Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi
xướng, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Song, cùng với quá
trình phát triển đó, bên cạnh sự tăng thu nhập, nâng cao đời sống của số đông
dân cư vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là dân cư ở
vùng cao, vùng sâu, vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói, không đảm bảo được
những điều kiện tối thiểu của cuộc sống. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội
VIII của Đảng đã xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo là một trong 11
chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chương trình này đã được cụ thể
hoá tới từng tỉnh, huyện, xã, thôn, bản trên khắp đất nước.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, trong đó có một nguyên nhân
quan trọng đó là: Thiếu vốn sản xuất kinh doanh, chính vì vậy Đảng và Nhà
nước ta đã xác định tín dụng Ngân hàng là một mắt xích không thể thiếu trong
hệ thống các chính sách phát triển kinh tế xã hội xoá đói giảm nghèo của Việt
Nam. Xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi đó, ngày 04/10/2002 Thủ tướng
Chính phủ đã có Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính
sách Xã hội, trên cơ sở đó tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo trước
đây để thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Mặc dù vậy, sẽ thật không khách quan khi cho rằng không có những tồn
tại cần khắc phục, không có những khó khăn, không có rủi ro trong đầu tư,
đặc biệt là hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo. Trong quá trình cho vay hộ
nghèo thời gian qua cho thấy nổi lên vấn đề là hiệu quả vốn tín dụng còn thấp
làm ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng phục vụ người nghèo. Vì vậy, làm thế
nào để hộ nghèo nhận được và sử dụng có hiệu quả vốn vay; hoạt động tín
dụng được nâng cao nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nguồn vốn
tín dụng, đồng thời hộ nghèo thoát khỏi cảnh nghèo đói là vấn đề nóng bỏng
thu hút sự quan tâm của ngân hàng và của các cấp, các ngành.
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
1
5. KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng đối với người
nghèo và khái quát về Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội.
Chương II: Thực trạng hoạt động Tín Dụng đối với người nghèo của
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội.
Chương III: giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng đối với người nghèo
tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức - Hà Nội.
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCHXÃ
HỘI HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO.
1. Tín Dụng và vai trò của Tín Dụng đối với Người nghèo
Nước ta là một trong số những nước có tỷ lệ hộ nghèo đói cao, số
dân sống chủ yếu bằng nghề nông, sản xuất còn manh mún, lạc hậu, phân
tán nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đời sống còn gặp nhiều
khó khăn. Vì thế, vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nước ta rất cần sự quan
tâm giúp đỡ về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Nghị quyết hội nghị ban chấp hành TW lần thứ V (khoá VI) tháng 6
năm 1993 đã đề ra chủ trương “phải hỗ trợ giúp đỡ người nghèo bằng cách
cho vay vốn, hướng dẫn làm ăn, tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong
và ngoài nước, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo…”
Từ khi có cơ chế mới, người nông dân được quyền tự chủ đã hăng
hái sản xuất trên ruộng đất của mình. Ruộng đất canh tác được các hộ sử
dụng triệt để, chăm sóc tốt hơn, năng suất ngày càng cao. Ngoài việc sản
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ “tín dụng
hộ nghèo” là quan hệ giữa một bên là Ngân hàng Chính sách Xã hội với một
bên là hộ nghèo. Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mối quan hệ xã hội,
có quyền thừa kế, có phương án sản xuất kinh doanh thì hộ nghèo mới có
khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng chính
sách xã hội. Đây cũng chính là điều kiện để hộ nghèo đáp ứng được điều
kiện vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội.Trong nhiều năm qua, ngân
hàng chính sách xã hội đã và đang là kênh chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
nghèo, góp phần tạo công ăn việc làm giúp đỡ hộ nghèo phát triển kinh tế gia
đình, nâng cao dần mức sống bằng chính sức lao động của chính mình.
b. Đặc điểm tín dụng ngân hàng.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn
trả và có các đặc trưng sau:
Thứ nhất: Chủ thể tham gia bao gồm một trung gian giữa người có vốn
và người cần vốn đó là ngân hàng với đối tượng là tiền tệ (thay vì hàng hóa,
dịch vụ). Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm 2 hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
Thứ hai: Quan hệ tín dụng có nguyên tắc hoàn trả, có nghĩa là người
cho vay vốn giao vốn cho người đi vay sử dụng trong thời hạn thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, khi đáo hạn mà không có các thỏa thuận khác thì
người đi vay phải hoàn trả số vốn đó cộng thêm phần thặng dư cho người
cho vay.
Thứ ba: Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị gốc ban đầu,
hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Giá trị
thặng dư này đảm bảo cho ngân hàng bù đắp những khoản chi phí, rủi ro và
mang lại cho ngân hàng một phần lợi nhuận.
Thứ tư: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng vì dựa trên các hợp đồng kinh
đã được trả thay.
+ Bao thanh toán: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của
tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải
thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua
hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.
3. Vai trò của tín dụng đối với người nghèo.
a. Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói
Nghèo đói có nhiều nguyên nhân, như: đông con dẫn đến thiếu lao động,
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên bất thuận lợi,
không được đầu tư, thiếu vốn…nhưng trên thực tế nghèo đói là do không có
vốn để tổ chức sản xuất, đầu tư kinh doanh.Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện
tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói
nghèo.
b. Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả
hoạt động kinh tế được nâng cao hơn.
Những người nghèo đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản
xuất hoặc để duy trì cho cuộc sống họ là những người chịu sự bóc lột bằng
thóc hoặc bằng tiền nhiều nhất của nạn cho vay nặng lãi hiện nay. Chính vì
thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay người nghèo với số lượng khách hàng
lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động.
c. Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều
kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư
cho sản xuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu
hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì,
làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao. Để làm được điều
đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó
trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt.
Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói
giảm nghèo sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã
hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn
lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển.
Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta
đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Tóm lại, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
do của sự đói nghèo có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước
có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về
xoá đói giảm nghèo thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói
nghèo được. Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt
trợ giúp người nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo.
Tất nhiên Chính phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho
hộ nghèo vươn lên bằng những chính sách và giải pháp. Cụ thể là:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính
sách đồng bộ: tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với
quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi,
đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị trường và
hòa nhập với cộng đồng.
- Tiếp tục triển khai mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói
giảm nghèo của Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm, Chính phủ dành ra một tỷ
lệ trong tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay xoá đói giảm nghèo.
- Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo với các
chương trình kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương
trình phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất
cho Ngân hàng thực hiện được việc cho vay linh hoạt hơn và từ đó chất lượng
tín dụng của Ngân hàng cũng tốt hơn.
* Các chỉ tiêu định lượng.
1- Số lượng hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng: Chỉ tiêu này cho biết số
hộ nghèo đã được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi trên tổng số hộ hộ nghèo của
toàn quốc, đây là chỉ tiêu đánh giá về số lượng. Chỉ tiêu này được tính luỹ kế
từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả.
Tổng số Số lượng hộ Số lượng hộ
lượng hộ nghèo = được vay đến + được vay trong
được vay vốn cuối kỳ trước kỳ báo cáo
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
2- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn: Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng
đối với công tác tín dụng; bằng tổng số hộ nghèo được vay vốn trên tổng số
hộ nghèo đói theo chuẩn mực được công bố.
Tỷ lệ hộ Tổng số hộ nghèo được vay vốn
nghèo được = x 100%
vay vốn Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách
3- Số tiền vay bình quân 1 hộ: Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho một
hộ ngày càng tăng lên hay giảm xuống, điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp
ứng được nhu cầu thực tế của các hộ nghèo hay không.
Số tiền cho vay Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo
bình quân =
một hộ Tổng số hộ còn dư nợ đến thời điểm báo cáo
4- Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói: Là chỉ tiêu đánh giá chất
lượng của công tác tín dụng đối với hộ nghèo. Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo
đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn mực
nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong trong danh sách hộ nghèo, có khả
cho vay
-
Doanh số
thu nợ
7- Dư nợ quá hạn và nợ xấu: Là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu
quả tín dụng cho vay và chất lượng đầu tư cho vay hộ nghèo. Dư nợ quá hạn
càng nhỏ tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao.
Dư nợ quá hạn hộ nghèo
Tỷ lệ nợ quá hạn hộ nghèo = x 100%
Tổng dư nợ hộ nghèo
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) = x 100%
Tổng dư nợ
Nợ xấu: là những khoản nợ mà khách hàng vay không trả được hoặc
những khoản nợ đến hạn mà Ngân hàng không cho gia hạn.
8- Vòng quay vốn tín dụng: Là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
trong điều kiện hoạt động bình thường, vòng quay tín dụng lớn với số dư nợ
tăng chứng tỏ đồng vốn ngân hàng cho vay ra đã được sử dụng một cách hiệu
quả, tiết kiệm chi phí.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
Dư nợ bình quân
Trong đó:
Dư nợ đầu kỳ + dư nợ cuối kỳ
Dư nợ bình quân =
2
9- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn: Chỉ tiêu này thể hiện % vốn huy động
năm qua cấp uỷ, chính quyền và nhân dân huyện Mỹ Đức đã tập trung đẩy
mạnh chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn qua
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quan điểm phát triển của huyện Mỹ Đức trong
giai đoạn 2005 - 2010 được xác định: phải phát huy tinh thần tự chủ, chống
nguy cơ tụt hậu, từ những cơ sở kinh tế hiện có chuyển hướng nhanh theo
những lợi thế và khai thác tiềm năng sẵn có, đổi mới công nghệ, đẩy nhanh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chuyển dịch kinh tế
phải theo hướng phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp ổn định; công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh với tốc độ nhanh và đưa du lịch - dịch vụ
thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Từ những thành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước hơn 20 năm
qua hết sức quan trọng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện tin tưởng
vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, cơ sở vật chất ngày càng được tăng
cường, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao. Tuy nhiên cuối năm 2008
còn có những khó khăn nhất định: hậu quả nặng nề của đợt mưa lớn, tình hình
chính trị, kinh tế khu vực và khủng hoảng tài chính, thời tiết diễn biến bất lợi
cũng phần nào ảnh hưởng…Song Huyện vẫn phấn đấu khắc phục khó khăn,
tích cực phấn đấu tốc độ gia tăng bình quân hàng năm từ 12% - 13%, bình quân
thu nhập đầu người đạt 6,5 - 7 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế nông, lâm
nghiệp 40%, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 25%; du lịch - dịch vụ 35%, giá
trị 01 ha canh tác bình quân đạt từ 40 - 50 triệu/năm.
* Thuận lợi:
Đảng và Nhà nước có cơ chế chính sách ngày càng hoàn thiện hơn, việc
mở rộng địa giới hành chính Thủ đô đã mở ra những triển vọng lớn để huyện
Mỹ Đức phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.Với thế mạnh nguồn lao
động dồi dào, điều kiện tự nhiên phong phú có nhiều lợi thế để khai thác phát
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
triển nền nông nghiệp từng bước hiện đại và bền vững, phát triển công nghiệp
huyện Mỹ Đức.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX, Luật Các tổ chức tín
dụng và Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X về Chính sách tín dụng
đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác và tách việc cho vay
chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng thông thường của các Ngân hàng
thương mại Nhà nước, cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 78/2002/NĐ - CP ngày 14 tháng 10 năm 2002 về tín dụng đối
với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ban hành Quyết định số 131/QĐ - TTg ngày 04/10/2002 về việc thành lập
Ngân hàng Chính sách Xã hội (viết tắt là NHCSXH) tên giao dịch Quốc tế :
Viet Nam Bank For Social Polices (VBSP) để thực hiện tín dụng ưu đãi đối
với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân
hàng Phục vụ người nghèo.
Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng của Nhà nước,
hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; được Nhà nước cấp, giao vốn và đảm
bảo khả năng thanh toán; huy động vốn có trả lãi hoặc tự nguyện không lấy
lãi, vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả, vốn nhận ủy thác của các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước để uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay ưu đãi
đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại
học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp dạy nghề; các đối tượng cần vay vốn
để giải quyết việc làm; các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở
nước ngoài và các đối tượng chính sách khác.
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Mỹ Đức được thành lập theo Quyết
định số 340/QĐ - HĐQT ngày 20 tháng 5 năm 2003 của chủ tịch Hội đồng
quản trị Ngân hàng Chính sách Xã hội trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục
vụ người nghèo nhằm tách kênh tín dụng chính sách ra khỏi kênh tín dụng
thương mại. Được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng Chính sách Xã
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
Đức, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trên
cơ sở mục tiêu định hướng phát triển kinh tế của địa phương trong những năm
qua, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức từng bước
được kiện toàn tổ chức, xác định rõ nhiệm vụ đặt ra trong những năm tới, đưa
ra biện pháp chỉ đạo phù hợp với thực tế, không ngừng nâng cao chất lượng
tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội.
Ngay sau khi thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Mỹ Đức,
UBND huyện đã ra quyết định thành lập ban đại diện hội đồng quản trị ngân
hàng chính sách xã hội huyện theo đúng quy định của điều lệ tổ chức và hoạt
động của ngân hàng chính sách xã hội. Đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện
làm trưởng ban đại diện, các đồng chí thành viên là trưởng hoặc phó các ban,
ngành, hội đoàn thể ở huyện tham gia dưới hình thức kiêm nhiệm (ban đại
diện gồm 12 thành viên). Nhiệm vụ của ban đại diện hội đồng quản trị:
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và
Ban đại diện hội đồng quản trị cấp trên.
- Duyệt kế hoạch huy động vốn và cho vay trên địa bàn để trình cấp có
thẩm quyền phê duyệt. Ban đại diện hội đồng quản trị được quyền tổ chức
khai thác, tập trung các nguồn vốn để bổ xung vốn cho vay tại địa phương.
- Tổ chức chỉ đạo và đôn đốc việc thực hiện hoàn thành kế hoạch tín
dụng trên địa bàn.
- Chỉ đạo kiểm tra giám sát các bên nhận uỷ thác cho vay thực hiện đúng
chính sách và chế độ nghiệp vụ theo quy định.
- Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội chỉ đạo thành lập các tổ tiết
kiệm và vay vốn.
- Nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất với hội đồng quản trị trình bổ xung, sửa đổi
ban hành chính sách tín dụng với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
- Chấp hành chế độ thỉnh thị báo cáo lên cấp trên và các cơ quan Nhà
nước theo quy định.
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
19
Tổ kế toán
ngân quỹ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
- Giám Đốc: Chịu trách nhiệm chung của cả phòng giao dịch, phụ trách
mảng kế tóan ngân quỹ. Ký các quyết định cho vay > 100 triệu đồng.
- Phó Giám đốc: phụ trách mảng Tín Dụng( theo dõi cho vay, thu nợ trên
địa bàn toàn huyện). Được quyền ký các quyết định <100 triệu đồng.
- Tổ kế hoạch nghiệp vụ:
+ Tổ trưởng: Đứng đầu của tổ, chịu trách nhiệm chung của tổ, trực tiếp
triển khai công viêc đến các thành viên trong tổ khi nhận được sự chỉ đạo
từ ban giám đốc.
+ Các thành viên trong tổ kế hoạch và nghiệp vụ: Mỗi thành viên được
phân công phụ trách một số xã, chịu trách nhiệm trước tổ và trước ban
giám đốc những xã mình quản lý về công việc cho vay thu nợ, tình hình nợ
đến hạn cũng như nợ quá hạn trên địa bàn. Có trách nhiệm thực hiện công
việc khi Tổ trưởng triển khai…
- Tổ kế toán:
+ Tổ trưởng: Đứng đầu của tổ chịu trách nhiệm chung của cả tổ. Có trách
nhiệm kiểm tra chứng từ của cơ quan, in cấn đối, lập báo cáo tháng, quý, năm
tham mưu cho ban giám đốc và chịu trách nhiệm thi hành quyết định của ban
giám đốc.
+ Các thành viên trong tổ kế toán: mỗi thành viên được phân công phụ trách
một số xã, có trách nhiệm thực hiện viêc lưu giữ hồ sơ, trích dư nợ trên khế
ước khách hành, rút hồ sơ khách hàng khi khách hàng đã tất toán, có trách
nhiệm thực hiện công việc khi tổ trưởng triển khai…
Ngân hàng được thành lập tính đến nay đã được 7 năm. Mặc dù vậy thì
cơ sở vật chất của Ngân hàng cũng như trụ sở làm việc, phương tiện đi lại vẫn
còn đơn giản. Khi ngân hàng mới thành lập phòng chỉ có 1 - 2 cán bộ; 02 nhân
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
21
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2008 2009 2010
Tăng giảm
2009 so
2008
2010 so
2009
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
% +/- % +/- %
Tổng
nguồn vốn
56.6
63
100
92.9
64
100
146.0
33
10
0
36.3
1
400,
9
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội huyện
Mỹ Đức các năm 2008-2010)
Nhìn vào bảng báo cáo trên cho thấy nguồn vốn huy động được nhà nước
rất quan tâm thể hiện năm sau cao hơn năm trước. Năm 2009 nguồn vốn tăng
36.301 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 64,1%, năm 2010 nguồn vốn tăng 53.069
triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 57,1%. Tăng chủ yếu là nguồn vốn được cân
đối từ Trung ương và Thành phố, năm 2009 nguồn vốn Trung ương và Thành
phố tăng 35.241 triệu đồng so với năm 2008, chiếm 98,1% tổng nguồn vốn, năm
2009 tăng 46.449 triệu đồng so với năm 2009, chiếm 94% tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn địa phương trong năm 2009 không tăng so với năm 2008 là
do thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng khó khăn…đến năm 2010, nguồn
vốn địa phương giảm chỉ còn 169 triệu đồng tương đương 0,1% tổng nguồn
vốn, giảm 57,8% so với nguồn vốn địa phương của năm 2010.
2. Vòng quay vốn tín dụng.
Vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng thể hiện trong kỳ vốn của ngân
hàng quay được bao nhiêu vòng. Vòng quay tín dụng càng lớn chứng tỏ doanh
số thu nợ lớn, số dư nợ quá hạn của ngân hàng giảm, khách hàng có ý thức
hơn trong việc sử dụng vốn đúng mục đích và trả nợ ngân hàng. Vòng quay
vốn tín dụng là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vốn tín dụng của ngân hàng chính
sách nói chung và tín dụng đối với hộ nghèo nói chung.
Bảng 2: Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội
SV: Nguyễn Duy Tưởng Lớp: QTKD Thương mại
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Duy Tưởng
huyện Mỹ Đức năm 2008 - 2010.
Đơn vị: Triệu đồng
25