GVTH: nguyễn thị hà
Phòng giáo dục huyện lệ thuỷ
Trờng thcs hồng thuỷ
Sáng kiến kinh nghiệm
TI: I MI V QUAN NIM SON GIO N TLV
LP 7
Gvth: nguyễn thị hà
Trờng THCS: Hồng thuỹ
Năm học: 2005-2006
I - Lí do chọn đề tài :
Thực hiện chỉ thị số 14 - 2001 ngày 11 - 6 - 2001 của thủ tớng chính
phủ và nghị quyết số 40 - 2000 quốc hội về đổi mới GDPT. Ngành giáo dục
nớc ta đã bơc vào năm thứ 4 về đổi mới nội dung, chơng trình và sách giáo
khoa. Đây là một nhu cầu tất yếu khách quan không những đối với giáo dục
1
GVTH: nguyễn thị hà
mà còn đối với sự phất triển của đối với sự phát triển của đời sống xã hội
ngày càng cao.
Cùng với các môn học khác,môn Ngữ văn bậc THCS cũng đổi mới về
nội dung, chơng trình và sách giáo khoa. Việc đổi mới chơng trình, nội dung
và sách giáo khoa đòi hỏi phải đổi mới phơng pháp và học bộ môn này theo
đặc thù riêng của nó. Chính vì vậy khoa học phơng pháp dạy học Ngữ văn
cũng không đi ngoài quỹ đạo chung đó .
Mục tiêu của môn Ngữ văn là nhằm hình thành và phát triển cho học
sinh nhng kiên thc và kỹ năng cơ bản về Tiếng Việt và những phẩm chất trí
tuệ cần thiết để tiêp tục học hỏi hoặc áp dụng vào cuộc sống lao động. Để
đáp ứng yêu cầu đó, SGK Ngữ Văn THCS mới từ lớp 6 đến lớp 9 đều đợc
biên soạn theo cùng một quan điểm xây dựng chơng trình đó là quan điểm
chủ yếu và đã có các phơng pháp học tập tích cực chủ động của học sinh.
I - Cơ sở lý luận:
Mục đích dạy học cuối cùng là cung cấp cho học sinh kiến thức và kỹ
năng. Chính vì vậy việc dạy học môn Ngữ văn không chỉ cung cấp cho học
sinh kiến thức của ngôn ngữ mà mục đích cuối cùng của việc môn Ngữ văn
nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng là học sinh phải biết viết một
bài văn theo yêu cầu. Ngoài việc học tập trên lớp, học sinh tự học tập và rèn
luyện thêm ở nhà
2
GVTH: nguyễn thị hà
- TLV là một trong ba phân môn của môn Ngữ Văn. nó có vị trí đặc biệt
quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập bộ môn thông qua các hệ
thống các bài tập tạo lập văn bản cũng nh thực hành sử dụng tiêng việt. Bản
thân của việc tích hợp ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập Làm Văn trong
mỗi bài học ở sách giáo khoa Ngữ Văn THCS nói chung và Ngữ Văn lớp 7
nói riêng phải đổi mới phơng pháp dạy học. Sự tích hợp này đòi hỏi tất cả các
phân môn phải có sự thay đổi về phơng pháp nhằm đạt kết quả cao của sự
tích hợp. Tất nhiên trong đó có phân môn TLV. Phơng châm của việc tích
hợp là nhằm hớng cho học sinh bên cạnh hệ thông tri thức riêng của từng
phân môn, phải nắm đợc những tri thức có quan hệ với nhau giữa các phân
môn giúp cho học sinh biết vận dụng những tri thức Tiếng Việt, làm văn vào
việc thẩm định cái hay cái đẹp của văn bản, đồng thời biết vận dụng các kỹ
năng, tri thức về Tiếng Việt, Văn Học vào việc tạo lập văn bản phục vụ cho
hoạt động giao tiếp trong đời sống hàng ngày. Trớc tình hình thực tiễn đó tôi
luôn trăn trở, suy ngẫm tìm mọi cách để soạn một giáo án TLV theo phơng
pháp đổi mới mà đăc biệt là TLV lớp 7 để áp dụng vào việc dạy học ở trờng
THCS Hồng Thuỷ.
II - Thực trạng giảng dạy phân môn TLV ở trờng THCS
Hồng Thuỷ.
1. Ưu điểm:
3
GVTH: nguyễn thị hà
định đến sự thành công về đổi mới GDTHCS đấy là phơng tiện dạy học.
Chính vì vậy, những năm gần đây Nhà Nớc mà đặc biệt là ngành giấo dục đã
trang bị một số lợng lớn về thiết bị dạy học nhằm giúp cho học sinh thuận lợi
hơn trong việc quan sát, hình thành kiến thức. Song bản thân tôi đảm nhận
giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 7 mà đặc biệt là phân môn TLV cảm thấy đồ
dùng dạy học quá hạn hẹp và nghèo nàn( nếu giáo viên linh hoạt thì chỉ có
bảng phụ). Điều này cũng do một phần đặc trng của bộ môn. Chính vì vậy
mà dẫn đến hạn chế rất nhiều trong việc giảng dạy, học tập của giáo viên và
học sinh.
III - Một số giải pháp:
- Để đạt đợc kết quả cao trong một giờ dạy đòi hỏi phải có sự tác động qua
lại giữa hai đối tợng là giáo viên và học sinh một cách nhịp nhàng, ăn ý với
nhau. Đối với phơng pháp đổi mới là lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên
đóng vai trò là ngời hớng dẫn. Nó nh là những nhạc công trong một dàn nhạc
giao hởng mà ngời nhạc trởng đó phài là ngời chỉ đạo cả dàn nhạc. a. Đối
với giáo viên :
Để có một tiết dạy phân môn TLV tốt thì ngời giáo viên phải thực hiện
các bớc sau:
- Nghiên cứu kỹ nội dung tiết dạy từ sách giáo khoa và sách giáo viên, sách
tham khảo.
+ Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo và thiết kế bài giảng
là cơ sở quan trọng để giáo viên hoạch định, định hớng giảng dạy của mình
cho một tiết dạy có hiệu quả.
+ Việc nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên sách tham khảo
và thiết kế bài giảng sẽ giúp giáo viên tổ chức điều khiển tiết dạy đúng trọng
tâm kiến thức, phân bố thời gian hợp lý, các bớc hoạt động khoa học. Có thể
nói sách giáo khoa, sách giáo viên là kim chỉ nam xuyên suốt của một tiết
cảm.
- Gọi một học sinh
độc bài văn và nêu
yêu cầu.
? Bài văn "Tấm gơng"
của tác giả Băng Sơn
biểu đạt tình cảm gì ?
- Gọi một học sinh trả
lời, giáo viên nhận
xét, chốt kiến thức,
ghi bảng.
- Giáo viên: Nói cách
khác tác giả mợn tấm
gơng làm điểm tựa,
bàn đạp vì tấm gơng
luôn phản chiếu trung
thành mọi sự vật xung
quanh. Noi gơng, ca
ngợi gơng là gián tiếp
ca ngợi ngời trung
thực.
? Bố cục bài văn gồm
mấy phần:
? Phần mở và kết bài
quan hệ với nhau nh
thế nào:
- Giáo viên nhận xét,
chốt kiến thức, ghi
bảng
? Phần thân bài nêu
xu nịnh.
+ Không một ai mà không soi g-
5
GVTH: nguyễn thị hà
chốt kiểm tra ghi
bảng:
? Những ý đó liên
quan đến bài văn nh
thế nào:
- Giáo viên nhận xét,
chốt kiểm tra ghi
bảng:
? Tình cảm và sự
đánh giá của tác giả
trong bài có rõ ràng
không? Điều đó có ý
nghiã nh thế nào đôí
với giá trị của bài
văn:
- Giáo viên nhận xét ,
chôt kiêm tra , ghi
bảng.
- Giáo viên treo bảng
phụ gọi một học sinh
đọc và yêu cầu:
- Chú ý các loại dấu
câu.
? Đoạn văn trên biểu
đạt tình cảm gì ?
- Trực tiếp.
- Tiếng kêu,
câu hỏi
ơng.
+ Hạnh phúc nhất khi có một tâm
hồn đẹp để soi vào lơng tâm
không thấy hổ thẹn.
- Tình cảm và sự đánh giá của tác
giả trong bài văn là rỏ ràng và
chân thực. Điều đó tạo sự xúc
động chân thành đối với ngời
đọc.
2. Đoạn văn Những ngày thơ
ấu của tác giả Nguyên Hồng.
- Tình cảm biểu đạt trong đoạn
văn trên là tình cảm cô đơn, cầu
mong sự giúp đỡ, thông cảm.
- Tình cảm ấy đợc tác giả biểu
hiện trực tiếp.
- Dấu hiệu: câu hỏi, câu cảm
6
GVTH: nguyễn thị hà
Tình cảm mà tác giả
đề cập trong đoạn văn
ngắn là tình cảm cô
đơn, cầu mong s giúp
đỡ thông cảm ngời
khác với những ngời
con đang kêu lên,
không?
- Đấy cũng chính là
phần ghi nhớ mà SGK
đề cập.
- Gọi một học sinh
đọc ghi nhớ
- Tình cảm
trung thực, cô
đơn.
- Chỉ cần tập
trung một thứ
tình cảm chủ
yếu.
- HS trả lời.
- 3 phần.
Một HS đọc
ghi nhớ
3. Nhận xét
- Một bài văn biểu cảm tập trung
biểu đạt một tình cảm chủ yếu.
- Để biểu đạt tình cảm chủ yếu
ngời viết chọn hình ảnh tợng tr-
ng( đồ vật, loài cây) hoặc trực
tiếp biểu đạt cảm xúc trong
lòng Tình cảm đó phải chân
thật.
- Bố cục bài văn biểu cảm bao
gồm 3 phần.
* Ghi nhớ ( SGK).
với chơng trình, sách giáo khoa mới nêu đợc áp dụng tôi tin chắc nó sẽ đem
lại hiệu quả cho việc dạy và học phân môn tập làm văn ở Trơng Trung Học
Cơ Sở HồngThuỷ.
Hồng Thuỷ: Ngày 25/4/20068