MỤC LỤC
A.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 17
1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi vấn đề bình đẳng giới
và khuyến khích sự tiến bộ của phụ nữ là một mục tiêu quan trọng của phát triển
quốc gia. Việt Nam cũng đồng thời được ghi nhận là một quốc gia Đông Nam Á
thành công nhất trong việc xoá bỏ khoảng cách giới trong suốt 20 năm qua. Bình
đẳng giới của Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc
thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, là một trong những nước có thành tựu về
bình đẳng giới cao.
Tuy nhiên, trên thực tế những sự khác biệt trên cơ sở giới vẫn còn phổ
biến trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ vẫn còn kém hơn nam giới nhiều ở bậc học vấn
cao, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tham gia quản lý và ra quyết định. Cơ
hội có việc làm và thu nhập của phụ nữ so với nam giới còn hạn chế, phụ nữ gặp
nhiều khó khăn khi tìm kiếm việc làm. Bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn
bán phụ nữ và trẻ em gái vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức. Tỷ lệ cán bộ nữ trong
lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ còn
quá thấp.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự khác
biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học. Tuy nhiên, trong thực
tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể gặp ở nhiều
nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo - những người có
vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách đối với phụ
nữ và người dân.
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng bất bình đẳng giới, song một
vấn đề bức xúc nhưng không dễ gì thay đổi ngày một ngày hai, đó là định kiến
giới. Định kiến giới - “ rào cản” đối với sự phát triển của bình đẳng giới.
2
3
đánh giá cao vì so sánh với mẫu hình người phụ nữ đã được định khuôn thì rõ
ràng một cô gái như vậy là không “nữ tính”.
Cách nhìn nhận đó cho thấy rõ sự định kiến với người phụ nữ. Bởi không
phải cứ là phụ nữ thì phải lo toan hết công việc nhà, còn người đàn ông phải thụ
động và phục tùng nam giới. Thực tế có nhiều phụ nữ rất năng động hoạt bát,
quyết đoán, đảm nhiệm được những vị trí vai trò quan trọng trong xã hội. Tuy
nhiên, do định kiến về giới nên không phải bao giờ họ cũng được gia đình và xã
hội tạo điều kiện để phát huy hết tài năng của mình
Như vậy, dựa trên các quan niệm về định kiến giới, nhóm chúng em xin đưa
ra khái niệm về định kiến giới. Định kiến giới là những nhận thức, thái độ, quan
niệm sẵn có, có tính chất khuôn mẫu mà một nhóm người, một cộng đồng người
nào đó gán cho thuộc tính về đặc điểm, vị trí, vai trò, năng lực của nam giới hay
phụ nữ.
2. Đặc điểm của định kiến giới
- Định kiến giới thể hiện hệ thống hóa thái độ đối với nam giới và nữ giới về
vị thế, vai trò, năng lực, đặc điểm, tính chất của nam và nữ, gắn liền với sự khác
biệt.
- Định kiến giới được hình thành một cách lâu dài từ đời này qua đời khác,
có tính chất cố hữu bảo thủ, ăn sâu, bám rễ trong đời sống xã hội do đó việc xóa
bỏ định kiến giới là rất khó khăn. Nó đã được hình từ rất lâu và để lại dấu ấn khá
đậm nét trong ca dao tục ngữ (ví dụ: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô)... và
đến tận bây giờ vẫn còn tồn tại, định kiến giới có ở mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội như trong gia đình, trong lao động, trong học tập…
- Định kiến giới dẫn tới sự đánh giá một cách tiêu cực, thiên lệch về vị trí,
vai trò, năng lực của nam và nữ, do đó đã cản trở việc thực hiện các quyền của
nam và nữ dẫn tới sự bất lợi đối với nam và nữ dẫn tới việc cản trở mục tiêu bình
đẳng giới. Ví dụ, người ta hay cho rằng: Phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh
đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái... Các quan niệm này
thường sai lệch, trong thực tế, những đặc điểm tính cách trên không chỉ của
một ít thời gian trong ngày, công việc của họ sẽ tốt hơn, đem lại lợi ích cho
nhiều người. Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình, vừa làm tốt công việc xã
hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách nhiệm, bởi họ không
những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người chủ yếu đảm đương các vai
5
trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Nếu xét tương quan thời gian lao động trong
một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều
hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung
bình của phụ nữ là 13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ). Do
vậy, phụ nữ ít có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động
xã hội so với nam giới.
Gánh nặng công việc gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn xa
trong sự nghiệp. Chúng ta đều biết ở thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nam giới, phụ nữ cần phải có kiến thức chiều
sâu, trình độ ngoại ngữ, tin học, sự nhạy bén và lăn lộn thực tế cuộc sống…
Trong khi đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ.
Chính vì vậy, nhiều người phụ nữ giỏi giang, được học hành tử tế đã phải
nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình, chỉ cốt để giữ tròn hạnh
phúc.
Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc phấn đấu
có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc. Đó cũng là lý do cùng được
đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao hơn, được học
hành đào tạo chuyên môn cao hơn. Đó cũng là nguyên nhân tụt hậu của giới nữ
trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả trong lãnh đạo và quản
lý.
1.1. Trong lĩnh vực chính trị
Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm lãnh
đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù hợp), bởi
mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc "đại sự", phụ nữ thì
chỉ nên làm công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành cho gia đình. Tư tưởng