ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
2. Lịch sử vấn đề.
3. Mục đích nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tác giả.
1.1.1. Tiểu sử.
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp.
1.2. Tác phẩm.
1.2.1. Thể loại.
1.2.2. Hoàn cảnh ra đời.
1.3. Hình ảnh người chiến sĩ trong văn học.
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CHIẾN SĨ THỜI TRẦN TRONG
TÁC PHẨM DỤ CHƯ TỲ TƯỚNG HỊCH VĂN.
2.1. Yêu nước, căm thù giặc và sẵn sàng hi sinh vì đất nước.
2.2. Nhận thức rõ tình hình đất nước
2.3.
2.4. Tinh thần cảnh giác cao độ trước âm mưu của kẻ thù.
2.5. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược.
2.6. Giữ vững lập trường.
2.2. Nghệ thuật.
KẾT LUẬN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Lịch sử văn học Việt Nam luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,
trên thế giới hiếm thấy một dân tộc nào lại phải liên tục chiến đấu chống giặc ngoại
hịch văn của Trần Quốc Tuấn. Bài Hịch là một áng văn ghi chép lại khá đầy đủ về tình
hình đất nước ta trong giai đoạn chống quân Nguyên- Mông, hình ảnh xuyên suốt
trong bài Hịch đó chính là hình ảnh người chiến sĩ Trần Quốc Tuấn, một con người
yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và sẵn sàng hi sinh vì đất nước, luôn luôn ý thức được
trách nhiệm, vị trí của người nam nhi trong thời kì đất nước loạn lạc “Nam nhi vị liễu
công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”, biết nhục nhã, đau đớn, căm ghét
và một khát vọng chiến thắng quân thù khi nhìn thấy giặc “đi lại nghênh ngang ngoài
đường”. Qua những hình ảnh của Trần Quốc Tuấn ta có thể thấy được hình ảnh đó là
một tiêu biểu cho hình ảnh người chiến sĩ yêu nước thời Trần, những con người một
lòng trung quân ái quốc, có ý thức chống lại giặc ngoại xâm. Qua đó, ta có thể biết
được những tâm tư, tình cảm, nhận thức của con người thời Trần khi họ phải đối mặt
với giai đoạn lịch sử cam go, đầy thử thách.
Dụ chư tỳ tướng hịch văn được xem là một áng văn bất hủ của dân tộc, tác phẩm đề
cao tinh thần yêu nước và những phẩm chất tốt đẹp của con người thời Trần trong bối
cảnh lịch sử hào hùng, cho ta thấy được sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp trong xã
hội tạo nên một “Hào khí Đông A” khiến quân giặc phải khiếp sợ và được các thế hệ
đời sau ca tụng. Bài Hịch còn được sánh ngang với những tác phẩm bất hủ khác như:
Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo.
Chính vì những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Hình ảnh người chiến sĩ thời Trần
trong tác phẩm Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) làm đề tài thực hiện niên
luận này với mong muốn hiểu rõ hơn về hình ảnh con người yêu nước cũng như văn
học thời Trần trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm vẻ vang của ông cha ta.
2. Lịch sử vấn đề.
Như đã nói ở trên, Dụ chư tỳ tướng hịch văn là một áng văn bất hủ của dân tộc, là
một bằng chứng lịch sử tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết cũng như
quan niệm về con người yêu nước thời Trần trong cuộc kháng chiến chống giặc
Nguyên- Mông của dân tộc. Chính vì lẽ đó, mà việc tìm hiểu và nghiên cứu Dụ chư tỳ
tướng hịch văn được các nhà nghiên cứu, bình luận đặc biệt quan tâm và đã có rất
nhiều bài viết liên quan đến tác phẩm này ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Nói về đề tài hình ảnh người chiến sĩ thời Trần trong tác phẩm Dụ chư tỳ tướng
tụng, có thể kể đến đó là bài viết Hào khí Đông A- Dấu son của lòng yêu nước Việt
Nam của tác giả Trần Quang Kim Sơn, trong bài viết tác giả đã đề cập đến những
chiến tích cũng như sức mạnh đoàn kết của quân dân nhà Trần trong công cuộc chống
giặc ngoại xâm cũng như nói đến “Hào khí Đông A”một hào khí chỉ có ở thời Trần
“Nếu phân tích ý nghĩa của “Hào khí Đông A”, quả thật không phải là một điều đơn
giản. Có thể nói, đấy là sản phẩm của một hệ thống tư tưởng thống nhất từ tầng lớp
quý tộc, tướng lĩnh cao cấp; đến binh sĩ , quần chúng nhân dân… về lòng trung quân
ái quốc, ý thức sâu sắc sức mạnh vật chất xã hội lẫn văn hóa tinh thần sẵn có và tính
chất quan trọng của công cuộc đại đoàn kết chống ngoại thù chung của dân tộc” hay
bài viết Những đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt thời đại Lý-Trần của tác giả
Tuệ Đạt, bài viết có thể nói là một công trình nghiên cứu về hình ảnh con người trong
thời Lý- Trần với những đặc điểm tính cách, quan điểm sống của họ trong thời chiến
cũng như trong thời bình những ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư tưởng, hành động
của họ. Hình ảnh con người thời Trần được hiện lên qua bài viết là những con người
không hề khiếp sợ trước kẻ thù, sẵn sàng hi sinh vì đất nước, biết dẹp quyền lợi cá
nhân để lo cho quyền lợi đất nước “Đã không sợ chết nên không bao giờ đầu hàng dù
địch mạnh hơn ta ngàn lần. Nhờ vô ngã con người mới hành động vô tư, đặt quyền lợi
của dân của nước lên trên quyền lợi cá nhân”. Một hình ảnh khác về người chiến sĩ
nhà Trần được thể hiện qua bài viết Người anh hùng thời Trần trong Thuật hoài của
Phạm Ngũ Lão trong bài viết này tác giả đã nêu ra những đặc điểm của con người thời
Trần với một lý tưởng cao cả, một khát vọng lập công danh phục vụ cho đất nước,
cảm thấy hổ thẹn vì chưa làm được gì cho đất nước, tác giả đã khai thác những tâm tư,
tình cảm trong suy nghĩ của người nam nhi khi sinh ra trong trời đất là mang một trách
nhiệm lớn đối với quê hương đất nước.
Trên đây là một trong số những ý kiến, bài viết, công trình của các tác giả, nhà
nghiên cứu về đề tài liên quan đến hình ảnh người chiến sĩ thời Trần trong một số tác
phẩm. Nhìn chung ở đề tài mà người viết nghiên cứu thì chưa có tác giả nào tập trung
nghiên cứu sâu hơn về đề tài hình ảnh người chiến sĩ thời Trần trong tác phẩm Dụ chư
tỳ tướng hịch văn mà các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về tác phẩm và chỉ giới thiêu
sơ lược về hình ảnh người chiến sĩ nhà Trần. Thiết nghĩ đây là một đề tài hay và rất có
Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh: đối với phương pháp này người viết
dựa vào những tư liệu đã có tiến hành phân tích những chi tiết về hình ảnh người
chiến sĩ thời Trần trong tác phẩm. Sau đó so sánh, đối chiếu với các tác phẩm thơ văn
khác viết về đề tài người chiến sĩ để tìm ra điểm giống và khác ở người chiến sĩ trong
tác phẩm Dụ chư tỳ tướng hịch văn với các tác phẩm khác.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vài nét về tác giả.
1.1.1. Tiểu sử.
Trần Quốc Tuấn (? - 1300), còn được gọi là Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương),
thuỵ hiệu là Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân võ Hưng Đạo đại vương, vợ
là Nguyên Từ quốc mẫu.
Ông quê ở Phủ Thiên Trường (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định), là một nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất và là nhà văn Việt Nam
nổi tiếng thời Trần.
Trần Quốc Tuấn vốn là người trong tộc họ tôn thất, ra đời trong thời kỳ đầu của
vương triều nhà Trần mở nghiệp, cha là An Sinh Vương Trần Liễu, mẹ là Thiện Đạo
quốc mẫu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua
Trần Thái Tông) bằng cô.
Ông là người có "dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người", và nhờ "được những
người tài giỏi đến giảng dạy" mà ông sớm trở thành người "đọc thông hiểu rộng, có tài
văn võ".
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp.
Thuở nhỏ, Trần Quốc Tuấn đã được khen là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, ông càng tỏ ra
thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn võ song toàn lại được người tài dạy dỗ
nên ông rất am hiểu đạo lý ở đời.
Trần Quốc Tuấn là một vị anh hùng kiệt xuất, ông là vị chủ tướng tiêu biểu cho lòng
trung quân ái quốc và luôn là tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, ý thức gạt bỏ
mọi hiềm khích riêng tư để đoàn kết tông thất, triều đình và tướng lĩnh, tạo nên một cội
nguồn của thắng lợi. Ông đã để lại cho dân tộc ta tư tưởng chính trị tiến bộ và tài thao
lược bất hủ - để đời này sang đời khác, dân tộc ta đã vận dụng và đã đánh thắng mọi kẻ
định một bước phát triển quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam. Với Trần Quốc
Tuấn, một học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại phong kiến đã hình thành, học
thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước. Chính trên cơ sở này, Lê Lợi -
Nguyễn Trãi phát triển thành học thuyết quân sự dân tộc trong khởi nghĩa nông dân,
chiến tranh giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tí, Hưng Long thứ 8 (1300) Trần Quốc
Tuấn qua đời. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hoả táng thu vào bình đồng và chôn
trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, san
phẳng trồng cây như cũ. Khi ông mất, vua phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương.
Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời.
Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết. Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính
trọng ông gọi là Hưng Đạo Đại vương. Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một
danh nhân văn hoá Việt Nam.
1.2. Tác phẩm.
Dụ chu tỳ tướng hịch văn hay còn gọi là Hịch tướng sĩ là một văn bản chức năng
hành chính quan trọng của đất nước được viết theo thể loại Hịch.
Hịch là một thể văn thư cổ có từ thời Chiến Quốc được vua, quan lại, tướng lĩnh,
người lãnh đạo của một Đảng viết nhằm kể tội kẻ thù, cắt nghĩa mọi lẽ phải dụng binh
và là việc khẩn cấp để khuyến khích lòng tướng sĩ và lòng người. Trước thời Xuân Thu
Hịch chỉ nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của quân đội. Từ thời Xuân Thu Hịch có
mục đích là khích lệ nhân dân,…
Dụ chư tỳ tướng hịch văn là bài Hịch được Trần Quốc Tuấn viết trong một hoàn
cảnh lịch sử đặc biệt: cuối thế kỷ XIII cả nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Nguyên- Mông. Vào lúc ấy, thế giặc đang mạnh Trần Quốc Tuấn thất
thế nên đưa quân chạy về Vạn Kiếp, thấy vậy vua Nhân Tông bảo Trần Quốc Tuấn đầu
hàng giặc, Trần Quốc Tuấn không đồng ý.
"Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá
hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ?"
Hưng Đạo Vương tâu:
"Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.”
(Thuật Hoài- Phạm Ngũ Lão.
Hình ảnh con người yêu nước hiện lên
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CHIẾN SĨ THỜI TRẦN TRONG TÁC
PHẨM DỤ CHƯ TỲ TƯỚNG HỊCH VĂN.
Trong lịch sử, triều đại nhà Trần đã có những chiến công vẻ vang ghi tên mình vào
sử sách đời đời, tạo nên một trang lịch vàng trong sử dân tộc. Con người nhà Trần với
khí thế hiên ngang, anh dũng và tinh thần đoàn kết một lòng đã đánh bại bọn giặc
ngoại xâm hùng mạnh ra khỏi bờ cỏi đất nước. Cái khí thế và tinh thần bất khuất ấy đã
được Trần Quốc Tuấn thể hiện rõ trong tác phẩm Dụ chư tỳ tướng hịch văn một bài
Hịch nhằm kêu gọi tướng sĩ đoàn kết, rèn luyện binh đao đứng lên chống giặc ngoại
xâm. Qua bài Hịch này ta có thể hình dung được hình ảnh của người chiến sĩ nhà Trần
hiện lên với những đặc điểm tiêu biểu cho con người yêu nước thế kỉ XIII.
2.1. Yêu nước, căm thù giặc và sẵn sàng hi sinh vì nước.
Là con người yêu nước sâu đậm nên khi thấy cảnh đất nước bị bọn giặc ngoại xâm
xâm lăng “ngang nhiên đi lại ngoài đường” Trần Quốc Tuấn không thể làm ngơ trước
cảnh đó. Ông tỏ thái độ xem thường, khinh bỉ những việc làm của chúng, gọi chúng là
bọn “dê chó”“uốn lưỡi cú diều”. Bộ mặt xấu xa, đê hèn của bọn giặc được phô bày
qua những hành động tàn ác của chúng trong thực tế: đi lại nghênh ngang, sỉ mắng
triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu vàng bạc, vét của kho có hạn,…Những
hành động này khiến cho người nhà Trần cảm thấy căm giận và xem thường bọn giặc,
xem chúng như loài cầm thú xấu xa đang thèm khát đất nước Đại Việt.
“Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng
triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc
lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu vàng bạc, để vét
của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về
sau”.
Những tội ác của bọn giặc được tác giả vạch trần khiến cho lòng căm thù giặc trong
Tuấn đã tập trung được quân đội, tướng sĩ để điều binh đánh giặc thì con người yêu
nước thế kỉ XV lại không thể làm được như vậy vì “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân
tài như lá mùa thu.”
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi”.
Hay trong Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu cũng thể hiện những tội
các của bọn giặc và lòng căm thù giặc sâu sắc sẵn sàng hi sinh vì nước của nhân dân ta.
“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa.
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.”
“Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây.”
Đến thời hiện đại, con người yêu nước phải hi sinh hạnh phúc cá nhân để toàn tâm
phục vụ cho đất nước, khi đất nước chưa độc lập thì không thể nghĩ đến chuyện riêng
tư, họ sẵn sàng bỏ mạng nơi sa trường để bảo vệ độc lập cho dân tộc.
“Ðôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn
Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ.”