1
Chương I.
1. Quan điểm của chủ nghĩa
DVBC về vật chất? Ý nghĩa
phương pháp luận?
• Hoàn cảnh ra đời.
Cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX,
các cuộc đấu tranh giữa các
trường phái, các luồng học
thuyết, tư tưởng, chính trị diễn ra
gay gắt. khoa học tự nhiên phát
triển như vũ bão và có nhiều
sáng kiến mang tính chất vác thời
đại, đặc biệt là những phát minh,
Rownghen phát hiện ra tia X,
Beccoren phát hiện ra hiện tượng
phóng xạ, Tomxon phát hiện ra
điện tử,…
Những phát minh này chứng
minh rằng sự đồng nhất vật chất
với những dạng cụ thể của vật
chất, với những thuộc tính của
vật chất như quan niệm duy vật
trước Mác đã không còn phù hợp
nữa và trở thành căn cứ để chủ
nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại
chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng
“vật chất đã tiêu tan”, và toàn bộ
nền tảng của chủ nghĩa duy vật
đx bị sụp đổ hoàn toàn. Cuộc
“khủng hoảng của vật lý học” xuất
trong cảm giác và được cảm giác
của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác.
• Phân tích nội dung định
nghĩa
Trong định nghĩa này của Lênin
đã chỉ rõ vật chất là một phạm trù
triết học. như vậy phạm trù vật
chất của triết học là một phạm trù
có tính khái quát nhất, dùng chỉ
vật chất nói chung, vô tận, vô
hạn, không sinh ra, không mất đi;
không giống với khái niệm vật
chất trong một số ngành khoa
học cụ thể hay trong đời sống
hằng ngày. Vì vậy không được
đồng nhất vật chất với tư cách là
một phạm trù triết học với các
dạng tồn tại cụ thể của nó mà các
nhà khoa học nghiên cứu.
Vật chất có thuộc tính cơ bản
nhất, quan trọng nhất là thực tại
khách quan và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác. Thực tại
khách quan là tồn tại thực và
không phụ thuộc vào ý thức con
người. Thuộc tính tồn tại khách
quan không phụ thuộc vào ý thức
con người là điều kiện cần và đủ
từ thuộc tính tồn tại cảm tính -
tức tồn tại có thể nhận thức được
của bản thân vật chất. Vật chất
đem lại cho con người trong cảm
giác, điều này nói lên rằng, thực
tại khách quan (vật chất) có
trước, cảm giác của con người có
sau. Cảm giác của con người có
thể chép lại, chụp lai, phản ánh
được thực tại khách quan. Thực
tại khách quan không tồn tain
trừu tượng mà tồn tại thông qua
các dạng tồn tại cụ thể của mình
và bằng cảm giác của có người
có thể nhận thức được. Điều này
cũng có nghĩa là, thực tại khách
quan là nội dung khách quan,
nguồn gốc hách quan của những
cảm giác của con người.
Như vậy định nghĩa vật chất của
Leenin đã giải quyết được cả 2
vấn đề cơ bản của triết học trên
lập trường duy vật biện chứng,
bao gồm những nội dung sau:
Vật chất là cái tồn tại khách quan
bên ngoài ý thức và không phụ
thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn
tại ấy con người đã nhận thức
được hay chưa nhận thức được.
Vật chất là cái gây nên cảm giác
xuất; trên cơ sở ấy, người ta có
thể tìm ra các phương án tối ưu
để hoạt động thúc đẩy xã hội phát
triển.
Nội dug định nghĩa vật chất của
Lênin đã khắc phục được tính
trực quan, siêu hình, máy móc
trong quan niệm về vật chất của
chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm
chủ nghĩa duy vật phát triển lên
một trình độ mới, trở thành chủ
nghĩa duy vật biện chứng tạo cơ
sở khoa học cho quan niệm duy
vật trong lĩnh vực xã hội, đó là
chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng
thời cũng tạo cơ sở khoa học cho
sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy
vật biện chứng với chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
Định nghĩa về vật chất của Lênin
là cơ sở của thế giới quan khoa
học và phương pháp luận đúng
đắn cho các nhà khoa học nghiên
cứu thế giới vật chất.
Chuong I.
3. Quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng về mối
quan hệ giữa vật chất và ý
thức. Ý nghĩa của phương
pháp luận.
Vật chất có trước, ý thức có sau.
Vật chất tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức vfa là nguồn gốc
sinh ra ý thức. Não người là dạng
vật chất cao có tổ chức của thế
giới vật chất, là cơ quan phản
ánh để hình thành ý thức. Ý thức
tồn tại phụ thuộc vào hoạt động
thần kinh của bộ não trong qua
trình phản ánh thế giới khách
quan.
Ý thức là sự phản ánh thế giới
vật chất vào não người, là hình
ảnh của thế giới khách quan. Thế
giới khách quan là nguồn gốc của
ý thức, quyết định nội dung của ý
thức. Sự vận động và phát triển
của ý thức, hình thức biểu hiện
của ý thức bị các quy luật sinh
học, xã hội và sự tác động của
môi trường sống quyết định.
Những yếu tố này thuộc lĩnh vực
vật chất nên vật chất không
những quyết định nội dung mà
còn quyết định cả hình thức biểu
hiện cũng như mọi sự biến đổi
của ý thức.
Ý thức có tính độc lập tương đối,
tác động trở lại vật chất.
Ý thức có tính năng động, sáng
điều kiện khách quan.
Không bao giờ ý thức lại quyết
định vật chất. Trái lại, vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết định
nội dung và khả năng sáng tạo
của ý thức; là điều kiện tiên quyết
để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có
khả năng tác động trở lại vật chất,
sự tác động ấy không phải tự
thân mà phải thông qua hoạt
3
động thực tiễn của con người.
Sức mạnh của ý thức trong sự
tác động này phụ thuộc vào trình
độ phản ánh của ý thức, mức độ
thâm nhập của ý thức vào những
hành động, trình độ tổ chức của
con người và những điều kiện vật
chất, hoàn cảnh vật chất trong đó
con người hành động theo định
hướng của vật chất.
• Ý nghĩa phương pháp
luận.
Trên cơ sở quan điểm về bản
chất vật chất của thế giới, bản
chất năng động, sáng tạo của ý
thức và mối quan hệ biện chứng
giữa vật chất và ý thức, chủ
nghĩa duy vật biện chứng xây
dựng nên 1 nguyên tắc phương
Phát huy tính năng động chủ
quan là phát huy vai trò tích cực,
năng động, sáng tạo của ý thức
và phát huy vai trò nhân tố con
người trong việc vật chất hóa tính
tích cực, năng động, sáng tạo đó.
Bản thân ý thức tự nó không trực
tiếp thay đổi được gì trong hiện
thực. Ý thức muốn tác động trở
lại đời sống hiện thực phải bằng
lực lượng vật chất. Để phát huy
tính năng động, sáng tạo
ddosddoif hỏi con người phải tôn
trọng tri thức khoa học; tích cực
học tập, nghiên cứu để làm chủ
tri thức khoa học và truyền bá
náo vào quần chúng để nó trở
thành tri thức, niềm tin của quần
chúng, hướng dẫn quần chúng
hành động. Mặt khác phải tự giác
tu dưỡng, tu dưỡng để hình
thành, củng cố nhân sinh quan
cách mạng, tình cảm, nghị lực
cách mạng để có sự thống nhất
hữu cơ giữa tính khoa học và tính
nhân văn trong định hướng hành
động.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng
khách quan, phát huy tính năng
động chủ quan trong nhận thức
không phải do thượng đế hay
người ta tự nghĩ ra.
Trong hiện thực có rất nhiều mối
liên hệ như giữa cái vật chất với
cái tinh thần, giữa những hiện
tượng tinh thần với nhau,… Tất
cả suy cho cùng đều là sự phản
ánh mối liên hệ phổ biến và sự
quy định lần nhau giữa cacsuwj
vật hiện tượng của thế giới khách
quan.
Tính phổ biến
Đó là thể hiện sự liên hệ giữa các
sự vật hiện tượng với nhau, liên
hệ giữa các yếu tố, các thuộc
tính, đặc trưng… trong từng sự
vật, hiện tượng.
Mối liên hệ tồn tại trong mỗi sự
vật cả trong tự nhiên, xã hội và tư
duy.
Ví dụ: + Liên hệ giữa mặt trời và
trái đất.
+ Liên hệ thực vật với
động vật.
+ Liên hệ con người – tự
nhiên – xã hội.
Tính đa dạng của sự liên hệ qua
lại đó.
Có liên hệ bên ngoài, có mối liên
hệ bên trong.
các sự vật và hiện tượng quy
định.
1.2. Nguyên lý về sự phát triển của
phép BCDV.
• Khái niệm
Quan điểm siêu hình xem phát
triển chỉ là sự tăng lên hay giảm
đi thuần túy về lượng, không có
sự thay đổi về chất, có thay đổi
về chất đi nữa thì nó cũng chỉ
diễn ra theo 1 vòng trong khép
kín.
Quan điểm duy vật biện chứng:
Phát triển là 1 phạm trù triết học
dùng để khái quát hóa quá trình
vận động tiến hóa từ thấp lên
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn.
Phân biệt giữa phát triển và vận
động: Theo quan điểm DVBC,
phát triển là 1 trường hợp đặc
biệt của sự vận động. Trong qua
trình phát triển sẽ nảy sinh những
tính quy định mới cao hơn về vật
chất, nhờ vậy làm tăng cường
tính phức tạp của sự vật và sự
liên hệ, làm cho cả cơ cấu tổ
chức, phương thức tồn tại và vận
động của sự vật cùng chức năng
cụ thể. Nhưng xu hướng chung là
đi lên, tiến bộ.
Phát triển bao hàm cả sự phủ
định cái cũ và cả sự nảy sinh cái
mới. sự lặp lại dường như cái cũ
nhưng trên cơ sở cao hơn. Do
vậy, phát triển là con đường xoáy
ốc từ thấp đến cao.
5
Chương II.
1. Hai nguyên lý cơ bản của
phép biện chứng duy vật.
(trang 2)
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của
2 nguyên lý trên.
• Quan điểm toàn diện.
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến của các sự
vật hiện tượng, chúng ta cần rút
ra quan điểm toàn diện trong việc
nhận thức, xem xét các sự vật và
hiện tượng cũng như trong hoạt
động thực tiễn.
Với tư cách là một nguyên tắc
phương pháp luận trong việc
nhận thức các sự vật và hiện
tượng, quan điểm toàn diện đòi
hỏi để có được nhận thức đúng
đắn về sự vật, chúng ta phải xem
xét nó:
thức một mặt, một mối liên hệ
nào đó của sự vật đó; cuối cũng
khái quát những tri thức phong
phú đó để rút ra tri thức về bản
chất của sự vật.
1.4. Nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến.
Với tư cách là nguyên tắc
phương pháp luận trong hoạt
động thực tiễn phải sử dụng đồng
bộ nhiều biện pháp, nhiều
phương tiện khác nhau để tác
động nhằm thay đổi những liên
hệ tương ứng.
Vận dụng quan điểm toàn diện
vào hoạt động thực tiễn Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng cũng đồng thời coi đổi mới
tư duy lý luận, tư duy chính trị về
CNXH là khâu đột phá; trong khi
nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi
mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh
vực chính trị, Đảng ta cũng xem
đổi mới kinh tế là trọng tâm.
Cần lưu ý rằng mọi sự vật đều
tồn tại trong không gian – thời
gian nhất định mang dấu ấn của
không gian – thời gian đó. Do
vậy, chúng ta cần có quan điểm
lịch sử - cụ thể khi xem xét và giải
trệ, định kiến.
Hơn nữa, quan điểm phát triển
cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự
vật như là cái đang có mà còn
phải nắm được khuynh hướng
phát triển trong tương lai của nó.
Trong quá trình phát triển, sự vật
thường đồng thời có những sự
biến đổi tiến lên và có cả những
biến đổi thụt lùi.
Sự phát triển của các sự vật và
hiện tượng thực tế là quá trình
biện chứng đầy mâu thuẫn. Do
vậy, quan điểm phát triển được
vận dụng vào quá trình nhận thức
cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ
tính phức tạp của quá trình phát
triển như là một hiện tượng phổ
biến.
Vận dụng quan điểm phát triển
với tư cách là nguyên tắc phương
pháp luận của hoạt động thực
tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển
theo quy luật vốn có của nó đòi
hỏi chúng ta phải tìm ra mâu
thuẫn của chính sự vật, và bằng
hoạt động thực tiễn mà giải quyết
mâu thuẫn. Chỉ bằng cách đó,
chúng ta mới góp phần tích cực
vào sự phát triển.
và không ngừng phát triển bởi
con người qua các thời kỳ lịch
sử . Chính vì vậy , hoạt động
thực tiễn bao giờ cũng là hoạt
động vật chất mang tính chất
sáng tạo và có tính mục đích ,
tính lịch sử- xã hội
Vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức
- Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở,
động lực , mục đích của nhận
thức và là tiêu chuẩn của chân
lý , kiểm tra tính chân lý của quá
trình nhận thức .
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm
xuất phát trực tiếp của nhận
thức ; nó đề ra nhu cầu ,nhiệm vụ
, cách thức , khuynh hướng vận
động và phát triển của nhận
thức . Chính con người có nhu
cầu tất yếu khách quan là phải
giải thích thế giới và cải tạo thế
giới nên con người tất yếu phải
tác động vào các sự vật , hiện
tượng bằng hoạt động thực tiễn
của mình . Sự tác động đó làm
cho sự vật , hiện tượng bộc lộ
những thuộc tính , những mối liên
hệ và quan hệ khác nhau giữa
chúng , đem lại những tài liệu cho
nhận thức đòi hỏi chúng ta phải
luôn luôn quán triệt quan điểm
thực tiễn Quan điểm này yêu cầu
việc nhận thức phải luôn xuất
phát từ thực tiễn , dựa trên cơ sở
thực tiễn , đi sâu vào thực tiễn ,
phải coi trọng công tác tổng kết
thực tiễn.
7
Chương I.
2. Quan điểm của chủ nghĩa
DVBC về ý thức? Ý nghĩa
phương pháp luận.
• Nguồn gốc của ý thức.
Theo triết học duy vật biện
chứng, ý thức của con người là
sản phẩm của quá trình phát triển
của cả tự nhiên và lịch sử xã hội.
Vì vậy để hiểu đúng nguồn gốc
và bản chất của ý thức cần phải
xem xét nguồn gốc của ý thức
trên cả hai mặt tự nhiên của xã
hội.
Nguồn gốc tự nhiên.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
cho rằng ý thức không phải có
nguồn gốc siêu tự nhiên, không
phải ý thức sản sinh ra vật chất
mà khẳng định ý thức là một
thuộc tính của vật chất nhưng
người. Bộ não người và sự tác
động của thế giới vật chất xung
quanh lên bộ não người là nguồn
gốc tự nhiên của ý thức.
Nguồn gốc xã hội.
Triết học duy vật biện chứng chỉ
ra chính lao động và ngôn ngữ là
2 nguồn gốc xã hội quyết định
trực tiếp đến sự hình thành và
phát triển của ý thức.
Lao động là quá trình con người
tác động vào giới tự nhiên nhằm
tạo ra những sản phẩm phục vụ
cho các nhu cầu của mình, là một
quá trình trong đó bản thân con
người đóng góp vai trò môi giới,
điều tiết và giám sát trong sự trao
đổi vật chất giữa con người và tự
nhiên. Lao động là điều kiện tự
nhiên và chủ yếu để con người
tồn tại. Nhờ có lao động, con
người tác động vào thế giới
khách quan, bắt khách quan bộc
lộ những thuộc tính. Như vậy, ý
thức được hình thành chủ yếu do
hoạt động cải tạo thế giới khách
quan của con người, làm biến đổi
thế giới đó Ý thức với tư cách là
hoạt động phản ánh sang tạo
không thể có được bên ngoài quá
vật chất. Cả 2 quan niệm đó đều
sai lầm. Chủ nghĩa duy vật biện
chứng dựa trên cơ sở lý luận
phản ánh: về bản chất, coi ý thức
là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ óc con người
một cách năng động, sang tạo; ý
thức là hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan.
Ý thưức là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan, lấy cái
khách quan làm tiền đề, bị cái
khách quan quy định, nó không
có tính vật chất. Ý thức là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách
quan.
Phản ánh ý thức là sáng tạo, do
nhu cầu thực tiễn quy định. Nhu
cầu thực tiễn đòi hỏi chủ thể phải
nhận thức cái phản ánh. Sự sáng
tạo của ý thức là sự sáng tạo của
phản ánh, dựa trên cơ sở phán
ánh.
8
Phản ánh ý thức là tích cực, chủ
động.
Ý thức là 1 hiện tượng xã hội.
Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn
liền với hoạt động thực tiễn, chịu
sự chi phối không chỉ các quy luật
dùng để chỉ những sự biến đổi
xuất hiện do sự tác động giữa
các mặt, các yếu tố trong một sự
vật , hiện tượng hoặc giữa các sự
vật hiện tượng với nhau.
• Mối liên hệ biện chứng
Nguyên nhân sinh ra kết quả,
xuất hiện trước kết quả.Tuy nhiên
không phải hiện tượng nào nối
tiếp nhau về mặt thời gian cũng là
quan hệ nguyên nhân.Ví dụ như
ngày kế đêm, mùa hè kế tiếp mùa
xuân… cái quan hệ nhân quả
phân biệt với quan hệ kế tiếp là ở
chỗ nguyên nhân và kết quả có
quan hệ sản sinh ra nhau.
Sự tác động trở lại của kết quả
đối với nguyên nhân : kết quả do
nguyên nhân sinh ra, nhưng khi
xuất hiện, kết quả lại có ảnh
hưởng trở lại đối với nguyên
nhân. Sự ảnh hưởng đó thể hiện
theo hai hướng : thúc đẩy sự
hoạt động của nguyên nhân hoặc
cản trở sự hoạt động của nguyên
nhân
Nguyên nhân và kết quả có thể
thay đổi vị trí cho nhau: điều này
có nghĩa là sự vật , hiện tượng
nào trong mối quan hệ này là
quả. Vì vậy trong hoạt động thực
tiễn chúng ta cần phải loại bỏ các
nguyên nhân thứ yếu để tìm ra
nguyên nhân cơ bản chủ yếu ;
nguyên nhân bên trong nguyên
nhân bên ngoài; nguyên nhân
chủ quan nguyên nhân khách
quan… đồng thời phải nắm được
chiều hướng tác động của các
nguyên nhân, từ đó có biện pháp
thích hợp tạo điều kiện cho
nguyên nhân tác động tích cực
đến hoạt động và hạn chế sự
hoạt động của nguyên nhân có
tác động tiêu cực . do kết quả có
tác động trở lại nguyên nhân. Vì
vậy trong hoạt động thực tiễn
chúng ta cần phải khai thác tận
dụng các kết quả đã đạt được để
tạo điều kiện thúc đẩy nguyên
nhân phát huy tác dụng nhằm đạt
được mục đích.
• Liên hệ:
Cách mạng tháng tám nổ ra và
thành công là kết quả tổng hợp
giữa các nguyên nhân khách
quan (Pháp bị Nhật đảo chính,
Nhật đầu hàng các đồng minh…)
và nguyên nhân chủ quan là có
sự lãnh đạo đúng đắn và sáng
lực nhận thức và hành động theo
quy luật là điều kiện cho sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng.
Ba là : phải biết kết hợp sức
mạnh của dân tộc và sức mạnh
của thời đại trong điều kiện mới.
Bốn là: phải xây dựng Đảng
ngang tầm nhiệm vụ chính trị của
một Đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cuộc CM-
XHCN
Từ sau khi bắt đầu công cuộc đổi
mới đến nay ,qua quá trình thực
hiện nước ta đã đạt được những
thành tựu rất quan trọng. Đến ĐH
VIII đất nước ta đã khắc phục
được tình trạng khủng hoảng KT-
XH và chuyển sang thời kì mới-
thời kì CNH-HĐH đất nước .văn
kiện Đại hội VIII của Đảng(tháng
6-1996) nhận định : “Nước ta đã
rút khỏi khủng hoảng kinh tế- xã
hội, tuy còn một số mặt chưa
vững chắc”.
Dựa trên việc tổng kết
những nguyên nhân chủ quan và
khách quan từ nguyên nhân của
những thành tựu khởi đầu, những
yếu kém và khuyết điểm sau hơn
15 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ra
công của Đảng và nhà nước ta
cũng như từng Đảng viên , công
nhân viên chức.
Chương III
1. Mối quan hệ biện chứng giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng?
Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những
quan hệ sản xuất hợp thành cơ
cấu kinh tế của xã hội.
Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong
sự vận động của nó,được tạo nên
bởi cả ba loại hình quan hệ sản
xuất: Quan hệ sản xuất thống trị,
quan hệ sản xuất tàn dư và quan
hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình
thức mầm mống, đại biểu cho sự
phát triển của xã hội tương lai,
trong đó quan hệ sản xuất thống
trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối
các quan hệ sản xuất khác, định
hướng sự phát triển của đời sống
kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc
trưng cho chế độ kinh tế của một
xã hội nhất định. Sự tồn tại của
ba loại hình quan hệ sản xuất cấu
thành cơ sở hạ tầng của một xã
hội phản ánh tính chất vận động,
phát triển liên tục của lực lượng
10
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng là hai phương diện
cơ bản của đời sống xã hội đó là
phương diện kinh tế và phương
diện chính trị - xã hội, chúng có
quan hệ thống nhất biện chứng
với nhau, tác động lẫn nhau trong
đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò
quyết định đối với kiến trúc
thượng tầng; kiến trúc thượng
tầng có sự tác động trở lại cơ sở
hạ tầng đã sản sinh ra nó.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ
tầng đối với kiến trúc thượng
tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ
tầng đối với kiến trúc thượng tầng
được thể hiện trên nhiều phương
diện:
Một CSHT sinh ra một KTTT
tương ứng.
Mọi biến đổi của CSHT đến dẫn
đến sự biến đồi của KTTT
Mâu thuẫn của CSHT được phản
ánh thành sự mẫu thuẫn trong
KTTT
Sự đấu tranh giành quyền lợi về
cơ sở kinh tế là nguyên nhân của
sự đấu tranh giành quyền lợi về
của sự phát triển kinh tế -> thúc
đẩy kinh tế phát triển
+ Tiêu cực: Các yếu tổ của KTTT
không phù hợp với nhu cầu
khách quan của sự phát triển kinh
tế -> kìm hãm sự phát triển kinh
tế
Phản ánh mâu thuẫn giai cấp
theo 2 hướng:
+ Duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, duy
trì xã hội hiện tại.
+ Xóa bỏ nền kinh tế cũ, đấu tranh
xác lập một nền kinh tế mới, xây
dựng một thể chế XH khác.
Tuy nhiên, dù kiến trúc thượng
tầng có tác động như thế nào tới
cơ sở hạ tầng thì nó cũng không
thể giữ vai trò quyết định cơ sở
hạ tầng của xã hội.
Ví dụ: Nhà nước tư sản hiện dại
củng cố, bảo vệ, phát triển sở
hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Còn
nhà nước vô sản thì bảo vệ, phát
triển sở hữu xã hội(Tập thể).
Chương III:
câu 2. Tính độc lập tương đối
của ý thức xã hội (trang 2)
Như vậy, nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật lịch sử về tính
độc lập tương đối của ý thức
Trong công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay trên lĩnh vực
văn hóa, tư tưởng, Đảng ta
khẳng định, phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng
XHCN và mở rộng giao lưu
quốc tế song song với việc
quan tâm giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc, kế
thừa và phát huy truyền thống
đạo đức, tập quán tốt đẹp và
lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu
tinh hoa các dân tộc trên thế
giới, làm giàu đẹp thêm nền
văn hóa Việt Nam.
11
12
13
Chương III
2. Tính độc lập tương đối của ý
thức xã hội
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội
quyết định nhưng ý thức xã hội
cũng có tính độc lập tương đối
thể hiện ở:
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn
tồn tại xã hội:
Lịch sử cho thấy rằng, nhiều khi
xã hội cũ đã mất đi, thậm chí đã
mất rất lâu nhưng ý thức xã hội
tiến bộ.
Vì vậy mà trong sự nghiệp xây
dưng xã hội mới chúng ta phải
thường xuyên tăng cường công
tác tư tưởng, đấu tranh chống lại
những âm mưu và hành động
phá hoại của các lực lượng thù
địch đồng thời ra sưc phat huy
những truyền thống tốt đẹp.
Ý thức xã hội có thể vượt trội
trước tồn tại xã hội.
Trong những điều kiện nhất định,
tư tưởng của con người đặc biệt
là những tư tưởng khoa học tiến
bộ có thể vượt trước sự phát triển
của tồn tại xã hội, dự báo được
tương lai và có tác dụng tổ chức,
chỉ đạo hoạt động thực tiễn của
con người, hướng hoạt động đó
vào việc giải quyết những nhiệm
vụ mới do sự phát triển chín muồi
của đời sống vật chất của xã hội
đặt ra.
VD:Ngày nay con người đã có ý
thức tìm ra những hành tinh mới
có sự sống ngoài Trái đất như
Sao hoả.
Ý thức xã hội có tính kế thừa
trong sự phát triển của mình.
Ý thức xã hội mới có tính kế thừa
tưởng tốt đẹp của xã hội phong
kiến như truyền thống tôn sư
trọng đạo, tinh thần yêu nước,
những phong tục cưới xin mang
đậm bản sắc dân tộc. v. v. .
nhưng bên cạnh đó thì những tư
tưởng lac hậu như “nhất nam viết
hữu thập nữ viết vô” hoặc những
hủ tục lạc hậu sẽ dần dần bị bài
trừ.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin về tính kế thừa của ý thức
xã hội có ý nghĩa to lớn đối với sự
nghiệp xây dựng nền văn hoá xã
hội chủ nghĩa. Văn hoá xã hội
chủ nghĩa cần phải phát huy
những thành tựu và truyền thống
tốt đẹp nhất của nền văn hoá
nhân loại từ cổ chí kim trên cơ sở
thế giới quan mác xít. Bởi vậy,
trong công cuộc xây dựng đất
nước, Đảng ta luôn quán triệt tư
tưởng xây dựng nền văn hoá tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, luôn
luôn tiếp thu những tinh hoa văn
hoá của nhân loại, làm giàu thêm
cho nền văn hoá Việt Nam nhưng
phải trên tinh thần hoà nhập
nhưng không hoà tan.
Sự tác động qua lại giữa các hình
ảnh hưởng mạnh mẽ đến triết
học, nghệ thuật, pháp quyền. .
. Ngày nay thì hệ tư tưởng
chính trị và khoa học đang tác
động đến các lĩnh vực của đời
sống tinh thần xã hội.
Ý thức xã hội tác động trở lại
tồn tại xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
không những chống lại quan
điểm duy tâm tuyệt đối hoá vai
trò của ý thức xã hội mà còn
bác bỏ quan điểm duy vật tầm
thường khi phủ nhận tác động
tích cực của ý thức xã hội đối
với tồn tại xã hội. Ph. Ăng
ghen viết: “Sự phát triển về
mặt chính trị, pháp luật, triết
học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật v. v đều dựa vào sự phát
triển kinh tế. Nhưng tất cả
chúng cũng có ảnh hưởng lẫn
nhau và ảnh hưởng đến cơ sở
kinh tế”. Mức độ ảnh hưởng
của tư tưởng đối với sự phát
triển xã hội phụ thuộc vào điều
kiện lịch sử cụ thể; vào tính
chất của các mối quan hệ kinh
tế mà trên đó tư tưởng nảy
sinh; vào vai trò lịch sử của
quy định khách quan vốn có của
các sự vật, hiện tượng, là sự
thống nhất hữu cơ các thuộc tính
làm cho sự vật là nó mà không
phải cái khác; ví dụ, cái bàn, cái
ghế, v.v
Chất của sự vật là khách quan, vì
đó là chất của sự vật, không do ai
gán cho sự vật. Nó do thuộc tính
của sự vật quy định.
b. Khái niệm lượng
Lượng là phạm trù triết học chỉ
tính quy định khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng về mặt
quy mô, trình độ phát triển, biểu
thị con số các thuộc tính, các yếu
tố cấu thành sự vật.
Lượng được thể hiện thành số
lượng, đại lượng, trình độ, quy
mô, nhịp điệu của sự vận động và
phát triển. Chẳng hạn chỉ kích
15
thước dài hay ngắn, quy mô to
hay nhỏ, trình độ cao hay thấp,
tốc độ nhanh hay chậm v.v. Ví dụ,
khi nói sinh viên năm thứ hai, thì
sinh viên là chất để phân biệt với
công nhân, bộ đội, còn năm thứ
hai chính là lượng, chỉ trình độ
của sinh viên.
nhất giữa lượng và chất, là
khoảng giới hạn mà trong đó sự
thay đổi về lượng (tăng lên hoặc
giảm đi) chưa làm cho sự thay
đổi căn bản về chất của sự vật
diễn ra. Ví dụ, độ của chất sinh
viên là từ khi nhập học tới trước
khi bảo vệ thành công đồ án, luận
văn tốt nghiệp
Những điểm giới hạn mà khi sự
thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ
làm cho sự thay đổi về chất của
vật diễn ra được gọi là điểm nút.
Thời điểm bảo vệ thành công đồ
án, hoặc luận văn tốt nghiệp của
sinh viên là điểm nút để chuyển
từ chất sinh viên lên chất cử
nhân.
Sự thay đổi về chất do những
thay đổi về lượng trước đó gây ra
gọi là bước nhảy. Bước nhảy là
sự kết thúc một giai đoạn phát
triển của sự vật và là điểm khởi
đầu của một giai đoạn phát triển
mới. Bước nhảy vọt làm cho sự
vật phát triển bị gián đoạn.
b. Những thay đổi về chất dẫn
đến những thay đổi về lượng
Chất mới ra đời sẽ tác động trở
lại tới sự thay đổi của lượng mới
dần dần những nhân tố của chất
cũ. Ví dụ, quá trình chuyển biến
vượn người thành người diễn ra
hàng vạn năm, hết sức lâu dài.
Cần lưu ý, bước nhảy dần dần (là
sự chuyển hoá dần dần sang
chất mới) khác sự thay đổi dần
dần về lượng (tích luỹ liên tục về
lượng, ví dụ như sự tích luỹ tiền
gửi tiết kiệm) của sự vật.
Căn cứ vào quy mô thực hiện
bước nhảy của sự vật, người ta
chia thành bước nhảy toàn bộ và
bước nhảy cục bộ.
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy
làm thay đổi về chất tất cả các
mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu
thành sự vật. Ví dụ, khi thực hiện
cách mạng Tháng Tám năm
1945, chúng ta đã thực hiện bước
nhảy toàn bộ trên tất cả các mặt
đời sống kinh tế - chính trị - xã hội
- văn hoá - đạo đức, v.v.
Bước nhảy cục bộ là bước nhảy
làm thay đổi một số mặt, một số
yếu tố, bộ phận của sự vật đó. Ví
dụ, quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay đang
hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi
từng mặt đời sống kinh tế - xã hội
bước nhảy khi đã đủ sự tích luỹ
16
về lượng; khi ấy dễ rơi vào bảo
thủ, trì trệ, ngại khó.
Khi tích luỹ về lượng đã đủ cần
thực hiện bước nhảy, tránh bảo
thủ, trì trệ, ngại khó.
Trong hoạt động thực tiễn cần
phân biệt đúng các hình thức của
bước nhảy và vận dụng sáng tạo
bước nhảy.
Để sự vật còn là nó phải nhận
thức được độ của nó và không để
cho lượng thay đổi vượt quá giới
hạn độ. Ví dụ, khi sử dụng đồ
điện phải chú ý tới công xuất,
điện áp của nó, nếu không sẽ
cháy, v.v.