357
* Thạc sĩ
GIẢNG DẠY MÔI TRƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PBL (PROBLEM
BASED LEARNING) – LỢI ÍCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI
ÁP DỤNG THỰC TẾ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN HỌC CÔNG NGHỆ SẢN
XUẤT SẠCH HƠN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
Vũ Hải Yến*
Khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh Học, Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM
Tóm tắt
“Người ta chỉ bảo vệ những gì mà họ yêu, chỉ yêu những gì mà họ hiểu, chỉ hiểu
những gì mà họ được học”. đó là một câu châm ngôn khôn ngoan trong lĩnh vực giáo dục,
đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục môi trường. Cốt lõi của vấn đề truyền thông, giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường của sinh viên, học sinh đều nằm ở việc giáo dục tình yêu, lòng hăng
hái, và trách nhiệm của giới trẻ đối với cuộc sống.
Trong thời gian vừa qua, giáo dục đại học được xem như những kiến thức ở tầm vĩ
mô, xa rời thực tiễn, vì thế mà sinh viên khó có thể áp dụng vào thực tiễn. Vài năm trở lại
đây, giảng dạy đại học bằng phương pháp đặt vấn đề (Problem Based Learning) thường
được nhắc tới như một phương pháp giáo dục kiểu mới đem lại nhiều hiệu quả. Phương
pháp này phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, người học được rèn luyện các kỹ
năng cần thiết, sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn và biết cách tổ chức vấn đề, bài học
đồng thời được nhớ sâu hơn. Phương pháp còn giúp giảng viên không ngừng vươn lên để
học hỏi không ngừng. Phương pháp đã giúp giảng dạy thành công các môn học kỹ thuật vốn
khô khan từ trước đến nay, trong đó có các bộ môn Kỹ thuật Môi Trường. Tuy nhiên, ngoài
những lợi ích dễ dàng nhận thấy, phương pháp này vẫn có những bất cập nhất định. Nội
dung bài tham luận là tổng quát về những thuận lợi và khó khăn trong công việc giảng dạy
các môn học môi trường.
Trong các môn học trong chuyên ngành Môi Trường, môn học Công Nghệ Sản Xuất
Sạch Hơn là môn học đòi hỏi kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, kiến thức chuyên môn
nhiều nhất. Môn học này bắt đầu được giảng dạy trong khoảng 10 năm trở lại đây. Do vậy,
bất cập nhất định.
Trong các môn học trong chuyên
ngành Môi Trường, môn học Công Nghệ
Sản Xuất Sạch Hơn là môn học đòi hỏi
kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, kiến
thức chuyên môn nhiều nhất. Môn học này
bắt đầu được giảng dạy trong khoảng 10
năm trở lại đây. Do vậy, áp dụng PBL vào
công tác giảng dạy môn học Công Nghệ
Sản Xuất Sạch Hơn là điều thực sự cần
thiết. Nhưng áp dụng nó như thế nào,
những thuận lợi và khó khăn nào sẽ gặp
phải khi sử dụng phương pháp này?
II. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các vấn đề như
sau:
-Phương pháp giảng dạy đặt vấn
đề: mục đích, phương pháp, lợi ích, ý
nghĩa, phạm vi áp dụng, những thuận lợi
và khó khăn trong việc giảng dạy bằng
phương pháp này.
- Áp dụng trong giảng dạy bộ môn
Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn: đặc điểm
môn học, áp dụng việc giảng dạy bằng
phương pháp đặt vấn đề vào cách giảng
dạy môn học này.
- Rút ra những thuận lợi và khó
khăn khi sử dụng phương pháp này để
giảng dạy môn học Công Nghệ Sản Xuất
Sạch Hơn.
Problem based learning) là một cách tiếp
cận tổng thể trong giáo dục, ở góc độ
chương trình học lẫn quá trình học:
chương trình học bao gồm những vấn đề
được lựa chọn và thiết kế cẩn thận nhằm
giúp người học tiếp nhận tri thức một cách
có phê phán, tăng cường kỹ năng giải
quyết vấn đề, khả năng tự học và kỹ năng
làm việc nhóm; quá trình học có tính hệ
thống như quá trình giải quyết vấn đề hoặc
thử thách có thể gặp trong đời sống. Dạy
học dựa trên vấn đề là phương pháp dạy
học nhằm giúp người học tiếp nhận tri
thức và kỹ năng thông qua một quá trình
học hỏi được thiết kế dựa trên những câu
hỏi, những vấn đề và những nhiệm vụ thực
tiễn đã được xây dựng.
4.2 Mục tiêu
- Về nhận thức: giúp người học có
cơ hội nắm chắc kiến thức theo chiều rộng
lẫn chiều sâu.
- Về kỹ năng: giúp người học phát
triển năng lực đọc tài liệu, kỹ năng nghiên
cứu khoa học, kỹ năng giải quyết vấn đề,
các kỹ năng xã hội như: làm việc nhóm,
thuyết trình, tranh luận, thương lượng, …
- Về thái độ: giúp người học cảm
thấy gắn bó và yêu thích môn học và sự
học, thấy được những giá trị của hoạt động
nhóm đối với bản thân.
quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến
kết luận.
360
4.3.4 Vai trò của GV mang tính hỗ trợ
GV đóng vai trò định hướng (chỉ ra
những điều cần được lý giải của vấn đề),
trợ giúp (chỉ ra nguồn thông tin, giải đáp
thắc mắc,…), đánh giá (kiểm tra các giả
thuyết và kết luận của người học), hệ
thống hóa kiến thức, khái quát hóa các kết
luận.
4.4. Ưu nhược điểm của phương pháp
dạy học dựa trên vấn đề
4.4.1 Ưu điểm
- Phát huy tính tích cực, chủ động
trong học tập.
- Người học được rèn luyện các kỹ
năng cần thiết: thói quen/kỹ năng đọc tài
liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh
luận khoa học, làm việc tập thể…
- Người học được sớm tiếp cận
những vấn đề thực tiễn: Giáo dục đại học
thường bị phê phán là xa rời thực tiễn.
Phương pháp này giúp người học tiếp cận
sớm với những vấn đề đang diễn ra trong
thực tế, đồng thời họ cũng được trang bị
những kiến thức, kỹ năng để giải quyết
những vấn đề đó.
- Bài học được tiếp thu vừa rộng
cung cấp dịch vụ giảm được lượng và độc
tính chất thải ngay trong quá trình sản xuất
lại vừa mang lại tính hiệu quả kinh tế cao.
- Kỹ năng: thực hiện được các dự án
SXSH cho các ngành nghề sản xuất.
- Thái độ, chuyên cần: cần có thái độ
học tập nghiêm túc, chuyên cần. Môi
trường công nghiệp luôn đòi hỏi tác phong
nghiêm túc, trách nhiệm và cầu tiến.
5.2 Nội dung môn học
Chương trình giảng dạy môn
SXSH được thiết kế nhằm cung cấp cho
sinh viên khoa Môi trường các kiến thức
cơ bản về công nghệ SXSH, kỹ năng thực
hiện sản xuất sạch hơn, các giải pháp kỹ
361
thuật nhằm giảm lượng chất thải cũng như
độc tính của chất thải ngay tại nguồn và
lồng ghép thực hiện sử dụng năng lượng
có hiệu quả trong SXSH, thái độ cần phải
có khi thực hiện SXSH.
Phần 1: Giới thiệu về Sản Xuất Sạch
Hơn: a) Tổng quan về công tác bảo vệ
môi trường; b) Các khái niệm: Sản Xuất
Sạch Hơn; Năng Suất Sinh Thái; Phòng
Ngừa Ô Nhiễm; Công nghệ Sạch; c) Sự
giống nhau và khác nhau trong các khái
niệm, cách tiếp cận; d) Mục đích, ý nghĩa
của áp dụng SXSH; e) Khó khăn và thuận
Chuyên đề 1: Phương pháp luận
SXSH – Áp dụng SXSH Cho 1 ngành
Công Nghiệp điển hình (Thuộc Da, Dệt
Nhuộm, Luyện Kim, Thực phẩm, Giấy,
Nhựa…)
Chuyên đề 2: Kiểm toán năng
lượng phục vụ cho SXSH
Chuyên đề 3: Tái chế và tái sử
dụng phế phẩm trong nhà máy
Chuyên đề 4: Thiết kế sản phẩm vì
mục tiêu phát triển bền vững (D4S)
Chuyên đề 5: Sản xuất sạch và Cơ
chế Phát Triển Sạch: CP và CDM
Phần 3: Xây dựng hệ thống dữ liệu
quan trắc sản xuất sạch hơn - Đề cương,
mẫu báo cáo đánh giá SXSH
- Xây dựng hệ thống dữ liệu quan
trắc SXSH
- Đề cương báo cáo đánh giá
SXSH.
- Trình bày mẫu báo cáo đánh giá
SXSH do VNCPC đề xướng.
362
5.3 Các phương pháp áp dụng theo chương trình học
Bảng 1 Đề cương môn học và phương pháp áp dụng
Số
Bai tập lớn: Cân bằng vật chất trong SXSH
Trình diễn kinh nghiệm thực tế
Đặt vấn đề
3
Chuyên đề 2: Kiểm toán năng lượng
Bài tập lớn: Tính toán hiệu suất năng lượng
Đặt vấn đề Đặt câu hỏi
Làm bài tập
3
Chuyên đề 3: Tái chế và tái sử dụng
Bài tập lớn: Tính toán lượng chất thải và đề xuất các
khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải trong nhà
máy
Đặt vấn đề Đặt câu hỏi
Thảo luận tìm giải pháp tái chế, tái
sử dụng các loại chất thải.
4
Chuyên đề 4: Thiết kế sản phẩm vì mục tiêu phát
triển bền vững
Đặt vấn đề
Sử dụng các sản phẩm minh họa
Sinh viên chia nhóm thảo luận
Giải quyết được vấn đề Hệ
thống hóa
3
Chuyên đề 5: Sản xuất sạch và Cơ chế Phát Triển
Sạch: CP và CDM
Đặt vấn đề
Thảo luận tìm hướng giải quyết
5
của vấn đề, lãng phí trong sản xuất mới là nguồn gốc “đốt tiền” của doanh
nghiệp.
- Giải quyết lãng phí từ đâu? Chính là việc xem xét chuỗi giá trị của sản phẩm:
từ việc giảm lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng đến việc giảm độ độc hại,
giảm sự lãng phí trong sản phẩm,…
Chuyên đề 1:
Điển hình SXSH
cho doanh nghiệp
- Ngành thuộc da là ngành gây ô nhiễm nghiêm trọng Vấn đề phát sinh từ
đâu? Phân tích nguyên nhân Giải pháp
Chuyên đề 2:
Kiểm toán năng
lượng
- Vấn đề đặt ra: Sử dụng lò hơi lâu ngày không vệ sinh chùi rửa, cặn bám thành
lò hơi, tốn nhiệt lượng nhiều hơn để đun nóng nước? Vậy tiết kiệm năng lượng
bằng cách nào?
-Nhìn từ bên ngoài, có vẻ đốt than tiết kiệm hơn đốt dầu? Sự thật có phải như
vậy không? Cần có phân tích gì để biết được hiệu suất sử dụng năng lượng?
-Chúng ta nói công nghệ này phát triển hơn công nghệ kia, trình độ công nghệ
nước này cao hơn nước kia, thực ra là nói đến cái gì? Làm sao để có được chỉ số
cường độ tiêu hao năng lượng (GDP/TOE)
Chuyên đề 3: Tái
chế và tái sử dụng
-Các bãi chôn lấp chất thải càng lúc càng xuất hiện nhiều loại chất thải liên quan
đến bao bì, các phế phẩm công nghiệp? Châu Âu đánh thuế 60% trên bao bì?
Nếu sản xuất ra sản phẩm mà không thu hồi được bao bì, để bao bì ra bãi chôn
lấp thì đó có phải là lãng phí không? Nên tái chế, tái sử dụng như thế nào?
Chuyên đề 4:
Thiết kế sản
phẩm vì mục tiêu
364
5.5 Phản hồi từ phía giảng viên và sinh viên về phương pháp đặt vấn đề cho môn học
Sản Xuất Sạch Hơn
Bảng 3 Khảo sát ý kiến của sinh viên đang theo học môn học SXSH về
phương pháp PBL
Nhận xét
Ý kiến của người được khảo sát (%)
Tốt
Đạt yêu cầu
Cần khắc
phục một số
điểm
Không có ý
kiến
Cung cấp được tổng quan về kiến thức
68
32
0
0
Nắm được mục tiêu, yêu cầu rõ ràng
59
36
0
0
Nội dung môn học rõ ràng, đầy đủ
50
50
0
0
Kiến thức môn học được cập nhật hiện
0
Nguồn: Phòng Khảo Thí và Kiểm Định Chất Lượng, ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM, 2010.
Bảng 4 Khảo sát ý kiến của sinh viên về các phương pháp giảng dạy môn học SXSH
Nội dung
Ý kiến (%)
Phương pháp giảng dạy sử
dụng nhiều nhất
Diễn giảng 41%
Dạy học theo phương pháp
đặt vấn đề: 59%
Thời gian dành cho seminar
30% thời gian: 50%
20% thời gian: 50%
Thời gian tổ chức thảo luận,
học nhóm
Luôn luôn: 41%
Thường xuyên: 59%
Tác dụng của phương pháp
dạy học
Rất tốt: 50%
Đạt yêu cầu: 50%
Loại hình thức thi áp dụng
50% báo cáo
50% vấn đáp
Nguồn: Phòng Khảo Thí và Kiểm Định Chất Lượng, ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM, 2010.
VI. Những kinh nghiệm giảng dạy
rút ra
6.1 Cách tổ chức lớp học như thế nào?
• Nêu rõ mục tiêu cần phải đạt được
khi học xong môn học/bài giảng này
Hình 1 Một số sản phẩm hàng tiêu dùng được sử dụng cho SV phân tích.
6.2 Phân loại cấp độ giảng dạy trước
khi giảng dạy
Bằng cách giải quyết vấn đề, SV sẽ
thực hiện được kỹ năng: a) Tham khảo,
thu thập được tài liệu; b) Liên kết các
nhóm tài liệu để rút ra tri thức; c)Tổng
hợp tài liệu; d) Lập kế hoạch, lịch trình
làm việc; e) Thảo luận, làm việc nhóm ; f)
Động não và tư duy; f) Đề xuất được giải
pháp; g) Đánh giá tính khả thi về kỹ
thuật/kinh tế của giải pháp; h) Sử dụng tốt
các công nghệ; i) Rèn luyện kỹ năng trình
bày trước đám đông, bảo vệ những quan
điểm đã có của mình.
Trước khi chuẩn bị bài giảng, giảng
viên đã xác định mục đích bài giảng và
cấp độ giảng dạy mà giảng viên mong
muốn ở sinh viên.Những điều giảng viên
mong muốn ở sinh viên là những kỹ năng
mà sinh viên đạt được sau khi hoàn thành
môn học.
Cấp
độ
Nội dung
Tri
thức
hệ giữa các yếu tố khác nhau. Nếu có thể tháo rời cái đồng hồ thì họ cũng có thể tái thiết lại.
Trong SXSH việc tái thiết rất quan trọng. Ví dụ: phân tích một dây chuyền sản xuất. Một bộ
phận trong dây chuyền sản sinh ra quá nhiều rác thải nên phải thay thế. Khi đó, phương án
cải tạo phải được đưa ra một cách chính xác.
Đánh
giá
Đây là cấp độ cao nhất. Học viên có khả năng phán quyết. Tất nhiên, để làm được như vậy
họ cần phải quen với cấp độ trên. Trong SXSH chúng ta phải đánh giá dây chuyền sản
phẩm hiện tại. Chúng ta cần phải đánh giá việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực, chất
thải và các tác động của nó đến với môi trường.
Độ phức tạp của các cấp độ tăng
dần từ 1 đến 6. Trong bộ môn SXSH cần
cho sinh viên luyện cách suy nghĩ ở cấp độ
cao hơn chẳng hạn như 4,5 và 6. Do vậy,
trong phần 1 về phương pháp luận SXSH
và phần 2 về Kỹ thuật SXSH, giảng viên
chỉ nói và yêu cầu sinh viên sao chép.
Phần này chỉ yêu cầu ở cấp độ 1-3. Nhưng
đến khi thực hiện các chuyên đề, sinh viên
cần phải có kỹ năng 4-6. 6.3 Xây dựng mục tiêu giảng dạy tốt
Việc xây dựng mục tiêu giảng dạy
là một điều kiện nếu bạn muốn đạt được
một mục đích cụ thể. Nếu bạn không biết
bạn sẽ đi đâu, bạn sẽ không bao giờ đạt
được một mục đích. Những giảng viên
có thể là một nhận thức mới,
các chiến lược mới hay sử
Tri thức
(Liệt kê, định nghĩa, nhớ,
xác định, gọi tên, sao chép,
ai, cái gì, ở đâu, khi nào?)
Hiểu
(Mô tả, xác định, so sánh,
đối lập, tự viết, viết lại câu)
Ứng dụng
(Ứng dụng, sử dụng, chọn,
chỉ ra, trình diễn, làm, lập
biểu, bản đồ, dung, phân loại,
giải quyết, dịch, minh họa)
Phân tích
(Xác định động lực hay
nguyên nhân, đưa ra kết
luận, xác định các bằng
chứng, hỗ trợ, phân tích, tại
sao, so sánh/đối lập, phân
loại, điều tra)
Tổng hợp
(Dự đoán, tạo ra, viết, thiết
kế, phát triển, tổng hợp, xây
dựng, chúng ta có thể cải
thiện bằng cách nào, điều gì
sẽ xảy ra nếu, chúng ta giải
quyết, tạo ra, hình dung, giả
thuyết, kết hợp và ước tính)
huống, trong đó sinh viên có thể kiểm tra
những kỹ năng mới của họ. Nếu giảng
viên cho điểm, sinh viên có thể căn cứ vào
đó để biết mức độ tiến bộ của họ. Bạn có
thể thực hiện bằng cách đặt câu hỏi. Khi
đặt câu hỏi, hãy gửi kèm thông điệp. “Tôi
sẽ hỗ trợ em để trở thành một chuyên gia
thực thụ”. Các hoạt động của giáo viên
gồm: i) Đưa ra các bài tập; ii) Các bài tập
bao gồm các câu hỏi phải trả lời. Việc sửa
bài cho sinh viên rất quan trọng; iii) Yêu
cầu sinh viên viết ra các câu hỏi/các vấn
đề nảy sinh trong bài học và thảo luận tính
hợp lệ của câu hỏi cho bài kiểm tra.
Giảng viên phải đặt câu hỏi để khơi
gợi quan điểm của sinh viên. Những yêu
cầu của cách đặt câu hỏi:
368
- Tìm một tình huống phù hợp để có
thể sử dụng phương pháp giảng
- Xây dựng một cơ sở thông tin để từ
đó sinh viên có thể làm việc độc lập
- Tìm thời điểm sinh viên bắt đầu
làm việc độc lập.
Lưu ý những điểm sau:
- Sinh viên phải học gì đó mới mẻ
- Các bài giảng phải được viết ra
giấy
- Giáo viên không giúp đỡ sinh viên
- Được phép gợi ý chung về việc tiến
hành công việc như thế nào
- Giáo viên quyết định sinh viên sẽ
làm việc theo nhóm hay làm việc độc lập
- Đề cập đến các tiêu chí để xác định
sự thành công
6.6 Cách thức thực hiện
Chúng ta có thể đặt câu hỏi khi bắt
đầu bài học, trong quá trình học hoặc khi
kết thúc bài học. Các câu hỏi này liên quan
đến thông tin bên trong và bên ngoài lớp
học. Sinh viên cần phải có thời gian để trả
lời câu hỏi của mình. Thông thường sinh
viên cần thời gian tối thiểu 3 giây. Nếu
không cho thời gian, họ sẽ không suy nghĩ
gì hết. Hãy nghĩ ra một câu hỏi kết hợp
nhiều cách khác nhau: i) Đòi hỏi các kỹ
học hơn và cho phép sinh viên được tự do
để đạt được mục đích của mình. Gián tiếp
là hình thức giúp sinh viên có thể thoải
mái vận dụng tư duy của mình để đặt vấn
đề và đi đến vấn đề.
- Cách giảng dạy đa phần thể hiện
tính chủ quan, mang đậm bản sắc của mỗi
cá nhân. Nếu cá nhân bạn thích được dạy
theo kiểu trực giác, bạn sẽ giảng cho SV
của mình theo các phương pháp trực quan.
Vì vậy, người giảng dạy môi trường cần
369
phải có cái nhìn tổng quan về nhiều khía
cạnh: kinh tế, văn hóa, môi trường, xã hội.
Chính vì vậy, giảng dạy môn học này luôn
luôn cần sự có mặt của các doanh nghiệp
để giúp cho sinh viên có nhiều góc nhìn,
nhìn nhận vấn đề theo nhiều chiều khác
nhau.
- Kiến thức của bản thân cũng sẽ ảnh
hưởng đến cách giảng dạy. Chúng ta càng
nắm rõ kiến thức bao nhiêu, chúng ta càng
có khả năng diễn giải vấn đề một cách dễ
hiểu bấy nhiêu.
- Việc chuẩn bị giáo trình rất quan
trọng. Tư liệu được chuẩn bị tốt bao nhiêu
học viên sẽ học tập tốt bấy nhiêu.
6.7.3 Bối cảnh
- Tính cách của SV rất quan trọng.
Công Nghệ Tp.HCM đã đem lại những tín
hiệu khả quan. Sinh viên sau thời gian bỡ
ngỡ đã dần làm quen, thích ứng và biết
cách tổ chức việc học, tìm tòi tài liệu, tự
nghiên cứu, thảo luận một cách hiệu quả.
Hiện nay, hầu hết các trường Đại
Học đã chuyển sang hình thức tín chỉ, các
môn học về môi trường giảm số tiết học và
giảm thời gian lên lớp. Chính vì vậy, các
phương pháp diễn giảng, độc thoại, đọc
chép đã không còn phát huy tác dụng của
nó. Những biện pháp phát huy tư duy tích
cực, đưa người học vào vị trí trung tâm
như phương pháp dạy học đặt vấn đề đang
được xem là một biện pháp triển vọng cần
nhân rộng trên mô hình đào tạo tín chỉ.
Tài liệu tham khảo
(Vui lòng xem bản tiếng Anh)