Lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế - Pdf 26

Mở đầu
Tăng trởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề lớn cơ bản của kinh tế vĩ
mô lạm phát và tăng trởng kinh tế có một quan hệ chế ớc lẫn nhau và lạm
phát chỉ có thể ở một mức nhất định mới phù hợp cho tăng trởng kinh tế. Có
thể nói, trong rất nhiều các nhân tố ảnh hởng tới tăng trởng kinh tế thì lạm
phát giữ một vai trò rất to lớn.Tuy nhiên, không phải trong mọi trờng hợp
và ở mọi giai đoạn phát triển kinh tế, các lý thuyết về lạm phát và tăng tr-
ởng kinh tế đều đúng tuyệt đối. Lạm phát trong trờng hợp cụ thể sẽ có ảnh
hởng ở những mức độ và khía cạnh khác nhau. Do vậy, việc xem xét kỹ vấn
đề lạm phát và sự ảnh hởng của lạm phát trong điều kiện cụ thể của quá
trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đợc đặt ra bức xúc, từ đó có những biện
pháp kịp thời kiểm soát lạm phát để đảm bảo tăng trởng kinh tế của Việt
Nam trong những chặng đờng tiếp theo.
Từ những lý do trên, nhận thấy tầm quan trọng và cấp bách của vấn
đề trong khuôn khổ của bài tập lớn môn học, tôi muốn đi sâu, tìm hiểu một
khía cạnh trong vấn đề lạm phát ở Việt Nam với đề tài:Lạm phát và mối
quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế.
1
Phần 1: Lý luận chung về lạm phát.
1. Khái niệm
Lạm phát gần nh là một bệnh kinh niên trong nền sản xuất hàng hoá.
Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ này. Nh-
ng nói chung cha có một sự thống nhất hoàn toàn.
Biểu hiện của sự lạm phát đó là sự tăng giá của các loại hàng hoá (cả
t liệu tiêu dùng lẫn t liệu sản xuất, cả hàng hoá sức lao động). Lạm phát xảy
ra khi mức chung của giá cả và các loai chi phí sản xuất tăng lên.
Lạm phát đã tồn tại lâu đời trong nền kinh tế thị trờng. Trong thời kỳ
lạm phát giá cả tăng lên mọt cách vững chắc bên cạnh đó tiền lơng thực tế
cũng có xu hớng tăng lên (gía cả sức lao động). Tuy nhiên thu nhập thực tế
của ngời lao động nói chung có lức thì tăng tơng ứng với lạm phát, nhng có
lúc suy giảm nghiêm trọng. Nhng không phải lúc nào cũng suy giảm.

không thích tích luỹ tiền theo
hình thức mua tín phiếu nữa. Ngời ta tích trữ vàng và ngoại tệ.
Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng.
Trong điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế, vàng và ngoại tệ mạnh đợc
coi nh là tiền chuẩn để đo lờng sự mất giá của tiền quốc gia. Đồng tiền càng
giảm giá so với vàng và USD bao nhiêu nó lại tác động nâng giá hàng hoá
lên cao bấy nhiêu. ở đâu ngời ta bán hàng dựa trên cơ sở qui đổi giá vàng
hoặc ngoại tệ mạnh để bán mà không căn cứ vào tiền quốc gia nữa (tiền
giấy do Ngân hàng Nhà nớc phát hành)
Trong điều kiện hệ thống ngân hàng đựoc mở rộng, lạm phát còn thể
hiện ở chỗ khối lợng tiền ghi sổ tăng vọt nhanh chóng, bên cạnh khối lợng
tiền giấy phát ra trong lu thông. Nhng điều cần chú ý là khi khối lợng tiền
ghi sổ tăng lên có nghĩa là khối lợng tín dụng tăng lên, nó có tác động lớn
đến sự tăng trởng của nền kinh tế. Nh vậy lạm phát trong điều kiện hiện đại
còn có nghĩa là sự gia tăng các phơng tiện chi trả trong đó có khối lợng tín
3
dụng ngắn hạn gia tăng nhanh chóng.
Lạm phát trong điều kiện hiên đại còn là chính sách của Nhà nớc
nhằm kích thích sản xuất, chống lại nạn thất nghiệp, bù đắp các chi phí
thiếu hụt của ngân sách, lạm phát đôi khi đợc những kẻ bóc lột lợi dụng để
bóc lột nhiều hơn nữa những ngời làm công ăn lơng. Điều dễ dàng thấy
nhất là khi lạm phát gia tăng, gía cả hàng hoá tăng nhanh hơn gia tăng tiền
lơng vì vậy mà các t bản dễ dàng kiếm đợc lợi lộc do bán hàng. Đặc biệt để
chạy đua vũ trang. Bù đắp chi phí quân sự thì các tổ hợp công nghiệp sản
xuất vũ khí là có lợi nhiều nhất. Tuy nhiên không nhất thiết là lạm phát phải
có lợi duy nhất cho những ngời bóc lột, và đôi khi nó lại là chính sách kích
thích sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối lợng tiền trong lu
thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất, kích thích sự tiêu dùng
của Chính phủ và nhân dân. Vìvậynó kích thích sự phát triển kinh tế của đất
nớc.

duy trì đợc trong một thời gian dài với công ăn viêc làm đầy đủ cho mọi ng-
ời, gía cả ổn định và có một thị trờng hoàn toàn tự do.
Trong điều kiện hiện nay, xu hớng tăng gía cả các loại hàng hoá và
5
P Q
S
D
D
P e
D
1
P E
D
1
S
Sản lợng tiềm năng Q
tiền lơng công nhân luôn luôn diễn ra trớc khi nền kinh tế đạt đợc một khối
lợng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã
đẩy gía cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất cha đợc sử dụng đầy
đủ, lạm phát xẩy ra.
Lạm phát nh vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất.
Vấn đề tại sao chi phí lại tăng lên? nhiều nhà kinh tế cho rằng tăng
tiền lơng là một nguyên nhân đẩy chi phí tăng lên. Một số nhà kinh tế t bản
cho rằng việc đẩy chi phí tiền lơng tăng lên là do công đoàn gây sức ép.
Tuy nhiên một số nhà kinh tế khác cho rằng chính công đoàn ở nớc t bản
đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tốc đoọ tăng của lạm phát
và giữ không cho lạm phát giảm xuống quá nhanh khi nó giảm (A). Vì các
hợp đồng lơng của các công đoàn thuờng là dài hạn và khó thay đổi.
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lơng
nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng

cho gía cả tăng lên.
4.3. Lạm phát ỳ
Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế t bản, là lạm phát
chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những
nớc có lạm phát ỳ xẩy ra, có nghĩa là nền kinh tế ở nớc đó có một sự cân
bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ đợc trông đợi và dợc đa vào các hợp
đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó đợc Ngân hàng
Trung ơng, chính sách tài chính của Nhà nớc, giới t bản và cả giới lao động
thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu
hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh
tế xảy ra (tỷ lệ ỳ tăng hoặc giảm). Nếu nh không có sự chấn động nào về
cung hoặc cầu thì lạm phát có xu hớng tiếp tục theo tỷ lệ cũ.
7
(Hình 3)
Bằng hình ảnh trên đồ thị, chúng ta giả sử rằng sự tăng trởng củatỏng
sản phẩm quốc dân là không có. Thì khi lạm phát tăng với tỷ lệ hàng năm là
7% thì chi phí trung bình cũng tăng lên 7%. Chi phí tăng lên đẩy đến đờng
cung tăng lên dẫn đến gía cả và tiền lơng tăng lên theo vòng xoáy trôn ốc
Lạm phát ỳ dẫn tới gía cả tăng lên hàng năm với một tốc độ nh cũ
(0,7%). Đờng cong DD và SS cùng dịch chuyển lên trên với một tốc độ
giống nhau hàng năm và kinh tế vĩ mô nhận những điểm cân bằng mới là E
rồi EE, EE
4.4. Lạm phát cầu kéo:
Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức
sản lợng đã đạt hoặc vợt quá tiềm năng. Khi xảy ra lạm phát cầu kéo ng-
ời ta thờng nhận thấy lợng tiền không lu thông và khối lợng tín dụng tăng
đáng kể và vợt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa. Bản
chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lợng
cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất đợc trong điều kiện thị trờng
8

cung di chuyển vào đến AS2, đa nền kinh tế từ điểm 1 sang điểm 2. Nền
kinh tế lại sẽ tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên 6% nhng ở mức giá cả P2 cao
hơn. Do thất nghiệp lại cao hơn mức chỉ tiêu, các nhà hoạch định chính
9
P1
P2
P3
P4
1
2
3
4
Tổng sản phẩm YYn
AD1 AD2 AD3 AD4
AS4
AS3
AS2
AS1
Y
1
2
3
Tổng mức
giá cả
sách sẽ di chuyển đờng tổng cầu đến AD3 để đạt chỉ tiêu sản phẩm đến
điểm 2, toàn bộ quá trính ẽ tiếp tục đẩy nền kinh tế đến điểm 3 và xa
hơn. Kết quả là mức giá cả tăng đều dần và lạm phát. Các nhà hoạch định
chính sách không thể tiếp tục di chuyển đờng tổng cầu thông qua chính
sách tài chính do những giới hạn trong việc chi tiêu của chính phủ và
giảm thuế. Do đó họ phải áp dụng chính sách tiền tệ bành trớng, do đó

ngăn chặn lãi suất cao. Khi chính phủ phát hành trái khoán để tài trợ
thâm hụt có thể gây nên áp lực với lãi suất. Khi đó Fed có thể mua trái
khoán để nâng giá trái khoán và ngăn chặn lãi suất tăng, kết quả là cung
tiền tăng lên và gây phát sinh lạm phát.
11
P4
P3
P2
P1
1
2
3
4
1
2
3
AD1
AD2
AD3
AD4
AS4
AS3
AS2
AS1
Tổng sản phẩm Y
Y
Yn
Tổng mức
giá cả
Phần II. Lạm phát với tăng trởng kinh tế

Tốc độ
tăng
GDP (%)
Tốc độ
tăng
tiêu
dùng (%)
Tỷ lệ
tích
lũy/GDP
(%)
Tỷ lệ để
dành/GD
P (%)
1989
1990
1991
1992
1993
95
98
109
131
163
8,0
5,1
6,0
8,6
8,1
8,1

làm ăn thu lỗ đã giảm hơn, tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế nhà nớc
không ngừng đợc nâng cao.
Mức độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong năm qua có đợc
là nhờ kinh tế tăng trởng cao trong khi lạm phát bị đẩy lùi và bị khống
chế ở mức hợp lý. Điều này trái ngợc hẳn với một số quốc gia khi chống
lạm phát thờng làm kinh tế suy thoái.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc cũng nảy sinh nhiều khó khăn
mới:
- Lạm phát giảm trong điều kiện nhập siêu vốn nớc ngoài (chủ yếu
là vay nợ) đã làm cho đồng tiền Việt Nam có xu hớng lên giá so với một
số đồng tiền khác, ảnh hởng bất lợi đến việc khuyến khích đẩy mạnh
xuất khẩu, thu hút vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài trong khi đó sản xuất
trong nớc bị chèn ép, cạnh tranh mảnh bời hàng nhập đặc biệt là hàng
nhập lậu. Năm 1992 tỷ lệ hàng tích lũy phải nhập lên tới 63,7%, tỷ lệ sản
phẩm trung gian dùng trong sản xuất phải nhập lên tới 25%. Cán cân th-
ơng mại do đó tiếp tục thâm hụt trong điều kiện đó việc tăng trởng kinh
tế cao hơn sẽ kích thích lạm phát gia tăng, gây khó khăn cho việc duy trì
thành quả đạt đợc. Do đó giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lạm phát
và tăng trởng kinh tế phải đợc tiếp tục. Năm 1994, mức lạm phát do quốc
hội thông qua là 10% nhng do một số nguyên nhân khách quan nh giá cả
thị trờng thế giới tăng ảnh hởng đến trong nớc, thiên tai, bội chi ngân
14
sách đã khiến lạm phát vợt mức dự kiến 14,4%. Pphân tích đã chỉ ra
rằng năm 1994 lạm phát tăng chủ yếu thuộc về khâu cung ứng hàng hóa,
trong đó lơng thực chiếm phần quan trọng. Trong một thời gian dài giá l-
ơng thực đã đứng mở mức thấp so với giá cả các mặt hàng khác nên gía
lơng thực tăng lên ở chừng mực nhất định là hợp lý và phản ánh đúng
thực tế.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi gắn với
nhiều bất ổn nên mức lạm phát có thể vợt quá so với mức dự kiến hàng

qua chỉ số giá âm ở một vài tháng trong các năm 1996, 1997 và 1999.
Tuy nhiên xét về chung và dài hạn, tuy tốc độ tăng trởng có giảm sút
song nền kinh tế nớc ta vẫn chủ yếu ở xu hớng lạm phát với mức độ vừa
phải, bình quân 6%/năm kể từ 1995-1999.
Năm Tăng trởng
(GDP %)
Lạm phát (CPI)
(%).
1995 9,5 12,7
1996 9,3 4,5
1997 8,2 3,7
1998 5,8 9,2
1999 4,8 0,1
2. Vấn đề mới nảy sinh: Giảm phát và ảnh hởng của nó đối với
tăng trởng kinh tế:
2.1. Thực trạng vấn đề giảm phát:
16
Một điều có vẻ không bình thờng là trong khi đang là giai đoạn phục
hồi của các nền kinh tế bị khủng hoảng nặng ở Châu á thì kinh tế Việt Nam
lại đang trên đà đi xuống. Việc đi xuống này rất khó hãm lại và việc đa nền
kinh tế trở lại mức tăng trởng dù chỉ ở mức trên dới 6% đã rất khó khăn.
Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 1999 chỉ đạt 4,3 % trong khi chỉ số giá
giảm liên tục. Mức lạm phát 9 tháng chỉ là 0,2% trong 6 tháng đầu năm
1999, trừ 2 tháng 1 và 2 là hai tháng giáp tết, giá cả diễn biến hợp quy luật,
4 tháng còn lại chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tiếp mang dấu âm.
Tháng 1: 1,7% Tháng 4: -0,6%
Tháng 2: 1,9%; Tháng 5: - 0,4%
Tháng 3: - 0,7%; Tháng 6: -0,3%
Mức lạm phát 6 tháng đầu năm 1999 là 1,6% thấp hơn nhiều cùng
kỳ năm 1998 (6%). Giảm phát xuất hiện đã gây thêm khó khăn cho nền

đọng từ năm 1988 thì sang 1999 duy trì mức tăng trởng thuộc loaị cao
nhất, làm cho cung cầu thị trờng đối với chúng trở nên gay gắt hơn. Hầu
hết những doanh nghiệp chịu hậu quả nặng nề nhất thuộc khu vực kinh tế
nhà nớc. Hiện tợng thừa cung trong lĩnh vực dịch vụ là hậu quả trực
tiếp của tình trạng thiếu cầu do mức thu nhập dân c trong nớc giảm và
do tác động của khủng hoảng. Nh vậy nguyên nhân ách tắc thị trờng năm
1999 là do sự mất cân đối mang tính cơ cấu, chiến lợc đầu t không phù
hợp, phản ứng chính sách cha kịp thời vẫn tiếp tục duy trì mức đầu t, tăng
trởng cao cho những sản phẩm khó tiêu thụ, làm gia tăng thêm tình trạng
mất cân đối cung cầu.
18
Ngoài ra cũng có những nguyên nhân bên ngoài nh xu hớng giảm
giá toàn cầu trong đó có giá các sản phẩm xuất khẩu và thay thế nhập
khẩu chủ yếu của Việt Nam là một trong những nguyên nhân chủ yếu
gây nên tình trạng giảm phát của nớc ta trong năm 1999.
b. Các nguyên nhân về phía cầu:
Tổng cầu suy giảm là nguyên nhân làm tăng thêm tình trạng mất
cân đối thị trờng. Nó bắt nguồn từ một số lý do.
Thứ nhất: số lao động thất nghiệp, thiếu việc làm tăng nhanh là
yếu tố quan trọng hàng đầu làm giảm thu nhập dân c đặc biệt là trong
ngành than (8 vạn lao động không đủ việc làm) và ngành mía đờng (40
vạn lao động bị ảnh hởng về việc làm và thu nhập).
Thứ hai: mức giá nông sản nội địa giảm nhanh hơn mức tăng sản l-
ợng làm chi phí sản xuất của nông dân tăng nhanh hơn thu nhập. Cả tổng
thu nhập và hiệu quả hoạt động trong nông dân đều giảm.
Thứ ba: sự giảm sút thu nhập làm cho việc chi tiêu của dân c có xu
hớng tăng tỷ phần chi tiêu vào các mặt hàng tiêu dùng tối thiểu với giá
rẻ, chất lợng phải chăng làm giảm sức mua đối với các sản phẩm cao cấp
hoặc mang tính đầu t, mua hàng nhập lậu tăng.
Thứ t: trong điều kiện thu nhập giảm ngời dân vẫn gửi tiền tiết

Về phía các doanh nghiệp đa số doanh nghiệp đang thực sự thiếu
cơ hội đầu t hơn là thiếu vốn. Sự ách tắc thị trờng đã đến mức làm triệt
tiêu đáng kể cơ hội và mong muốn gia tăng đầu t để thoát khỏi tình thế
20
bế tắc trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Nh vậy điều cần suy nghĩ
là giảm lãi suất có phải là một công cụ mạnh để tăng cơ hội đầu t của
doanh nghiệp hay không. Việc ngân hàng hạ lãi suất trần 4 lần song kết
quả vẫn cha thu đợc là bao chứng tỏ nguyên nhân không phải ở lĩnh vực
tiền tệ, do đó công cụ lãi suất hoạt động không có hiệu quả.
Về phía các ngân hàng, một mặt gánh nặng nợ quá hạn đã đạt đến
con số khổng lồ làm các ngân hàng phải chịu rủi ro rất lớn do không thu
hồi đợc vốn (chơng trình mía đờng nợ 4500 tỷ đồng, ngành xi măng và
cao su mỗi ngành nợ 3000 tỷ đồng, chơng trình nhà ở đồng bằng sông
Cửu Long, chơng trình khắc phục hậu quả cơn bão số 5 nợ hơn 4000
tỷ ). Mặt khác dờng nh các ngân hàng đang lâm vào tình trạng bội thực
về vốn: huy động vốn tiết kiệm nhiều nhng ngân hàng lại không thể cho
vay (vì nhiều doanh nghiệp không dám) và không dám cho vay (vì rất
nhiều doanh nghiệp muốn vay là doanh nghiệp thua lỗ và có nguy cơ phá
sản). Tình hình kinh tế đã trở nên trì trệ đến mức giảm lãi suất hầu nh
không có tác dụng kích thích đầu t. Tuy nhiên nguyên nhân sâu sa của
vấn đề lại là tình trạng cơ cấu bởi đối tợng cho vay chính của các ngân
hàng hiện nay vẫn là các doanh nghiệp nhà nớc, nhiều trờng hợp đợc vay
theo chỉ định. Vì vậy hạ lãi suất không chỉ nhằm mục tiêu kích cầu mà
còn chủ yếu nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động kém hiệu quả.
Việc giảm lãi suất nhằm vào những mục tiêu không hoàn toàn
đồng hớng với nhau vì thế tạo ra xu hớng triệt tiêu tác dụng, làm cho
công cụ phát huy đợc hiệu quả thậm chí còn tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn
định.
Trên thực tế kết quả của công việc này cũng cho thấy tuyệt đại bộ

thậm chí là nguyên nhân đa đến khủng hoảng. Bởi vậy bất cứ giải pháp
nào có lợi cho tăng trởng kinh tế cũng cần phải đi kèm với những giải
pháp nhằm tránh những cú sốc do kích thích mạnh lạm phát thái quá gây
bất lợi cho nền kinh tế. Tuy vậy cũng cần tránh những biện pháp cứng
nhắc tuy có thể kiềm chế đợc lạm phát nhng lại làm chậm đà phát triển
kinh tế. Hiểu rõ và giải quyết đợc tốt vấn đề này sẽ góp phần không nhỏ
cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở nớc ta.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình KTVM - DHKTQD
23
2. T¹p chÝ tµi chÝnh
3. T¹p chÝ ng©n hµng
4. T¹p chÝ ThÞ trêng tµi chÝnh tiÒn tÖ
5. T¹p chÝ Chøng kho¸n ViÖt Nam
6. T¹p chÝ Th«ng tin tµi chÝnh
7. T¹p chÝ Ph¸t triÓn kinh tÕ.
24
Mục lục
Lời nói đầu 1
Phần 1: Lý luận chung về lạm phát 2
1. Khái niệm 2
2. Phân loai lạm phát 2
2.1. Lạm phát vừa phải 2
2.2. Lạm phát phi mã 2
2.3. Siêu lạm phát 3
3. Sự phát triển của khái niệm lạm phát trong điều kiện hiện đại 3
4. Nguyên nhân của lạm phát trong điều kiện hiên đại 4
4.1. Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách 4
4.2. Lạm phát do nguyên nhân chi phí 5
4.3. Lạm phát ỳ 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status