1
TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề thi các năm và đáp án
1. Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ
mô của chính phủ. Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
2. Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của
khu vực tư. Nêu các giải pháp khắc phục hiện tượng này.
3. Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.
4. Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các
giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.
5. Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui
định” (Regulations)?
Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính
quá lỗi thời. Nhận định này đúng hay sai? Giải thích?
6. Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các
trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”…
Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải
pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh?
7. Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát.
Liên hệ thực tiển của Việt Nam trong thời gian qua.
8. Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và
khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới.
9. Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.
10. - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung.
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung.
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean.
2
11. - Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Câu hỏi sưu tầm của các lớp và gợi ý của cô:
nhau ở chỗ nào?
26.Nghiên cứu quá trình CPH DN ở VN, khi NN chuyển nhượng DNNN từ một sở hữu thành đa
sở hữu, VN có xảy ra trường hợp các DN đó thu được tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị
thực tế của DN hoặc ngược lại hay không?
27.Tại sao nói CPH DNNN là việc thực hiện phân phối lại thu nhập của xã hội, tạo điều kiện cho
người thu nhập thấp và nghèo nâng cao thu nhập?
28.Thị trường CK nên hình thành trước hoặc sau quá trình CPH thì việc CPH sẽ có hiệu quả?
29.Đấu giá công khai và bán qua đấu thầu khác nhau những điểm nào?
30.TC công và TCNN giống và khác nhau điểm nào?
31.TC công bao gồm những bộ phận nào?
32.Đánh giá sự phát triển của HTTC và liên hệ thực tiễn VN?
33.Các nhân tố kinh tế nào mà lãi suất chịu ảnh hưởng và chính những nhân tố này ảnh hưởng
đến sự phát triển của kinh tế?
34.Lãi suất biến động có tác động đến cung cầu tín dụng không?
35.Liên hệ việc điều hành lãi suất VN năm 2010. Việc áp dụng lãi suất thoả thuận có phải là một
bước tiến bộ hay không?
4
36.Các biện pháp nào NHTW sử dụng để can thiệp vào TGHĐ?
37.Liên hệ việc điều hành tỷ giá năm 2010 ở VN?
38.Việc điều chỉnh TGHĐ có những mặt tích cực và tiêu cực như thế nào?
39.Với môi trường kinh tế vĩ mô ở VN không ổn định: lãi suất tăng cao, giá cả hàng hoá tăng
cao…thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của NH ở những khía cạnh và nghiệp vụ nào? Có gây
ra căng thẳng TC cho NH không?
40.Nợ chính phủ của Hy Lạp (diễn biến, nguyên nhân, những hậu quả cho nền kinh tế, tầng lớp
dân cư, và các nước cho vay, từng bước khắc phục như thế nào?) (cô yêu cầu nghiên cứu
thêm)
41.Ở VN có xảy ra khủng hoảng TCTT hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Để ngăn
ngừa hay giải quyết khủng hoảng TCTT, nhà nước ta cần phải dùng những biện pháp gì?
42.Ở VN có xảy ra khủng hoảng TTCK hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Nêu
những biện pháp để ngăn ngừa hoặc giải quyết?
hợp không tương đồng thì khác nhau ở điểm nào?
62.Tái cấu trúc khu vực kinh tế NN được biểu hiện trên những nội dung nào?
63.Cơ chế TC và quản lý TC trong tập đoàn kinh tế VN?
64.Nếu quá trình CPH và hình thành TTCK được thực hiện song song với nhau thì có tạo thuận
lợi cho việc CPH hay không?
65.Trong điều kiện VN lạm phát cao, mục tiêu chống lạm phát hàng đầu, kế đến là tăng trưởng
kinh tế, để thực hiện việc chống lạm phát, NN sử dụng chính sách thắt chặt TC và tiện tệ,
việc làm này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTCK? Việc thực hiện các chính sách nêu trên sẽ
6
có độ trễ của nó, độ trễ của việc thực hiện các chính sách trên sẽ ảnh hưởng như tế nào đến
TTCK?
66.TGHĐ và lãi suất ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát?
67.Những biện pháp can thiệp vào TGHĐ? Trong đó biện pháp cuối cùng là gì (phá giá tiền tệ)?
68.Các biện pháp can thiệp của NN vào TT ngoại hối (NHTW can thiệp như thế nào)?
69.Cải cách khu vực kinh tế nhà nước: thị trường chưng khoán có cần đi trước một bước 1
bước?
70.Nguyên nhân cổ phần DNNN ở các nước rất nhanh nhưng VN chậm?
71.Nếu NN bán giá thấp hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Tiêu cực là gì?
72.Nếu NN bán giá cao hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Có lợi là gì?
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ
mô của chính phủ. Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp thành hệ thống chính sách quan trọng trong
việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, các công cụ của hai chính sách này vừa có tính độc lập, nhưng vừa
có tính tương tác, hỗ trợ nhau trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sự phối hợp tốt, nhịp nhàng
hoạt động của hai chính sách này sẽ giúp chính phủ điều hành đạt được hai mục tiêu quan trọng của
kinh tế vĩ mô là tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; nhưng ngược lại, sự phối hợp không nhịp nhàng,
không gắn kết sẽ làm giảm hiệu quả điều hành chính sách và thậm chí có thể làm trầm trọng, làm
cho kinh tế vĩ mô bất ổn. Vì vậy, tìm ra cơ chế phối hợp giữa hai chính sách này luôn được chính
phủ, các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Bài viết này đề cập tới một số vấn đề phối hợp giữa
hai chính sách trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra một số đề xuất
hành chính trong giai đoạn chống suy giảm kinh tế dần dần được dỡ bỏ, các công cụ thị trường đang
dần tái sử dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hồi phục và phát triển sau tác động của khủng
hoảng kinh tế và tài chính trên thế giới. Có được kết quả trên, nhờ vào việc chỉ đạo quyết liệt, cùng
với phương pháp điều hành chính sách vĩ mô nhanh nhạy, linh hoạt và thận trọng của Chính phủ,
8
trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - tài chính đóng vai trò quan trọng có quyết định
tới ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.
Thế nhưng, trong năm 2010, mặc dù đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP, song lạm phát đã
vượt mục tiêu gần 2 điểm phần trăm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả không mong muốn
này, trong đó sự phối hợp chưa thực sự nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
cũng đã ảnh hưởng tới kết quả kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua. Sự phối hợp
chưa nhịp nhàng giữa hai chính sách vĩ mô quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kiểm
soát lạm phát trong ngắn hạn là do:
Thứ nhất: Chủ trương duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, đặc biệt ngay cả trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới đã đè nặng lên chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở
Việt Nam. Với mô hình tăng trưởng chủ yếu nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà
nước hiện tại hoạt động kém hiệu quả làm chủ đạo và nhờ vào việc bán tài nguyên, gia công trình độ
thấp dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Điều này được minh chứng qua số đơn vị cần thiết để tạo ra
một điểm phần trăm tăng trưởng GDP (hệ số ICOR) vào khoảng 6 trong những năm gần đây, dẫn
đến quyết định logic về chính sách là để tăng trưởng cao cần gia tăng đầu tư.
Thứ hai: Kết cục của mô hình tăng trưởng này dẫn đến Chính phủ phải thực thi chính sách tài
khóa mở rộng, chấp nhận thâm hụt ngân sách (5,8%) và phát hành trái phiếu để bù đắp cho nhu cầu
đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Tổng mức đầu tư ban đầu của các dự án, công trình thuộc danh mục
đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ đồng. Hầu hết các dự
án đều có điều chỉnh tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu. Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu
tư lên 3 - 4 lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua
tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa phương đã
lên tới 558.654 tỷ đồng (tăng 226%). Uỷ ban Tài chính - Ngân sách cho rằng, tổng mức đầu tư các
công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao so với khả năng cân đối của ngân sách,
ảnh hưởng đến khả năng vay và trả nợ”
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn với chi phí thấp thì để huy động vốn cho gia tăng đầu tư
công, Chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất ở một số thời điểm lên
tới 11 - 12%/năm, cao hơn lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, sau một thời gian, mức
lãi suất huy động trái phiếu đã giảm xuống 9,6% năm, nhưng vẫn cao hơn so với mức rủi ro của
công cụ tài chính này. Các ngân hàng thương mại với động cơ tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi
ro, họ đã sử dụng vốn huy động được trên thị trường mua trái phiếu chính phủ hấp dẫn hơn là cho
các doanh nghiệp vay và mức lãi suất này vô hình trung đã đẩy mức lãi suất huy động trên thị
trường lên cao. Đây là một biểu hiện của sự chưa ăn khớp giữa vận hành của chính sách tài khóa với
chính sách tiền tệ trong thời gian qua.
Thứ sáu: Sự thiếu phối hợp, trao đổi thông tin trong điều hành chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa cũng đã ảnh hưởng tới việc điều hành của chính sách sách tiền tệ về ngắn hạn. Điều
hành chính sách tiền tệ đòi hỏi có hệ thống thông tin tài chính đầy đủ, cập nhật và chính xác, thế
nhưng trong một số trường hợp các thông tin, báo cáo về các vấn đề tài chính công, đặc biệt chi tiêu
và đầu tư công lệch pha về thời gian với yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ.
10
Gần đây nhất, ngày 24/2/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định 11 đề ra chính sách tài khóa
và tiền tệ để đối phó với tình hình lạm phát đang gia tăng hiện nay:
(xem file đính kèm)
Câu 2
Phân tích hiện tượng “chèn lấn” các khoản vay của CP đối với đầu tư tư nhân:
Trong kinh tế học, hiện tượng chèn lấn (đầu tư) xảy ra khi chính phủ mở rộng việc vay mượn
để tài trợ chi tiêu hoặc để bù đắp việc cắt giảm thuế vượt doanh thu (tức là có hiện tượng thâm hụt
chi tiêu), dẫn tới mức lãi suất cao hơn, và kết quả là làm đầu tư ở khu vực tư nhân bị sụt giảm.
Về nguyên tắc, tháo lui đầu tư, có thể tránh được nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng
phát hành tiền, nhưng biện pháp này lại nhanh chóng dẫn tới lạm phát tăng cao như đã xảy ra ở Đức
trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, hoặc ở Brazil trước khi đồng
Real ra đời.
- Thoái lui cũng có thể xảy ra do chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi. Vay mượn chính phủ dẫn tới lãi
suất cao làm các dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước (tức là tiền nước ngoài tập trung vào
những tài sản phát hành bằng nội tệ). Dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, việc lưu chuyển dòng vốn
trạng thâm hụt ngân sách vẫn cứ tiếp diễn năm này qua tháng khác là một minh chứng cho vấn đề
này. Khi chi tiêu chính phủ tăng lên sẽ đóng góp chủ động làm tăng tổng cầu, từ đó cũng làm tăng
cầu tiền tệ. Cầu tiền tệ tăng lên, tất yếu tạo áp lực tăng lãi suất, trừ khi cung tiền cũng tăng theo. Khi
đó, khu vực tư nhân buộc phải cắt giảm bớt đầu tư và nhập siêu cũng phải tăng lên để phản ứng bị
động trước sự gia tăng của tổng cầu do chi tiêu ngân sách chèn lấn.
Như vậy khu vực tư nhân phải chịu hy sinh cho sự bành trướng của chính sách tài khoá và nền
kinh tế phải gánh chịu những hậu quả của tình trạng thâm hụt kép từ cán cân ngân sách và cán cân
thương mại. Không những chỉ có áp lực về lạm phát và lãi suất mà hệ quả của nó còn là các căng
thẳng ngoại tệ, áp lực tỷ giá và sự suy giảm dự trữ ngoại hối quốc gia.
Sử dụng vốn nhà nước không hiệu quả
Nhìn ở khía cạnh năng suất, vấn đề không chỉ là thâm hụt ngân sách và sự chèn lấn đầu tư khu
vực tư nhân. Nguồn lực cho chi tiêu và đầu tư của xã hội luôn có giới hạn nên cần phải chuyển giao
cho chủ thể nào có khả năng sử dụng nguồn lực đó một cách tốt nhất. Các giới chức lãnh đạo cũng
hiểu như vậy nhưng những gì đang diễn ra thì khác. Một nguồn lực lớn được tập trung vào ngân
sách nhà nước nhưng lại được sử dụng quá lãng phí và không hiệu quả. Một phần nguồn lực đó
được dùng để chi cho một bộ máy quản lý hành chính quá cồng kềnh, lại đang ngày càng phình to
hơn nhưng vận hành thiếu hiệu quả, không đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình cải cách hiện nay.
12
Trong khi phần còn lại được phân bổ cho các dự án đầu tư công cũng không có hiệu quả hoặc
nếu có thì tỷ suất sinh lợi quá thấp, thấp hơn nhiều so với khu vực tư nhân và bình quân nền kinh tế;
lại còn phân bổ dàn trải, không có cơ chế giám sát đi kèm, gây thất thoát và lãng phí quá mức. Điều
này được minh chứng qua hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước trong hơn 10 năm qua luôn cao
hơn khoảng hai lần so với khu vực tư nhân. Chẳng hạn, nếu tính theo vốn đầu tư thực hiện, hệ số
ICOR bình quân 10 năm qua của khu vực kinh tế nhà nước lên đến gần 7,8, trong khi khu vực tư
nhân chỉ khoảng 3,5.
Như vậy, khu vực kinh tế nhà nước phải bỏ thêm khoảng 4,3 đồng vốn so với khu vực tư nhân
cũng chỉ để làm gia tăng thêm một đồng tăng trưởng. Nếu chuyển 7,8 đồng vốn tăng thêm cho đầu
tư của khu vực nhà nước sang cho khu vực tư nhân sử dụng thì có thể nền kinh tế đã làm gia tăng
thêm 2 đồng cho tăng trưởng.
Nhìn ở một góc độ khác, 4,3 đồng vốn tăng hơn so với khu vực tư nhân đã được khu vực kinh
cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN công bố lãi
suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các
NHTM cổ phần tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
1.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực
tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức
cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới
14
- Kế toán - kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế toán,
kiểm toán ở VN vẫn chưa đạt đến qui mô mà tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi.
1.3 Điều hành tỷ giá hối đoái
Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Giá trị đồng VN đã
bị đánh giá quá cao so với ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa
VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó
điều hành chính sách tiền tệ.
1.4 Hệ thống ngân hàng
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ thống ngân hàng
VN tiến gần hơn đến điều kiện đủ cho thành công của tự do hóa tài chính. Tuy nhiên, hệ thống ngân
hàng VN còn nhiều yếu kém trên các mặt
a. Quản lý yếu kém
Vấn đề điều hành, quản lý hoạt động ngân hàng từ NHNN đến các NHTM chiếm vị trí quan trọng
trong việc quyết định hoạt động hiệu quả và tính lành mạnh của hệ thống, nhất là đối với NHTM
trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường và chấp nhận cơ chế kinh doanh bình đẳng.
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được chú ý đúng mức ở các NHTM, trong một số ngân
hàng, bộ phận kiểm soát nội bộ tồn tại mang tính hình thức, không phát hiện được những sai sót của
bộ phận điều hành hoặc nếu có phát hiện ra thì cũng không xử lý được. Đây là vấn đề mà hệ thống
ngân hàng VN cần có biện pháp khắc phục vì nó liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng, nhất là trong vấn đề quản lý lãi suất của hoạt động tín dụng.
b. Tính cạnh tranh thấp
Hiện nay, NHTMQD vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng mà khách hàng của khu
hiện lãi suất mình đã công bố. Vì vậy, muốn hình thành lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc
điều tiết lãi suất thị trường theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị trường này của
NHNN là vấn đề quan trọng.
b. Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị
trường tiền tệ cũng như định hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và
nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa
16
chữa hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, quan trọng
nhất là khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng
vốn, đủ sức điều chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện
phát triển của thị trường mở cũng như yêu cầu hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập,
xử lý thông tin và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sao cho hoạt động trên thị trường tiền tệ
không vượt quá tầm kiểm soát của NHNN và đi đúng mục đích của chính sách tài chính tiền tệ.
2.2 Cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng trong điều kiện hội
nhập và quốc tế hóa ngày nay, xu hướng tiến tới tự do hóa tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các
quốc gia theo đuổi. Xét trên bình diện quản lý vĩ mô thì NHNN VN đang thực hiện chế độ tỷ giá
linh hoạt, có sự kiểm soát của Nhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của Nhà nước
trong điều kiện quá trình hội nhập của VN với thế giới còn nhiều cách biệt. Nếu lựa chọn chế độ tỷ
giá thả nổi tự do thì điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng ta chưa cho phép, còn
nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu “an toàn” thì không thể tránh khỏi những áp đặt
mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều mà chúng ta đang cố gắng thay đổi để thích ứng dần
với việc điều hành nền kinh tế theo các qui luật phát triển. Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu
đối với Nhà nước trong việc lựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với
hội nhập và tạo động lực phát triển kinh tế.
2.2.1 Xác định đúng giá trị của đồng VN
Từ lâu đồng tiền VN (VND) đã có quan hệ tỷ giá chính thức với đồng đôla Mỹ (USD), để ấn định
tỷ giá này, NHNN căn cứ vào tỷ giá của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để công bố tỷ giá hàng
ngày, đây cũng là cơ sở pháp lý để các TCTD đưa ra mức tỷ giá cụ thể trong giao dịch với khách
tránh sự can thiệp của chính quyền các cấp.
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện các khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho hoạt động của
các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ VN.
- Xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các NHTM, đặc biệt là đối với các NHTM quốc doanh, buộc các
ngân hàng này phải thực sự hoạt động theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ dần cơ chế tín dụng chỉ
định, giao nghiệp vụ tín dụng ưu đãi theo chính sách của nhà nước cho các ngân hàng chính sách.
18
- Lãi suất và tỷ giá hối đoái được thỏa thuận theo quan hệ cung cầu trên thị trường, thực hiện kiểm
soát gián tiếp thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn
và hiệu quả, dễ giám sát theo thông lệ quốc tế.
- Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
nước cũng như nước ngoài . . .áp dụng linh hoạt các công cụ dự trữ bắt buộc, cho vay tái chiết khấu
và nghiệp vụ thị trường mở.
3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Yêu cầu đối với các NHTM là :
- Các ngân hàng phải có qui mô đủ lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.
- Phân bổ và huy động vốn một cách có hiệu quả.
- Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM trên cơ sở cơ cấu lại tài chính bao
gồm : xử lý nợ quá hạn, đẩy mạnh tái đầu tư và cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng vốn điều lệ.
- Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm tra kiểm soát nội bộ theo
thông lệ quốc tế.
- Tạo sức cạnh tranh, mở rộng thị phần trong nước và tranh thủ thời cơ mở thị trường kinh doanh ra
nước ngoài.
2.4 Tiến hành cổ phần hóa NHTMQD
Tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và lành mạnh hóa tài chính quốc gia đòi hỏi phải thực hiện
nhiều giải pháp đồng bộ, các giải pháp lớn cần tiến hành như : xử lý nợ đọng, tăng vốn điều lệ của
hệ thống ngân hàng rất cần sự trợ giúp của Chính phủ và các cơ quan chức năng, tuy nhiên, để hệ
thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định, đủ sức cạnh tranh trong môi trường mở cửa,
rộng ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh
nghiệp tập trung hóa.
- Tài nguyên: Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút
đầu tư nước ngoài.
- Nguồn nhân lực:
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các chủ đầu tư sẽ
nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này. Thông thường
nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty.
20
Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, nhiều kinh nghiệm, những cán bộ quản lý
giỏi cũng là nguồn lực hấp dẫn các nhà đầu tư.
Văn hóa, thái độ, tác phong làm việc của người lao động là những yếu tố quan trọng trong
việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư.
c/ Cơ sở hạ tầng:
Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan
trọng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào một nước hoặc một địa phương. Một hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới
cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong muốn đối với
mọi nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó còn phải kể đến các
dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại,
quảng cáo, kỹ thuật, v.v )Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng
sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương,
sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy để các công ty nước ngoài
có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rấtquan trọng cần phải được xem xét đến.
d/ Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt
khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư nước ngoài. Những bất ổn định kinh tế chính trị sẽ ảnh hưởng tiêu
cực đến tâm lý nhà đầu tư, nó không chỉ làm cho dòng vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm
cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi mới an toàn và hấp dẫn hơn.
Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư.
gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản nếu không có chế biến sâu, các dự án
tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ được xem xét kỹ càng hơn. Bên cạnh đó, những dự án đầu tư chậm
triển khai sẽ được phân loại để có những biện pháp xử lý phù hợp, trong đó có việc xem xét rút Giấy
chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư khác thực sự có
tiềm năng và năng lực triển khai tham gia đầu tư.
Một số giải pháp đổi mới nhằm thu hút, sử dụng vốn FDI hiệu quả:
Để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế đất nước giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn năm
2020, Việt Nam cần có những chiến lược mang tính đột phá, từ đó mới thực sự thu hút, hấp dẫn
được các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt nam, nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước đang có
ưu thế hơn, từ đấy thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế – xã hội
đã đề ra.
a/ Về chính sách, quản lý nhà nước:
22
- Tiếp tục duy trì được ổn định chính trị như hiện nay là một trong những yếu tố hấp dẫn nhất
đối với nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam so với các nước trong khu vực.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài theo hướng đầy đủ,
rõ ràng, thông thoáng, thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng Luật Đầu tư nước
ngoài và Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo sự bình
đẳng giữa các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính cần giảm bớt tối đa, tăng cường hỗ trợ các nhà đầu
tư giải quyết các thủ tục.
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án
đầu tư nước ngoài.
- Thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO để tạo ra một sân chơi lành mạnh nhằm
thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
b/ Về các giải pháp quy hoạch:
- Rà soát, quy hoạch ngành, vùng chiến lược, từng bước mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ
theo lộ trình cam kết quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế.
- Làm rõ các lĩnh vực không cấp phép đầu tư và đầu tư có điều kiện, trong đó chú trọng lĩnh vực
văn hoá thông tin theo hướng minh bạch, cụ thể và phù hợp với các cam kết quốc tế; đẩy nhanh tiến
độ thực hiện các nội dung triển khai chậm hoặc chưa triển khai đã cam kết trong Sáng kiến chung
các website của Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng
tiếp cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng và trung thực thông qua mạng Internet.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước. Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế
nhằm kêu gọi, thu hút các Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công
nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn các chính sách đầu tư của Việt nam với các đối
tác kinh doanh quốc tế của mình.
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ Việt Nam quản lý hệ thống tài chính bằng “ quy
định”.
Kể từ khi thống nhất đất nước, ban đầu hệ thống tài chính của Việt Nam được tự do hoá hoàn toàn,
nhưng dần dần tất cả các loại trong hệ thống tài chính dần dần được chính phủ Việt Nam kiểm soát
chặt chẽ bằng các quy định cụ thể cho từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính: Ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm. Cấu trúc hệ thống tài chính: thị trường tài chính, tổ chức tài chính, các công cụ tài
chính và cơ sở hạ tầng tài chính.
Để kiểm soát được sự vận hành của từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính, chính phủ đã ban hành
rất nhiều quy định nhằm kiểm tra, giám sát của các hoạt động tài chính, đồng thời hạn chế rủi ro cho
quốc gia. Thứ nhất, trong hệ thống ngân hàng, với hàng loạt các quy định để kiểm soát được sự mất
thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng TW đã quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc
của mỗi ngân hàng thương mại, để hạn chế được sự lạm phát, chính phủ đã ban hành các quy định
về lãi suất trần, lãi suất sàn và lãi suất tái cấp vốn…Ngoài ra để bảo đảm an toàn trong hoạt động
của các ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung, chính phủ đã có một số quy định “ Tổ
24
chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ”, thủ tướng
chính phủ đã ban hành danh mục về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng đến hết năm 2010 phải
có vốn điều lệ tối thiểu là 3000 tỷ đồng và thực hiện các chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá để
quản lý nền kinh tế. Một số chính sách có tính chất chữa cháy như chỉ thị 03vào tháng 05/2007
khống chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán không được vướt quá 3% tổng dư nợ cho vay.
Thứ hai, trong thị trường chứng khoán, chính phủ cũng cực kỳ khắt khe để kiểm soát được thị
trường chứng khoán để thực sự hoạt động hiệu quả. Một số quy định về việc chào bán chứng khoán
riêng lẻ và chào mua công khai, hay các công ty đại chúng phải công bố thông tin định kỳ về một số
nội dung cơ bản: báo cáo tài chính kiểm toán, nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên. Việc
bằng mọi giá thúc đẩy tư nhân hoá, tự do hoá thị trường, cổ vũ chủ nghĩa thực dụng, khuyếch đại
chính sách tư bản giả, chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chính vì thế, gần
như toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm đều trong tay giới tư bản tài phiệt, bất khả xâm
phạm, không thể kiểm soát.
Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nêu trên, bắt nguồn từ một điều cốt lõi nhất, quan trọng
nhất dẫn tới cuộc khủng hoảng này. Đó chính là việc nhận thức và thực hiện sai lệch vai trò của nhà
nước trong nền kinh tế thị trường. Cuộc khủng hoảng lần này rõ ràng bắt nguồn trực tiếp từ việc
Chính phủ Mỹ và các chính phủ khác ở các nước phát triển đã xử lý sai lầm quan hệ giữa nhà nước
và thị trường, trao quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do, buông lỏng sự quản lý và giám sát
điều hành của nhà nước. Cụ thể hơn ở Mỹ là Cục dự trữ Liên bang đã thả lỏng tín dụng trong một
thời gian dài cho sự bùng nổ thị trường bất động sản; thị trường ảo và kinh tế “bong bóng” đã tự do
phi mã đến lúc vỡ tung ra. Lỗi quan trọng ở đây là “quá ít nhà nước, quá nhiều thị trường tự do”.
Cắt nghĩa từ cội nguồn vấn đề này cần khái lược lại cơ chế vận hành của nền kinh tế Mỹ và các
nước phát triển. Đã có một thời gian dài, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được vận hành theo
cơ chế hoàn toàn tự do dựa trên học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith. Trong
tác phẩm “Của cải của các dân tộc (1776)”, Adam Smith đã đưa ra quan điểm có tính triết lý là: Hãy
để cho thị trường vận hành dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình”, cơ chế thị trường tự do sẽ đưa tới
kết quả cuối cùng là “sự hài hoà xã hội”. Tuy nhiên, cuộc Tổng khủng hoảng 1929 - 1933 đã làm
cho tất cả các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển buộc phải từ bỏ lý luận về bàn tay vô hình của cơ
chế thị trường để chuyển sang thực hiện thuyết kinh tế của Keynes với lý lẽ ngược lại rằng: Để thoát
khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và nguy cơ bùng nổ xã hội, nhà nước phải điều tiết kinh tế. Lý thuyết
kinh tế của Keynes đã chiếm địa vị chi phối ở các nước Phương Tây từ năm 1945 - 1973.