Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình chi nhánh Thái Nguyên - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương
mại cổ phần An Bình chi nhánh Thái Nguyên
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS.
Nguyễn Hữu Tài
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mỹ
Hạnh
Lớp : Ngân hàng 49A
MSSV: CQ 490788
Hà Nội - 2011
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1.2.7. Quy trình bảo lãnh của ngân hàng 21
Sơ đồ 1.1. Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng 22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1. ABBank : Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình
2. ĐHKTQD : Đại Học Kinh tế Quốc dân
3. GTCG : Giấy tờ có giá
4. HSBC : Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải
5. NHNN : Ngân hàng Nhà Nước
6. NPV : Giá trị hiện tại ròng
7. QĐ : Quyết định

bước hoàn thiện hoạt động này để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp
của nền kinh tế. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng ra đời nhằm bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của bên thụ hưởng bảo lãnh, trong trường hợp khách hàng của ngân
hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ theo như thoả thuận thì ngân hàng sẽ đứng ra
thực hiện thay. Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng còn giúp các bên tham gia nắm bắt
được nhiều cơ hội kinh doanh, tăng vòng quay của tiền tệ trong quá trình chu
chuyển vốn, tạo hiệu quả lớn cho xã hội. Tuy nhiên, bảo lãnh vẫn còn là một hoạt
động khá mới mẻ ở Việt Nam nên sự phát triển của hoạt động này thời gian qua vẫn
còn quá nhỏ bé so với những đòi hỏi bức bách của nền kinh tế. Do vậy, một trong
những định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng An
Bình nói riêng trong thời gian tới là phải nâng cao chất lượng hoạt động này để nó
trở thành một trong những hoạt động chủ đạo, đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Xuất phát từ lý do đó, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng An Bình chi
nhánh Thái Nguyên, em đã quyết định chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng hoạt
động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình chi nhánh Thái
Nguyên” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Nội dung chuyên đề ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
mục chữ cái viết tẳt, danh mục tài liệu tham khảo, gồm có:
Chương I :Tổng quan về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại
Chương II :Thực trạng chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Ngân Hàng
Thương Mại Cổ phần An Bình Chi Nhánh Thái Nguyên
Chương III :Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Ngân
Hàng Thương Mại cổ phần An Bình Chi nhánh Thái Nguyên
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu

Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Đây là chức năng cơ bản của ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại
nói riêng. Ta vẫn biết rằng, để dòng vốn từ những người cho vay - người tiết kiệm
đến được với những người đi vay - người chi tiêu bằng con đường trực tiếp tức là
họ tự tìm ra và đáp ứng nhu cầu của nhau thì cần chi phí rất lớn về thời gian, không
gian, về chi phí giao dịch, chi phí rủi ro và nhất là cần có sự tin tưởng lẫn nhau giữa
họ… Nhưng khi ngân hàng xuất hiện, đã dùng uy tín của mình tiến hành tập hợp
những khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư, sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ chuyên sâu
để thẩm định thông tin cần thiết, hạn chế được trường hợp thông tin không cân
xứng và rủi ro đạo đức, rồi cho vay ra với nền kinh tế, kịp thời đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh. Nhờ có sự tham gia của ngân hàng mà người tiết kiệm có thể có
thu nhập cao hơn, người đi vay giảm được phí tổn tín dụng và qua đó khoản đầu tư
của họ được hiệu quả hơn. Phần chênh lệch lãi suất giữa cho vay và đi vay trở thành
nguồn thu chủ yếu của ngân hàng.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán
Ngân hàng là một trong bốn tác nhân tham gia vào quá trình tạo tiền cho nền
kinh tế. Kể cả khi ngân hàng hoạt động riêng lẻ hay tham gia vào hệ thống các ngân
hàng thương mại như một tổng thể thì nó đều góp phần tạo ra phương tiện thanh
toán cho nền kinh tế. Ví dụ, khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng (cho khách
hàng vay) thì tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có
thể sử dụng để mua sắm hàng hoá và dịch vụ. Do vậy ngân hàng đơn lẻ đã tạo ra
phương tiện thanh toán bằng cách trên. Cũng như vậy, khi ngân hàng tham gia vào
hệ thống các ngân hàng thương mại thì việc ngân hàng cho vay một khách hàng,
khách hàng sử dụng khoản tiền đó chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu của một khách
hàng khác tại ngân hàng khác, ngân hàng đó lại tiếp tục cho vay ra sau khi đã dự trữ

hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được
trả thay”.
1.2.2. Các bên tham gia bảo lãnh, quyền và nghĩa vụ mỗi bên
Tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh thường có 3 bên như sau: bên bảo lãnh, bên
nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Có thể hiểu như sau, khi ngân hàng cung cấp
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
dịch vụ bảo lãnh thì ngân hàng sẽ là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng sẽ là
bên được bảo lãnh và bên thứ ba sẽ là người nhận bảo lãnh. Ngoài ra trong một số
trường hợp còn có các bên liên quan khác như bên xác nhận bảo lãnh, bên đối ứng
bảo lãnh… Dưới đây sẽ là phần trình bày rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
1.2.2.1. Bên bảo lãnh
a. Quyền của bên bảo lãnh
- Chấp nhận, từ chối đề nghị cấp bảo lãnh của khách hàng hoặc bên bảo lãnh
đối ứng;
- Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết liên quan đến việc
thẩm định bảo lãnh và tài sản bảo đảm nếu có, yêu cầu có những biện pháp bảo đảm
cho nghĩa vụ của tổ chức tín dụng (nếu cần);
- Thu phí bảo lãnh theo thỏa thuận ký kết trong hợp đồng bảo lãnh;
- Đề nghị bên xác nhận bảo lãnh xác nhận đối với khoản bảo lãnh của mình
cho khách hàng;
- Hạch toán ghi nợ và yêu cầu khách hàng của mình hoặc bên bảo lãnh đối ứng
hoàn trả số tiền mà bên bảo lãnh đã thực hiện thay nghĩa vụ;
- Xử lý tài sản đảm bảo của khách hàng theo như quy định của pháp luật và
thỏa thuận ký kết trong hợp đồng;
- Có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật nếu như khách hàng hay bên
bảo lãnh đối ứng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết;

- Có thể chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ bảo lãnh của mình cho tổ chức tín
dụng khác nếu có sự chấp nhận bằng văn bản của các bên có liên quan.
* Nghĩa vụ của bên xác nhận bảo lãnh
- Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo như cam kết;
- Hoàn trả đầy đủ tài sản đảm bảo (nếu có) và các giấy tờ khác liên quan cho
bên bảo lãnh hoặc khách hàng khi tiến hành thanh lý hợp đồng cấp bảo lãnh.
Đối với bên bảo lãnh đối ứng
* Quyền của bên bảo lãnh đối ứng
Cũng tương tự như với bên bảo lãnh hay bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh
đối ứng có những quyền sau:
- Chấp nhận hoặc từ chối đề nghị phát hành bảo lãnh đối ứng của khách hàng;
- Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các tài liệu thông tin có liên quan về tài
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
sản đảm bảo, thẩm định khoản bảo lãnh, các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ được
tổ chức tín dụng bảo lãnh đối ứng (nếu cần), yêu cầu khách hàng hoàn trả lại số tiền
mà bên bảo lãnh đối ứng đã trả thay;
- Thỏa thuận với khách hàng về phí bảo lãnh;
- Hạch toán ghi nợ và yêu cầu khách hàng hoàn trả số tiền mà bên bảo lãnh đối
ứng đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh;
- Xử lý tài sản đảm bảo của khách hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy
định của pháp luật;
- Khi khách hàng hoặc bên bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết thì bên bảo
lãnh đối ứng có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật;
- Có thể chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ bảo lãnh của mình cho tổ chức tín
dụng khác nếu có sự chấp nhận bằng văn bản của các bên có liên quan.
* Nghĩa vụ của bên bảo lãnh đối ứng
- Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo như cam kết;

1.2.3. Chức năng của bảo lãnh
1.2.3.1. Chức năng bảo đảm
Bảo đảm là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Người thụ
hưởng tham gia vào quan hệ bảo lãnh luôn được bảo đảm về quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Nghĩa là trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thì bên bảo lãnh sẽ thực
hiện thay theo như cam kết trong hợp đồng bảo lãnh. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng
cũng đem lại sự đảm bảo cho bên được bảo lãnh, tức là, chỉ khi người thụ hưởng
xuất trình đầy đủ những chứng từ cần thiết theo đúng điều khoản, điều kiện của thư
bảo lãnh thì mới được đòi tiền. Hơn nữa, ngân hàng phát hành bảo lãnh còn thường
xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát, tạo áp lực thực hiện tốt hợp đồng và giảm thiểu
vi phạm của bên được bảo lãnh. Vì vậy đây là một loại hình dịch vụ có tính an toàn
cao của ngân hàng và ngày càng được sử dụng rộng rãi để đảm bảo an toàn cho các
giao dịch kinh tế phát sinh.
1.2.3.2. Chức năng tài trợ
Thông qua chức năng tài trợ của mình, bảo lãnh ngân hàng đã giúp cho khách
hàng (bên được bảo lãnh) có cơ hội tiếp xúc nhanh chóng với nguồn hàng hóa, thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao. Ví dụ như, khi một
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
nhà thầu tham gia đấu thầu cho một công trình xây dựng, để hạn chế rủi ro trong
trường hợp nhà thầu đó trúng thầu nhưng không thực hiện theo như hợp đồng hay
loại trừ một số nhà thầu ảo, chất lượng thấp thì chủ thầu thường yêu cầu nhà thầu
phải ký quỹ dự thầu một số tiền nhất định. Điều này gây ra nhiều thủ tục phiền phức
và gây ứ đọng vốn cho các bên tham gia. Nếu sử dụng bảo lãnh dự thầu của ngân
hàng, nhà thầu sẽ không phải ký quỹ dự thầu, do đó giải quyết được vấn đề ứ đọng
vốn, nhà thầu sẽ được hưởng lợi về ngân quỹ như đi vay thực sự ngân hàng.
Có thể thấy, với chức năng tài trợ, bảo lãnh ngân hàng đã trở thành một trong

bên kia, và từ đó các cơ hội kinh doanh cũng dần rộng mở hơn.
1.2.4.1. Đối với doanh nghiệp
Bảo lãnh ngân hàng ra đời đã giúp doanh nghiệp giải quyết được một bài toán
hóc búa trong đầu tư kinh doanh.
- Đối với bên hưởng bảo lãnh: Nếu không có bảo lãnh ngân hàng, khi làm ăn
với một đối tác mới, chưa giao dịch nhiều rất có thể họ sẽ cẩn trọng mà bỏ qua mối
làm ăn tốt, từ đó làm giảm lợi nhuận trong kinh doanh. Bảo lãnh ngân hàng giúp
bên hưởng bảo lãnh vừa nắm bắt được thời cơ, cơ hội thích hợp vừa giảm thiểu
được thời gian và chi phí xác minh để yên tâm ký kết hợp đồng. Bảo lãnh ngân
hàng giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được đối tác đáng tin cậy, giảm thiểu rủi ro
trong kinh doanh. Bên hưởng bảo lãnh luôn được đảm bảo chắc chắn về quyền lợi,
nếu như bên được bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết thì ngân hàng phát hành
bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện thay nghĩa vụ đó.
- Đối với bên được bảo lãnh: Nếu bên được bảo lãnh là một doanh nghiệp trẻ
mới thành lập, chưa có nhiều uy tín trên thương trường thì bảo lãnh ngân hàng đích
thực là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp phát triển hoạt động kinh doanh của
mình. Đối tác sẽ tin cậy và sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với
chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng thì doanh nghiệp được bảo lãnh sẽ thực
hiện công việc nghiêm túc và có hiệu quả, có trách nhiệm hơn. Bên được bảo lãnh
phải trả cho ngân hàng một khoản phí bảo lãnh, khoản tiền này tính vào chi phí của
doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả đồng vốn của mình,
nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.2.4.2. Đối với ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, nó đem lại lợi ích
trực tiếp là khoản thu từ phí bảo lãnh cho ngân hàng. Đây là một trong những khoản
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
thu phí dịch vụ lớn nhất của ngân hàng hiện nay, góp phần không nhỏ vào lợi nhuận

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất ra nước ngoài, tạo ra nguồn thu về ngoại
tệ, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và ổn định giá trị đồng tiền.
Bảo lãnh ngân hàng thông qua công cụ hạn mức bảo lãnh có thể kích thích
tăng trưởng đối với hoạt động trong lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, các
ngành công nghiệp mũi nhọn, trọng điểm, hoặc cũng có thể có chính sách bảo
lãnh khắt khe như thu hẹp hạn mức bảo lãnh đối với những lĩnh vực mà Nhà
nước còn hạn chế…
Bảo lãnh ngân hàng giúp duy trì tính lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Các doanh nghiệp được bảo đảm về quyền lợi của mình nên yên tâm thực hiện
hợp đồng, thực hiện một cách nghiêm túc và đúng thời hạn thỏa thuận. Qua đó, nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu vai trò của bảo lãnh ngân hàng ta đã phần
nào hiểu được tầm quan trọng to lớn của bảo lãnh không chỉ đối với bản thân doanh
nghiệp, ngân hàng mà còn đối với cả nền kinh tế trong nước và trên thế giới. Vì
vậy, các ngân hàng luôn nỗ lực hết mình để phát triển ngày càng đa dạng các loại
hình bảo lãnh, đáp ứng nhu cầu thường xuyên, liên tục của khách hàng. Dưới đây ta
sẽ tìm hiểu kỹ hơn về các loại hình bảo lãnh ngân hàng để thấy đây là một công cụ
đa năng như thế nào!
1.2.5. Phân loại bảo lãnh ngân hàng
1.2.5.1. Phân theo mục đích của bảo lãnh
Theo mục đích của hoạt động bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng tập trung vào một
số sản phẩm dịch vụ sau:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo
lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp
đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng
và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hịên
không đầy đủ thì ngân hàng sẽ thực hiện thay.
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng một cách phổ biến và rộng rãi

hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.
+ Mục đích: bảo đảm người thụ hưởng nhận được khoản thanh toán một cách
chính xác, nhanh chóng và thuận tiện sau khi đã cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho
khách hàng;
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
+ Trị giá bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợp đồng;
+ Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh: theo thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với
thời hạn thanh toán trong hợp đồng cơ sở;
+ Một số loại bảo lãnh thanh toán: bảo lãnh thanh toán tiền xây lắp công trình,
bảo lãnh thanh toán tiền lắp đặt máy móc thiết bị.
- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm theo hợp đồng (bảo lãnh bảo
hành): là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng
thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với
bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm về chất lượng sản phẩm và
phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ thì ngân hàng sẽ thực hiện thay.
+ Mục đích: bảo đảm bên nhận bảo lãnh có quyền được bồi thường nếu như
sau khi hoàn thành bàn giao công trình xảy ra tình trạng hỏng hóc hay hàng hóa sau
khi giao bị thiếu hụt, kém chất lượng;
+ Trị giá bảo lãnh: loại bảo lãnh này trị giá tương đối nhỏ, số tiền bảo lãnh
thấp hơn nhiều so với bảo lãnh thực hiện hợp đồng, vào khoảng từ 2% - 5% giá trị
hợp đồng;
+ Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh: trong thời hạn bảo hành của sản phẩm, bắt
đầu từ lúc lắp ráp sử dụng cho đến hết thời hạn sử dụng của thiết bị;
+ Một số loại bảo lãnh bảo hành: bảo lãnh bảo đảm chất lượng công trình, bảo
lãnh bảo đảm chất lượng máy móc thiết bị, hàng hóa…
- Bảo lãnh hoàn lại thanh toán: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo

+ Trị giá và thời hạn hiệu lực của bảo lãnh: là số tiền, thời hạn ghi trong thư
bảo lãnh theo đề nghị của bên đi vay phù hợp với hợp đồng vay vốn.
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp một số sản phẩm bảo lãnh sau:
- Bảo lãnh nộp thuế: là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo
đảm khách hàng thực hiện đúng hạn về việc nộp thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị
gia tăng theo quy định của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luật thuế giá trị gia
tăng, luật quản lý thuế của Nhà Nước. Trường hợp khách hàng không thực hiện nộp
thuế cho cơ quan Nhà Nước theo đúng quy định thì ngân gang sẽ thực hiện nộp
thay. Giá trị bảo lãnh sẽ do cơ quan thuế ấn định trong từng thời kỳ cụ thể. Thời hạn
bảo lãnh được tính đến khi hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế.
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
- Bảo lãnh nhập hàng: Là bảo đảm của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh
( công ty vận chuyển, nhà xuất khẩu) để khách hàng nhận hàng hóa mà chưa cần
xuất chứng từ vận tải bản gốc (vận đơn đường biển, vận đơn hàng không…).
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: là việc một ngân hàng đứng ra bảo lãnh
cho tổ chức phát hành chứng khoán, kể từ khâu mời thầu cho đên khâu bán chứng
khoán. Dịch vụ này giúp cho những doanh nghiệp mới thành lập, hay còn ít tiếng
tăm và uy tín trên thị trường có thể phát hành chứng khoán của mình ra với công
chúng một cách nhanh chóng, thông suốt hơn.
1.2.5.2. Phân theo phương thức phát hành bảo lãnh
Theo phương thức phát hành bảo lãnh, người ta chia bảo lãnh thành 3 loại là
bảo lãnh trực tiếp, bảo lãnh gián tiếp, đồng bảo lãnh.
- Bảo lãnh trực tiếp
Đây là loại hình bảo lãnh đơn giản nhất, bao gồm có ba bên tham gia vào quan
hệ bảo lãnh: ngân hàng phát hành bảo lãnh (bên bảo lãnh), khách hàng của ngân
hàng (bên được bảo lãnh) và người thứ ba (bên hưởng bảo lãnh).
Ngân hàng phát hành bảo lãnh cam kết thanh toán trực tiếp cho người thụ

Đồng bảo lãnh là hình thức bảo lãnh mà trong đó nhiều ngân hàng cùng đứng
ra bảo lãnh cho một món bảo lãnh. Trong đó, có một ngân hàng đóng vai trò là ngân
hàng phát hành chính, tiến hành phát hành thư bảo lãnh cho toàn bộ số tiền bảo
lãnh, giữ các chứng từ sổ sách có liên quan đến món bảo lãnh, thu phí bảo lãnh và
phân chia lại cho các ngân hàng khác tùy theo tỷ lệ đóng góp. Các ngân hàng còn
lại tham gia vào quan hệ bảo lãnh chịu trách nhiệm trên từng phần đóng góp của
mình bằng các bảo lãnh đối ứng.
Đồng bảo lãnh xảy ra khi có các quy định về phòng ngừa rủi ro do luật pháp
mỗi quốc gia ban hành hay khi một ngân hàng không thể thực hiện bảo lãnh đơn lẻ
vì một nguyên nhân nào đó.
1.2.5.3. Phân theo phạm vi bảo lãnh
- Bảo lãnh trong nước: là loại bảo lãnh mà cả người yêu cầu bảo lãnh, người
được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh cùng ở trong phạm vi một quốc gia. Bảo lãnh
trong nước thường được thực hiện dưới các hình thức: bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước…
- Bảo lãnh ngoài nước: là loại bảo lãnh mà trong đó tham gia vào quan hệ bảo
lãnh có một bên ở trong nước, bên còn lại ở ngoài nước. Ngân hàng sẽ thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
bảo lãnh dưới một trong các hình thức: phát hành thư bảo lãnh, mở thư tín dụng (mở
L/C trả chậm), ký hối phiếu nhận nợ nước ngoài, lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ…
1.2.5.4. Phân loại bảo lãnh theo hình thức sử dụng
- Bảo lãnh vô điều kiện: là loại hình bảo lãnh mà ngay khi ngân hàng nhận
được yêu cầu bằng văn bản của người thụ hưởng thông báo về việc vi phạm hợp
đồng của người được bảo lãnh thì phải thanh toán ngay mà không cần có chứng từ
kèm theo. Loại bảo lãnh này có tính độc lập cao, bên bảo lãnh không được viện bất
kỳ lý do gì để từ chối thanh toán. Do đó, quyền lợi của bên thụ hưởng được bảo vệ
tối đa. Tuy nhiên, loại bảo lãnh này cũng chứa đựng không ít rủi ro nếu bên thụ

- Rủi ro xuất phát từ rủi ro của doanh nghiệp: Khi khách hàng của ngân hàng
gặp phải rủi ro khiến họ không thể thực hiện đúng và đầy đủ cam kết với người thụ
hưởng thì ngân hàng sẽ là người thực hiện thay nghĩa vụ đó. Vì vậy rủi ro đối với
khách hàng cũng dẫn tới rủi ro trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng. Mà những
rủi ro đó là khách quan, khó có thể lường trước được. Ví dụ như đối với những rủi
ro bất khả kháng: thiên tai, chiến tranh, những thay đổi ở tầm vĩ mô vượt quá tầm
kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng… làm mất khả năng thanh toán của
khách hàng. Khi đó ngân hàng vừa phải thanh toán thay khách hàng, vừa gặp khó
khăn trong việc truy đòi bồi hoàn từ khách hàng của mình.
- Rủi ro tín dụng: “là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng phái chịu do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không đầy đủ vốn và lãi” (trích
giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại ĐHKTQD – tr154). Ví dụ khi ngân hàng
cung cấp sản phẩm bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay cho khách hàng, nếu khách
hàng không trả được nợ theo đúng thời hạn trong cam kết thì nghĩa vụ trả nợ đó
thuộc về ngân hàng. Điều này cũng tương tự như khi ngân hàng cấp một khoản tín
dụng cho khách hàng và gặp phải rủi ro tín dụng.
- Rủi ro hối đoái: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu
khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt mức thay đổi dự tính. Trong trường hợp bảo lãnh
bằng ngoại tệ thì ngân hàng phải chịu thêm rủi ro tỷ giá.
- Rủi ro lãi suất: Lãi suất là nhân tố biến động không ngừng theo sự biến động
của thị trường. Trong khi đó, mức phí bảo lãnh thường là cố định trong suốt thời
hạn hiệu lực của bảo lãnh, do đó khi lãi suất trên thị trường biến động mạnh sẽ xuất
hiện rủi ro lãi suất đối với ngân hàng.
Sinh viên: Nguyễn Mỹ Hạnh - NH49A
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Hữu
Tài
- Rủi ro thanh khoản: đối với từng loại bảo lãnh, ngân hàng yêu cầu một tỷ lệ
ký quỹ nhất định. Khi rủi ro thực tế xảy ra lớn hơn tỷ lệ ký quỹ bảo lãnh sẽ ảnh
hưởng tới khả năng thanh toán của nghiệp vụ bảo lãnh, tác động xấu đến khả năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status