Phân tích sức sống tìm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ củaTô Hoài - Pdf 26

class="bi x0 y0 w0 h1"
Bài làm
Trong thiên truyện Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã rất thành công ở việc
miêu tả tâm lí nhân vật. Sự dụng công ấy đã được kết đọng ở quá trình bộc
lộ sức sống tiềm tàng của Mị, một thiếu nữ mà vẻ đẹp, tình yêu, niềm khát
khao hạnh phúc đều đã bị chế độ phong kiến miền núi vùi dập. Song con
người ham sống và sức sống tiềm tàng trong Mị vẫn không chết. Có dịp, con
người ấy sẽ thức dậy như một sự tất yếu, thức dậy để giải phóng thân phận
mình. Tô Hoài đã miêu tả chân thực và tinh tế diễn biến tâm lí phức tạp đó
của Mị từ khi bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lí đến lúc cùng A Phủ
trốn khỏi Hồng Ngài. Qua đó, giá trị nhân đạo lớn lao của tác phẩm được
khẳng định.
Mở đầu tác phẩm, Mị đã được tác giả giới thiệu như hiện thân của một số
kiếp nghiệt ngã, một tâm hồn đau khổ câm lặng: “ngồi quay sợi bên tảng đá
trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt
vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt
buồn rười rượi”. Mị như một cái bóng, một mảng tối im lìm trong cảnh giàu
sang nhà Thống lí Pá Tra. Càng ngày Mị càng không nói, chỉ “lùi lũi như
con rùa nuôi trong xó cửa”. Người đàn bà ấy bị cầm tù trong ngục thất tinh
thần, nơi lui vào lui ra chỉ là “một căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa
sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay” Đã bao năm rồi, người đàn bà ấy chẳng biết
đến mùa xuân, chẳng đi chơi Tết…
Nhà văn có tả hình dáng nhưng không nhằm khắc họa chân dung ngoại
hình mà chủ yếu làm nổi bật con người số phận, một số phận nghiệt ngã,
cay đắng, tủi cực. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng
người những xót thương. Ách áp chế nặng nề của bọn chúa đất phong kiến
miền núi, cả cường quyền và thần quyền đã đè nén một tâm hồn yêu đời,
khát sống trở thành một người hoàn toàn tê liệt về ý thức: “sống lâu trong
cái khổ Mị cũng đã quen rồi”, “Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng
là con ngựa”, Mị chỉ “cúi mặt, không nghĩ ngợi”, chỉ “nhớ đi nhớ lại những
việc giống nhau”. Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc

sự chuyển biến tâm lí của Mị vừa như một sự bột phát đột phá vừa như là hệ
quả tất yếu của một sức sống tiềm tàng, tiềm ẩn được khơi dậy, bùng lên để
quên đi thực tại, sống đúng với bản chất của mình.
Sự thức tỉnh ý thức của Mị trước hết là nhờ ở sự tác động của hoàn cảnh:
“những chiếc váy hoa đã đem phơi trên mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ,
hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại đổi ra màu đỏ au, đỏ thẫm rồi sang màu tím
man mác”. Cảnh vật cùng với những âm thanh rộn rã báo hiệu mùa xuân:
“đám trẻ đợi tết chơi quay cười ầm trên sân chơi trước nhà” cũng có những
tác động nhất định đến tâm lí của Mị. Nếu ngoại cảnh là những chất xúc tác
gián tiếp thì rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời, khát sống của
Mị trỗi dậy. “Mị đã lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát một”. Mị vừa như
uống cho hả giận vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị
theo tiếng sáo.
Trong đoạn diễn tả tâm trạng hồi sinh của Mị, tiếng sáo có một vai trò
đặc biệt quan trọng. “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bồi hồi. Mị ngồi
nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi…
Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu
người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác”. Với
Mị, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của mùa xuân, của khát vọng tình
yêu, hạnh phúc. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại dụng công miêu tả
tiếng sáo nhiều lần đến thế: “Tiếng sáo gọi bạn cứ thiết tha, bồi hồi”, “ngoài
đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo”, “tai Mị vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu
làng”, “mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”, “Mị vẫn
nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”, “trong
đầu Mị rập rờn tiếng sáo”… Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý
nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng
tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên
đốm lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt tiên, tiếng sáo còn “lấp ló”, “lửng lơ” đầu
núi, ngoài đường. Sau đó, tiếng sáo đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của
Mị và cuối cùng tiếng sáo trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị

đó là “tiếng chân ngựa đạp vào vách” khiến Mị cay đắng nghĩ “mình không
bằng con ngựa”. Trong tác phẩm, rất nhiều lần tác giả nhắc đến cuộn dây
trói (trói Mị, trói A Phủ). Đó như là một biểu tượng cho chế độ cường quyền
và thần quyền khắc nghiệt. Nhưng ngay cả khi cuộn dây trói thít chặt nhất
cũng không thể ngăn con người nghĩ đến cuộc sống, sống với thế giới của
tình yêu và khát vọng.
Tô Hoài đã đặt sự hồi sinh của Mị vào tình huống bi kịch: khát vọng
mãnh liệt – hiện thực phũ phàng khiến cho sức sống ở Mị càng thêm phần dữ
dội. Quá trình hồi sinh của một sức sống tiềm ẩn được nhà văn miêu tả
không hề hời hợt, dễ dãi. Nhân vật vượt khỏi sự thờ ơ, nguội lạnh không hề
đơn điệu, dễ dàng. Mị sống quá lâu trong cái khổ vì thế sự hồi sinh đến
nhanh rất dễ gây cảm giác giả tạo. Đó phải là một quá trình chuyển biến lớn
dần và phải có một sự tác động đặc biệt. Sự tác động đó không gì thay được
tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân. Một làn sóng cảm xúc đi qua, dù mãnh
liệt cũng không thể làm thay đổi cuộc đời Mị. Nhưng những gì mà Tô Hoài
viết về cái đêm tình mùa xuân ấy thật vô cùng ý nghĩa. Qua đây, nhà văn
muốn phát biểu một tư tưởng: sức sống của con người cho dù bị giẫm đạp, bị
trói chặt vẫn không thể chết mà luôn luôn âm ỉ, chỉ cần gặp dịp là bùng lên.
Khi tiếng sáo im bặt, chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách cũng là
lúc mọi kí ức tan biến, cuộc đời Mị lại như những đêm đông trên miền núi
cao, vừa dài vừa buồn. Trước cảnh A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn vô cảm. “Mị
vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay”. Có đêm, bị A Sử đánh gục ngay cửa bếp
vậy mà đêm sau Mị vẫn trở dậy thổi lửa, hơ tay như thế. Ta cứ tưởng sức
sống trong Mị giống như ngọn đèn cạn dầu, chỉ bùng lên để rồi tắt ngấm.
Nhưng không, phần trên mới chỉ là phần chuẩn bị cho một bước đột phá.
Tâm hồn tê dại của người đàn bà ấy đột ngột bùng lên thật mãnh liệt: cắt
dây trói cứu A Phủ và tự giải thoát chính mình. Đây là một hành động táo
bạo có ý nghĩa quyết định đối với cuộc đời Mị . Sau hành động này, Mị đã
tìm thấy hạnh phúc và sống một cuộc đời đáng sống – trở thành vợ A Phủ
và thành viên đội du kích Phiềng Sa.

cổ. Nhưng trong Mị luôn tồn tại những mâu thuẫn gay gắt: bên trong người
đàn bà cam chịu là một sức sống tiềm ẩn, bên cạnh sự dửng dưng vô cảm có
lúc lại thiết tha, bồi hồi, mãnh liệt.
So với chị Dậu (Tắt đèn – Ngô Tất Tố), sức sống của Mị có thể không
tiềm tàng, quyết liệt bằng nhưng ở Mị, sức sống ấy một khi trỗi dậy thì có
hướng đi rõ rệt. Chị Dậu vùng lên mãnh liệt để rồi đứng bơ vơ trong đêm tối
đen như mực, tối như cái tiền đồ của chị. Hành động rút dao của Mị cũng
không phải là hành động tự giải thoát bi kịch bằng một bi kịch kiểu Chí
Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) mà là hành động cắt đứt sợi dây mê tín thần
quyền và sức mạnh man rợ cường quyền. Hành động của Mị tượng trưng
cho sự chiến thắng của tinh thần phản kháng và con đường của Mị cũng như
của bao người nghèo khổ đến với cách mạng là con đường tất yếu.
Cả quãng đường dài dằng dặc của Mị ở nhà thống lí Pá Tra có hai đêm
đáng nhớ nhất. Đó là “đêm tình mùa xuân” và đêm cắt dây trói cho A Phủ.
Hai biến cố đó đã chứng minh được sức sống tiềm tàng trong con người Mị
mà không thế lực nào giết chết được. Đó cũng là tình cảm nhân đạo lớn lao
của ngòi bút Tô Hoài. Nhà văn đã miêu tả quá trình diễn biến tâm lí và hành
động của Mị rất tự nhiên, sinh động, vừa bất ngờ, vừa tất yếu hợp qui luật.
“Mị là nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đương đại
Việt Nam” (Trần Đình Sử).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status