp đỡ nhau trong khai thác hải sản. Năm 1999, đội có 22 t àu tham gia,
với tổng công suất 940cv, sản l ưọng khai thác h ơn 1000 tấn, chủ yếu dành cho xuất
khẩu 70%, tổng doanh thu đạt 12 tỷ đồng, đến năm 2000, đội có 26 t àu tham gia,
tổng công suất 1020cv, sản l ượng khai thác 1.260 tấn, ho àn thành 16 triệu đồng tiền
thuế, doanh thu ước tính đạt 15 tỷ đồng; đến năm 200, đôi có 30 chiếc t àu, tổng
công suất 1130cv, sản l ượng khai thác 1.500 tấn, ho àn thành 22 triệu tiền thuế,
doanh thu ước tính đạt 18 tỷ đồng; đến năm 2003 to àn đội có 34 chiếc t àu tham gia,
tổng công suất 1.320cv, sản l ượng khai thác h ơn 2.000 tấn, với tổng doanh thu 23 tỷ
đồng.
Qua 5 năm thành lập, đội lưới cản An Bàng đã khai thác được 6.460 tấn hải
sản, xuất khẩu chiếm 65% trong tổng sản l ượng đánh bắt được với tổng doanh thu
88,5 tỷ đồng, góp phần tạo công ăn việc l àm cho gần 300 lao động, với thu nhập
bình quân 17,5 tri ệu động/năm/người.
2.3.2 Mô hình khai thác l ưới vây rút chì của tỉnh Bình Định.
Đội tàu của gia định ông Nguyễn Th ành Trung ở phường Hải Cảng, Th ành
Phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định.
Tuy với 3 chiếc tàu là sở hữu của 3 anh em trong gia đ ình nhưng tự nguyện
hợp tác phối hợp, thống nhất trong tổ chức sản xuất v à ăn chia phân ph ối chung.
Mô hình sản xuất như sau; tổ chức sản xuất theo đội t àu gồm 3 chiếc, thường xuyên
bám biển, bám ngư trường bằng cách trực máy thông tin li ên lạc, phân công nhau đi
dò tìm đán cá. Khi phát hiện đàn cá thì lập tức thông báo cho nhau để c ùng đánh
bắt. Khi đánh bắt đ ược nhiều thì cả 3 tàu cùng về bờ bán cá, con b ình thường thì tập
trung cá đánh b ắt được cho 1 tàu mang vào b ờ bán cá và lấy thêm dầu, đá, lương
thực;Trong khi đó 2 t àu còn lại bán biển tiếp tục sản xuất, đến khi t àu vào bán cá tr ở
25
ra thì 2 tàu còn l ại đã đánh bắt được 3-4 đêm, đủ cá cho 1 chiếc t àu khác vào bờ
bán. Cứ như vậy luân phiên nhau bán ngư tr ường sản xuất và vào bờ bán cá, tiếp
thêm nhiên liệu, lương thực cho đến hết con trăng thì mới kết thúc.
3. Tổng quan về tai nạn t àu thuyền họat động nghề cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status