Lời mở đầu
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở
hữu tài sản của cá nhân, người đã chết cho cá nhân, tổ chức có
quyền hưởng thừa kế. Người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài
sản được hưởng theo di chúc hoặc pháp luật. ở Việt Nam hiện nay
có rất nhiều những vụ án kiện về thừa kế đã gây ra những khó
khăn vướng mắc trong việc xét xử. Những quy định về pháp luật
thừa kế chưa đồng bộ và thống nhất nên đã có những vụ án phải
xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục chưa cao, nhiều bản án mà
kết quả xét xử chưa hợp lý. Một trong những vấn đề chủ yếu của
chế định thừa kế theo pháp luật đó là việc xác định diện và hàng
thừa kế, việc nghiên cứu diện và hàng thừa kế theo pháp luật đã
làm rõ những vưỡng mắc về mối quan hệ giữa nhóm người có quan
hệ gần gũi với người để lại di sản thừa kế, mà tính chất gần gũi đó
được thể hiện trong các quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng giữa người thừa kế với người để lại di sản.
Nội dung diện và hàng thừa kế
theo pháp luật
I. Diện thừa kế theo pháp luật
Một trong những vấn đề chủ yếu của chế định thừa kế theo
pháp luật là việc xác định diện thừa kế, đó là phạm vi những
người được thừa kế theo pháp luật hưởng di sản của người chết để
lại. Diện và hàng thừa kế chỉ đặt ra trong trình tự thừa kế theo
pháp luật. Về diện thừa kế qua các chế độ xã hội có cùng một đặc
điểm chung là: Chủ yếu do quan hệ hôn nhân, gia đình chi phối.
Mặt khác nó cũng tùy thuộc vào quan hệ sản xuất của từng giai
đoạn phát triển xã hội và còn dựa trên những quy định pháp luật
của mỗi chế độ xã hội nhất định mà phạm vi những người thuộc
diện thừa kế theo pháp luật lại được quy định ở những diện rộng –
hẹp khác nhau.
1. ở thời kỳ phong kiến.
nhiên thông tư này chưa chỉ rõ “những người thừa kế khác” là ai.
* Thông tư số 594 đã được áp dụng ở nước ta trong giai đoạn
1968 – 1981 đã phản ánh được tính chất của quan hệ thừa kế là
quan hệ tài sản đặc biệt có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ yêu
thương, chăm sóc nuôi dưỡng nhau giưã những người thân thuộc
trong gia đình. Mặt khác nó phù hợp với nguyện vọng của công
dân muốn tài sản của mình để lại sau khi chết sẽ cho những người
thân gần nhất với mình thừa hưởng. Trong giai đoạn này những
người như: cô, dì, chú, bác, cậu, cháu họ, anh chị em họ, cụ nội,
cụ ngoại, không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại
di sản.
Thông tư số 81 của TAND tối cao được ban hành hướng dẫn
các toà án giải quyết các tranh chấp về quyền thừa kế thì theo đó
diện thừa kế cũng được hướng dẫn xác định rõ nét hơn. Nội dung
thông tư số 81 quy định cơ sở pháp lý của việc thừa kế theo pháp
luật là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng. Những cơ sở để xác định diện thừa kế theo pháp luật mà
thông tư số 81 quy định không có sự thay đổi lớn so với quy định
trước đó tại thông tư số 594. Thông tư số 81 đã bổ sung thêm
những người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản bao
gồm con riêng và cha kế, mẹ kế đã thể hiện nghĩa vụ chăm sóc,
nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì người con riêng đó được
coi như con chung và họ có quyền thừa kế của nhau khi một bên
chết trước.
- Theo thông tư số 81, con nuôi và bố mẹ nuôi có quyền
hưởng thừa kế lẫn nhau, con nuôi không được hưởng thừa kế theo
pháp luật đối với di sản của bố mẹ và anh chị em ruột, vậy người
đang là con nuôi của người khác không thuộc diện thừa kế theo
pháp luật của bố, mẹ đẻ và anh, chị, em ruột của họ. Người con
nuôi chỉ thuộc diện thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ nuôi. Con
thuộc diện thừa kế theo pháp luật được qui định trong pháp lệnh
thừa kế dựa trên quan điểm mang tính chất truyền thống về quan
hệ gia đình Việt Nam. Những người có quan hệ huyết thống với
người để lại di sản thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người
đó. Lợi ích của mỗi thành viên trong gia đình, dòng tộc luôn được
pháp luật của nhà nước ta coi trọng và đảm bảo thực hiện trong
mối quan hệ với lợi ích của toàn xã hội khi mà tài sản thuộc sở
hữu tư nhân ngày càng phong phú về chủng loại và tăng cao về giá trị.
3. Bộ luật dân sự.
Bộ luật dân sự của nước ta được ban hành và có hiệu lực từ
ngày 01/07/1996 diện những người thừa kế theo pháp luật lần đầu
tiên được quy định trong văn bản có hiệu lực cao nhất là Bộ luật
dân sự. Diện những người thừa kế theo pháp luật quy định trong
Bộ luật dân sự vẫn dựa trên các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Theo quy định tại Điều 679
BLDS thì người thừa kế theo pháp luật gồm:
Hàng thứ nhất:
- Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi của người đã chết.
Hàng thứ hai:
- Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, chị ruột, anh ruột, em
ruột của người đã chết.
Hàng thứ ba:
- Cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cô
ruột, dì ruột của người đã chết, cháu ruột của người chết mà người
chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột,dì ruột.
Qua việc áp dụng pháp luật tại ngành Toà án nhân dân đã
giúp các nhà lập pháp nâng cao trình độ và kỹ thuật lập pháp để
điều chỉnh toàn diện quan hệ kinh tế trong xã hội. Phạm vi diện
những người được thừa kế trong pháp luật được BLDS quy định đã
khi kết hôn đã tuân thủ các điều kiện thủ tục pháp luật quy định.
Vợ và chồng thuộc diện thừa kế của nhau theo pháp luật, khi quan
hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợ
hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ
vào quan hệ hôn nhân hợp pháp, quyền thừa kế của vợ chồng trong
việc nhận di sản của nhau được bảo vệ bằng páp luật. Quan hệ hôn
nhân hợp pháp là quan hệ hôn nhân được xác lập thông qua việc
đăng ký kết hôn.
* Diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ huyết thống.
Pháp luật luôn bảo vệ lợi ích chính đáng của những người
con xét về quan hệ huyết thống với cha, mẹ và nghĩa vụ của người
làm cha mẹ đối với con. Quyền thừa kế theo pháp luật của con
không phụ thuộc vào hình thức kết hôn của cha mẹ đẻ. Các con đẻ
của người để lại di sản không phân biệt trai hay gái trong giá thú
hay ngoài giá thú có năng lực hay không có năng lực theo qui định
của pháp luật, họ đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau
vì giữa họ với cha, mẹ đẻ có quan hệ huyết thống. Cha đẻ, mẹ đẻ
của con dù là con trong hay ngoài giá thú đều có quan hệ huyết
thống do vậy cha đẻ, mẹ đẻ với các con đẻ thuộc diện thừa kế của
nhau. Quan hệ huyết thống được xác định giữa cha và con thì lợi
ích của người con được đảm bảo trong việc thừa kế tài sản của bố
đẻ khi người bố chết.
*Diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo quan hệ
nuôi dưỡng.
Khi chưa có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì nghĩa
vụ nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ với con, ông bà với cháu chỉ
được coi là chuẩn mực đạo đức trong quan hệ gia đình. Nhưng khi
có Luật hôn nhân từ năm 1959 thì đã có quy định nghĩa vụ của
những người có quan hệ huyết thống trong việc chăm sóc giáo dục
con cái chưa thành niên theo những nguyên tắc pháp luật và con
và nuôi dưỡng giữa người thừa kế và người để lại di sản, theo đó
người thừa kế được hưởng di sản theo trình tự hàng thừa kế.
1. Thời thực dân phong kiến.