Xây dựng mô hình hiệu quả cho sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo (Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 26

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa khoa học quản lý

Bùi Việt Nga

Xây dựng mô hình hiệu quả
cho sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo
(Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
và Đại học Quốc gia Hà Nội) Luận văn thạc sĩ khoa học

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60 34 72

Giáo viên hướng dẫn: gS.TSKH. Nguyễn văn điệp
Hà Nội - 2008

7
Phần mở đầu
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức, chúng ta đang
tham gia vào quá trình hội nhập với thế giới. Nền giáo dục nước ta cũng
đang đứng trước những thách thức mới của thời đại trong cuộc đua tranh

vào công tác nghiên cứu khoa học. Các nhà khoa học ở các trường đại học
hiện nay quá tải về giảng dạy, ít có điều kiện nghiên cứu: Tỷ lệ sinh
viên/1cán bộ giảng dạy trong hệ thống các trường đại học Việt Nam là
30/1, là quá cao so với khu vực và thế giới. Nhìn chung, bức tranh nghiên
cứu khoa học ở nước ta hiện đang mất cân đối, nghiêng về lý thuyết.
Nghiên cứu khoa học tại các trường đại học chưa tương xứng với đội ngũ
giảng viên đông đảo và sứ mạng đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất
nước. Tỷ lệ số bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế do nội lực giữa
trường đại học và viện nghiên cứu trong 5 năm 2000  2004 là 179/271
(~66%).
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước,
xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, giữa các trường đại học và viện nghiên
cứu đã thiết lập được một số liên kết trong công tác đào tạo và nghiên cứu
khoa học. Tuy nhiên kết quả thu được vẫn còn nhiều điều cần phải xem xét
và nghiên cứu kể cả các vấn đề về cơ chế, chính sách và sự quan tâm đầu tư
của các Bộ, ngành liên quan.

9
Từ những lý do trên đây, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Xây
dựng mô hình hiệu quả cho sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào
tạo (Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và
Đại học Quốc gia Hà Nội)”.
2. Lịch sử nghiên cứu
ở Việt Nam, hiện nay sự kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo đang là
nội dung luôn được chú ý. Về chủ trương và sự cần thiết của việc phối hợp
này đã được thể hiện trong nhiều nghị quyết, văn bản của Đảng và Nhà
nước. Song cho đến nay, cơ chế để thực hiện vấn đề kết hợp cũng như
phương thức kết hợp vẫn còn là vấn đề được đề cập tới trong nhiều hội thảo
khoa học của các bộ, ngành, cũng như trên các diễn đàn, phương tiện thông
tin đại chúng.

Trên cơ sở nhận biết xu thế phát triển của hệ thống giáo dục và đào
tạo trên thế giới, đồng thời tìm hiểu một số mô hình phối hợp nghiên cứu
và đào tạo trên thế giới và tại Việt Nam, một mô hình hiệu quả cho sự gắn
kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo được đề xuất.
5. Vấn đề nghiên cứu
Có phải mô hình hoạt động của các viện nghiên cứu trong trường đại
học là xu thế tất yếu của hệ thống giáo dục và đào tạo?

11
Cần phải xây dựng mô hình như thế nào để cho sự kết hợp giữa
nghiên cứu khoa học và đào tạo có hiệu quả?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Xu thế tất yếu của hệ thống giáo dục và đào tạo là mô hình hoạt động
của các viện nghiên cứu trong trường đại học.
Với tình hình của nước ta hiện nay, mô hình phối thuộc là một trong
những mô hình hiệu quả cho sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào
tạo.
7. Phương pháp chứng minh giả thuyết nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng khi tiến hành nghiên cứu luận văn
này là:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nguồn tài liệu là các tạp chí
chuyên ngành, các bài báo trên phương tiện Internet, những số
liệu tập hợp thống kê , các báo cáo nghiên cứu về vấn đề có liên
quan của các tổ chức trong nước và quốc tế;
- Phương pháp phỏng vấn sâu: 30 phỏng vấn sâu được thực hiện
với nhóm cán bộ nghiên cứu tham gia vào công tác đào tạo, cán
bộ tham gia công tác quản lý, các giảng viên đại học vào khoảng
thời gian từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 9 năm 2008. Các thông
tin thu thập bao gồm: Xu hướng phát triển của hệ thống giáo dục
đào tạo trên thế giới và Việt Nam; Các điều kiện để mô hình phối

 Tài liệu tham khảo
 Các phụ lục 14
Chương 1: Cơ sở lý luận về
nghiên cứu khoa học và đào tạo
1. Nghiên cứu khoa học
Theo truyền thống của nhiều đại học thế giới, nghiên cứu khoa học
luôn là một bộ phận hợp thành chức năng của trường đại học. Tuy nhiên,
tùy các thiết chế khác nhau của đại học ở mỗi quốc gia, mà chức năng
nghiên cứu khoa học của đại học mang những đặc điểm và đạt được những
trình độ khác nhau.
Ngày nay, xã hội con người đang dần từ giã nền văn minh cơ học để
bước vào nền văn minh thông tin. Hệ thống giáo dục của thế giới đã không
ngừng biến đổi phù hợp với sự biến đổi của xã hội loài người. Hệ thống
giáo dục ngày nay được mang khá đầy đủ dấu ấn của những công cuộc cải
cách giáo dục trong xu thế của cách mạng công nghiệp. Các nhà nghiên
cứu giáo dục hầu như đã thống nhất ý kiến cho rằng các tiêu chí cơ bản của
con người được đào tạo phải thể hiện ở ba mặt kiến thức, kỹ năng và hành
vi.
Hiện nay, ở nước ta ta còn tồn tại nhiều cách hiểu rất khác nhau về
khái niệm “nghiên cứu khoa học”.
Tác giả Vũ Cao Đàm đã nêu ra hai định nghĩa sau đây về “nghiên cứu
khoa học” [5]:
Định nghĩa thứ nhất, nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm tòi,
khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thoả mãn
nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật,
biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.


vụ hậu công nghiệp, giáo dục đại học càng trở nên quan trọng khi nó được
coi là nền móng của kinh tế tri thức thế kỷ XXI. Vai trò của giáo dục đại
học vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế này cũng như đối với những
biến đổi xã hội. Các trường đại học là những cơ quan trọng yếu nối kết
thông tin, đào tạo và nghiên cứu. Hơn nữa, trường đại học là nơi giao tiếp
về khoa học và công nghệ giữa các quốc gia khác nhau và các nền học
thuật trên thế giới đang có mối liên hệ ngày càng tăng với các nền kinh tế.
Giáo dục đại học đang thực hiện những chức năng cụ thể sau: [22]
Đào tạo: Các nền kinh tế tri thức cần nhân sự có kỹ năng ở mọi trình
độ và với số lượng ngày càng nhiều. Công nghệ đòi hỏi những kiến thức
chuyên sâu, và điều này quan trọng không kém, kỹ năng thích nghi với
những thay đổi công nghệ đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Trường đại
học và các trường nghề sau trung học cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo
này. Các trường đại học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra
những nhà khoa học hàng đầu trong lực lượng nghiên cứu, cũng như trong
việc tạo ra những người lao động trình độ cao vô cùng cần thiết đối với nền
kinh tế mới.
Nghiên cứu: Trường đại học cung cấp những nghiên cứu cơ bản và
ứng dụng cần thiết cho nền kinh tế tri thức. Mối liên hệ giữa trường đại học
và công nghiệp sản xuất cũng như những liên quan về mặt khoa học trong
lĩnh vực công nghệ sinh học và những lĩnh vực khác đã cho thấy giá trị và

17
sự liên quan mật thiết giữa nghiên cứu và đời sống. Sản phẩm mà các
trường đại học tạo ra đã làm tăng một cách đáng kể những phương tiện cải
thiện nền kinh tế.
Truyền thông: Đối với cộng đồng học thuật, các trường đại học
không chỉ liên quan đến truyền thông tri thức, mà còn là những mắt xích
trọng yếu đối với việc tiếp thu và truyền đạt tri thức, đồng thời tiếp nhận
chuyển giao tri thức từ cộng động khoa học quốc tế.

tạo bậc thạc sĩ và có trường đào tạo cả bậc tiến sĩ; có trường tập trung
tại một địa điểm, có trường gồm nhiều địa điểm khác nhau. Tuy nhiên
bao giờ cũng có một tỷ lệ nhất định các đại học nghiên cứu chất lượng
cao để đào tạo tinh hoa, tài năng (nguồn nhân lực chất lượng cao cho
nền kinh tế tri thức).
2. Các trường đại học có tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, các trường
gần như tự quyết định mọi hoạt động của nhà trường.
3. Các trường đại học là nơi giao thoa của ba chức năng: Đào tạo,
Nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, sự kết hợp chặt chẽ ba chức
năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến lược phát triển
giáo dục đại học của các nước trên thế giới. Các trường đại học không
chỉ là trung tâm đào tạo mà thực sự trở thành các trung tâm nghiên
cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và
chuyển giao công nghệ mới hiện đại. Trong đó, nghiên cứu khoa học
và phục vụ thực tiễn vừa là phương tiện (học qua nghiên cứu), vừa là
mục đích (học cho nghiên cứu) vừa là động lực để đào tạo, nhất là đào

19
tạo chất lượng cao. Nói một cách khác, nghiên cứu khoa học và phục
vụ xã hội là yếu tố quyết định nhất tới chất lượng đào tạo. Vì vậy, liên
kết với các doanh nghiệp, với sản xuất (theo công thức: Nhà nước -
Đại học – Cộng đồng – Doanh nghiệp) là xu hướng ngày một phát
triển.
Các trường đại học có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động
khoa học và công nghệ của đất nước với ba thế mạnh: Tiềm năng to
lớn về chất xám của đội ngũ cán bộ; Lực lượng hùng hậu sẵn sàng
triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học; Tạo ra hiệu quả kép (sản
phẩm khoa học và công nghệ và sản phẩm đào tạo).
4. Các trường đại học có giải pháp phù hợp để hạ thấp quy mô đào tạo
đại học, nâng cao dần quy mô đào tạo sau đại học; giảm dần tỷ lệ giữa

tác đào tạo tại trường đại học. Sự kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa
học là tiền đề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Nghiên cứu khoa học được quan niệm là một chức năng đặc trưng của
hệ thống giáo dục đào tạo. Một văn bằng đại học ở nước ngoài được định
nghĩa khái quát như sau: Văn bằng đại học là cái được cấp để công nhận
việc hoàn thành một chương trình học có trình độ cao: được giảng dạy chủ
yếu bởi những người có nghiên cứu khoa học và được trang bị những

21
nguyên lý chung và kiến thức cơ bản, là cơ sở để làm việc và học tập một
cách chủ động. [9]
Hiện nay, trên thực tế, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có chức
năng chủ yếu là đào tạo. Chức năng nghiên cứu nằm ở hệ thống các viện
thuộc hai Trung tâm Khoa học Quốc gia. Vị trí của nghiên cứu khoa học
trong các trường đại học ở nước ta hầu như được đặt ở mức rất khiêm tốn
so với các viện nghiên cứu. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đang làm
việc ở các trường đại học ở nước ngoài, khi về làm việc ở trong nước cũng
đều có nhận xét chung như vậy. Có thể kể đến, giáo sư Bùi Trọng Liễu
(Đại học Paris V), giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Ohio) và gần đây là giáo
sư Vũ Quốc Phóng (Đại học Ohio), các tác giả có nhiều bài đăng trên báo
chí trong nước đóng góp ý kiến về chính sách đối với hoạt động nghiên cứu
khoa học của các trường đại học.[8]
Đúng như vậy, khi làm việc trong điều kiện bình thường ở trong nước,
chúng ta thấy sự tồn tại của mạng lưới tổ chức khoa học ở Việt Nam như
một lẽ đương nhiên, nhưng nếu có để tâm quan sát cách thức tổ chức khoa
học ở nước ngoài, có đọc kỹ những bài mà những nhà khoa học nước ngoài
viết về tổ chức khoa học ở trong nước, chúng ta mới suy ngẫm ra được
nhiều điểm bất hợp lý của nó.
Theo những con số công bố chính thức của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) thì ở Việt Nam có

có tổ chức có liên quan theo quyết định của các bộ.
Vai trò của nghiên cứu khoa học trong trường đại học được nhận thức
qua hai khía cạnh sau: [11]

23
Đối với bản thân trường đại học:
Nghiên cứu khoa học góp phần tạo ra và nâng cao chất lượng đào tạo,
nhất là đào tạo sau đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nghiên cứu khoa học giúp phát triển các ngành đào tạo mới, các lĩnh
vực nghiên cứu mới đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới.
Nghiên cứu khoa học và công nghệ (gọi chung là hoạt động khoa học
và công nghệ) trong trường đại học là cầu nối gắn kết nhà trường với nền
kinh tế - xã hội, làm cho mỗi trường đại học trở thành một trung tâm khoa
học, giáo dục, kinh tế và văn hóa lớn của từng địa phương, từng vùng hoặc
quốc gia.
Hoạt động khoa học và công nghệ góp phần tạo thêm nhiều nguồn thu,
tăng cường các nguồn lực của nhà trường.
Đối với nền kinh tế - xã hội:
Hoạt động khoa học và công nghệ giúp trường đại học thực hiện tốt
chức năng thứ ba: phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao vị
thế của nhà trường trong xã hội.
Hoạt động khoa học và công nghệ tạo ra và nâng cao chất lượng các
dịch vụ xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của
nhân dân.
Nguyên tắc đào tạo cần thiết ở các trường đại học chất lượng cao
chính là đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu. Nghiên cứu vừa là mục
đích, vừa là phương tiện, vừa là động lực để đào tạo. Nguyên tắc này cần

24

thông tin tri thức mà phải lôi cuốn người học vào một lĩnh vực tri thức nhất
định với tinh thần học hỏi và niềm say mê sáng tạo. Một nhà nghiên cứu có
thể kiểm định và phát triển những tri thức sâu rộng của mình qua khả năng
chuyển tải tri thức không chỉ tới các đồng nghiệp mà tới cả sinh viên và học
viên sau đại học. Như vậy trường đại học là môi trường quan trọng trong
việc liên kết giữa truyền tải tri thức và sáng tạo tri thức của nhà giáo - nhà
khoa học, là một cơ cấu không thể tách rời các hoạt động dạy - học -
nghiên cứu khoa học, ở đó sinh viên (bao gồm cả học viên sau đại học) vừa
là đối tượng có khả năng tiếp nhận trực tiếp những khám phá khoa học mới
ngay khi chúng vừa xuất hiện, vừa là chủ thể có thể tham gia vào chính quá
trình khám phá khoa học. Trường đại học một khi đảm bảo được những
điều kiện để thực hiện tốt hai chức năng trên chắc chắn sẽ cung cấp cho xã
hội nguồn nhân lực chất lượng cao.

26
Trong thời đại ngày nay, triết lý của đại học nghiên cứu được nâng
cao hơn “học để làm những điều chưa học”, học cách học suốt đời (vì trong
thời đại thông tin, kiến thức được nâng cao và đổi mới rất nhanh - cứ sau
510 năm lượng kiến thức đã tăng gấp đôi. Ngay sau khi tốt nghiệp thì một
số kiến thức đã đổi mới). Muốn vậy, người thầy không những phải nghiên
cứu giỏi mà còn phải có cách đào tạo giỏi - đào tạo qua nghiên cứu và cho
nghiên cứu. Một cách khái quát, trong Đại học nghiên cứu, hàm lượng
nghiên cứu khoa học rất cao trong mọi lĩnh vực hoạt động.
1.2. Xu hướng phát triển của hệ thống giáo dục trên thế giới
Chúng ta đang sống trong thời đại với xu hướng toàn cầu hoá và hội
nhập, trước hết là trong kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ, thế giới
hướng tới sự phát triển bền vững. Trong hoàn cảnh đó, đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao là chiến lược phát triển (cạnh tranh) của các nước; với
đặc trưng: “Học để biết, học để làm, học để sống với nhau và học để tồn
tại” (UNESCO, 1996) khác với quan niệm truyền thống trước đây: Học để

Về mặt cấu trúc tổ chức của các Đại học nghiên cứu trên thế giới, hệ
thống đào tạo gồm: các trường nhỏ đào tạo đại học; Khoa sau đại học quản
lý đào tạo sau đại học; Hệ thống nghiên cứu khoa học gồm: các viện, trung
tâm, phòng thí nghiệm Hai hệ thống này có bộ khung quản lý riêng,
nhưng đội ngũ cán bộ hầu như là một. ở một số nước, các đơn vị đào tạo
gần như chỉ gồm bộ phận quản lý hành chính, còn giảng dạy, chủ yếu là các
cán bộ nghiên cứu sang đảm nhận (Hà Lan); ở một số nước khác, dưới
khoa là viện, viện vừa nghiên cứu, vừa giảng dạy (Đức); ở một số nước

28
khác, các nhóm nghiên cứu nằm ngay trong bộ môn, đơn vị quản lý giảng
dạy (Nga).
2. Các mô hình liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo trong và ngoài
nước
2.1. Tình hình thế giới
Việc kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo được tổ chức thực hiện theo
nhiều hình thức khác nhau ở các nước trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện
lịch sử phát triển, điều kiện kinh tế xã hội và đôi khi là các lý do chủ quan
khác. Xu thế chủ đạo là tiến hành công tác đào tạo và nghiên cứu trong
cùng một đơn vị (thí dụ như tại Mỹ và nhiều quốc gia phát triển khác). Tuy
nhiên, như trên đã nói, do những lý do lịch sử, nhiều nơi vẫn tồn tại riêng
biệt các tổ chức nghiên cứu và đào tạo (điển hình là ở Pháp, Nga và một số
nước khác). Do đòi hỏi của lợi ích cộng đồng, nhiều hình thức liên kết đã
được thử nghiệm và áp dụng. Trong bản luận văn này, tác giả sẽ tập trung
vào việc giới thiệu mô hình liên kết nghiên cứu và đào tạo giữa Trung tâm
Nghiên cứu Khoa học Quốc gia – tổ chức nghiên cứu khoa học lớn nhất
của Pháp (CNRS), có nhiều nét tương đồng với Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam (chắc chắn ở một quy mô to lớn và bề dầy lịch sử hơn
nhiều), và các Trường Đại học Pháp. Có thể đây là các gợi ý cho việc gắn
kết Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Đại học Quốc gia Hà Nội


30
 Ban Toán học, Vật lý, các Khoa học Trái đất và Thiên văn;
 Ban Hóa học;
 Ban các Khoa học Sự sống;
 Ban Khoa học Xã hội và Nhân văn;
 Ban các Khoa học Môi trường và Phát triển bền vững;
 Ban các Khoa học và Công nghệ Thông tin và Kỹ thuật;
 Viện Vật lý Hạt và Hạt nhân quốc gia;
 Viện các Khoa học Trái đất và Thiên văn;

Trích đoạn Hoàn thiện mô hình phối thuộc giữa Viện Cơ học và Trường đại học Công nghệ Giải phápđể mô hình phối thuộc viện nghiên cứu và trường đại học hoạt động hiệu quả Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status