Hoạt động truyền thông về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay (2005-2010). Khảo sát và tham khảo trên báo Nhân Dân, Tuổi Trẻ, Người Công giáo Việt Na - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THUỲ DƯƠNG
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY (2005 – 2010)

(Khảo sát và tham khảo trên báo: Nhân Dân, Tuổi Trẻ,
Người Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí – truyền thông
Mã số 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS ĐỖ QUANG HƯNG
Hà Nội - 2011



2
2.1.2 Báo Tuổi Trẻ 52
2.2 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề tôn giáo 55
2.3 Vai trò nhiệm vụ của hệ thồng báo chí đối với vấn đề tôn giáo trong xã hội
Việt Nam hiện nay 58
2.3.1 Vấn đề tôn giáo trong hoạt động báo chí ở Việt Nam 58
2.3.2 Báo chí với giáo dục, nâng cao hiểu biết về chính sách, đường lối, đổi mới của
Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo 60
2.3.3 Cỗ vũ xu hướng đường lối đấu tranh Tốt đời, đẹp đạo, và khai thác các
giá trị về tôn giáo 64
2.3.3.1 Quan niệm sồng tốt đời, đẹp đạo 64
2.3.4 Báo chí giáo dục, tuyên truyền cho những thành tựu đổi mới về đời sống
sinh hoạt tôn giáo trong nên kinh tế thị trường 76
2.4 Nghệ thuật tuyên truyền thông tin tôn giáo trên báo in Việt Nam
2.4.1 Nội dung và tính chất sự kiện 79
2.4.2 Hình thức truyền tải thông tin tôn giáo trên báo in Việt Nam 83
Tiều kết chương 2 89
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRÊN BÁO IN VIỆT NAM. 91
3.1 Đánh giá chung 91
3.1.1 Ưu điểm 91
3.1.2 Hạn chế 93
3.2 Một số giải pháp nhằm chống lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch
và nâng cao hiệu quả thông tin trên báo in Việt Nam. 97
3.2.1 Một số giải pháp chống lại các luận điệu sai trái, thù địch 97
3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả thông tin. 100
Tiểu kết chương 3 106
PHẦN KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

cƣờng Mỹ và các nƣớc Tây Á. Thử điểm xuyến toàn bộ các sự kiện xung đột diễn ra

4
trên thế giới trong thời gian gần đây hầu nhƣ không có một xung đột nào lại không
liên quan đến vấn đề tôn giáo, tộc ngƣời. Và có lẽ cũng khó có thể phủ nhận đƣợc
nhận định của các nhà học giả dự đoán, thế kỷ XXI là thế kỷ xung đột giữa các nền
văn hoá, văn minh trong đó trong đó vấn đề tôn giáo là trọng tâm.
Đối với Việt Nam - một quốc gia đa tôn giáo, đa tộc ngƣời, phần lớn tôn giáo
ở nƣớc ta đều là ngoại sinh. Nên khi du nhập vào Việt Nam đều phải biến đổi ít
nhiều để phù hợp với dân tộc, nền tảng văn hoá bản địa. Tuy nhiên nhìn một cách
toàn cục trong suốt chiều dài lịch sử, vấn đề tôn giáo ở nƣớc ta không phải đã êm
ấm.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng thành công, lập
nên nhà nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với phƣơng châm phù hợp và đúng
đắn: tự do tín ngƣỡng, tự do tôn giáo, lƣơng giáo đoàn kết, tự do cho mọi ngƣời,
độc lập dân tộc… Vì thế đã tìm đƣợc mẫu số chung giữa những ngƣời có tín
ngƣỡng, tôn giáo và những ngƣời không có tín ngƣỡng, tôn giáo quy tụ đƣợc sức
mạnh đoàn kết toàn dân, đập tan âm mƣu chia rẽ khối đại đoàn kết của kẻ thù, đƣa
đất nƣớc Việt Nam sang một trang sử mới.
Bƣớc sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá, vì
mục tiêu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đảng và Nhà
nƣớc ta đảng và nhà nƣớc ta đã có những chính sách đúng đắn về vần đề tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo. Những chính sách đó phần nào giải quyết đƣợc mâu thuẫn của
vấn đề tôn giáo đang tồn tại trên đất nƣớc ta. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay,
quan hệ giữa các tôn giáo với nhau, giữa những ngƣời có tôn giáo và những ngƣời
không có tôn giáo với nhau vẫn còn nhiều mâu thuẫn phức tạp chƣa đƣợc giải quyết
hết. Hiện nay các thế lực thù địch không từ bỏ âm mƣu lợi dụng vấn đề tôn giáo tạo
ra sự bất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân chống lại Đảng, Nhà
nƣớc, chống lại con đƣờng đi lên CNXH mà nhân dân ta đã lựa chọn.
Từ những vấn đề trên cho thấy, giai đoạn hiện nay việc nghiên cứu về tôn giáo

hệ giữ Tôn giáo và Dân tộc trong Cách mạng Dân tộc, Dân chủ và trong Cách mạng
XHCN. Những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa Tôn giáo – Dân tộc ở nƣớc
ta hiện nay.

6
“Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam” là
đề tài luận án Tiến sỹ Triết học của tác giả Hoàng Thị Lan, H, 2005. Luận án này
nhằm phân tích ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo với đạo đức trong xã hội Việt Nam
hiện nay. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, hạn chế của đạo
đức tôn giáo trong nên đạo đức xã hội mới.
Tuy nhiên những đề tài trên chỉ tập trung nghiên cứu vần đề tôn giáo, dƣới
góc độ của Triết học. Về phƣơng diện báo chí nghiên cứu về hai vấn đề nay còn rất
ít, đặc biệt là vấn đề nhân quyền. Một số đề tài nghiên cứu về tôn giáo dƣới góc độ
của báo chi học chủ yếu là khoá luận tốt nghiệp của sinh viên nhƣ: “ Thử tìm hiểu
những tờ báo công giáo Việt Nam hiện nay”(Lại Trọng Bình - 1996); “ Hiện trạng
tình hình Đạo Công giáo Việt Nam trên báo chính nghĩa và Người Công giáo Việt
Nam”(Phạm Minh Đức – 1997); “Báo chí Việt Nam hiên nay vởi vấn đề tôn giáo –
tín ngưỡng” (Trần Lƣu – 2001).
GS.TS Đỗ Quang Hƣng đã từng có rất nhiều bài viết về vấn đề tôn giáo, ví dụ
nhƣ: “ vấn đề tự do tôn giáo – nhân quyền ở Việt Nam” trên tờ Tạp chí Cộng sản, số
84 – 2005 Qua đó chúng ta phần nào hiểu đƣợc tình hình tôn giáo đang tồn tại ở
nƣớc ta. Tuy nhiên đây chỉ là một bài viết về một mảng nhỏ trong tổng thể vấn đề,
nên nó không thể nêu lên một cách cụ thể và bao quát hết đƣợc thực trạng của hai
vấn đề đang dành đƣợc nhiều sự quan tâm của mọi ngƣời.
Những công trình và những bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
về vấn đề tôn giáo. Những tìm tòi, sáng tạo đó là những bƣớc tiến quan trọng trong
lý luận về vấn đề này. Tuy nhiên ở nƣớc ta đến nay vẫn chƣa có những công trình
nghiên cứu về vấn đề tôn giáo và vấn đề nhân quyền một cách cụ thể, chi tiết. Bên
cạnh đó, cũng chƣa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống về “vấn
đề tôn giáo – nhân quyền”.

Thứ tư: Tìm kiếm và xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt
động của báo chí đối với việc phản ánh các thông tin xã hội nói chung và các thông
tin về vấn đề tôn giáo nói riêng.
8
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn đã vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ
tƣờng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc, chính sách chiến lƣợc
về tôn giáo. Đồng thời, tác giả luận văn còn vận dụng các thành tựu của khoa học
chính trị, vận dụng các quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để tiến
hành thực hiện nghiên cứu đề tài này.
Bên cạnh đó, đi sâu nghiên cứu đề tài, luận văn không bám sát các chuyên mục
cụ thể để phân tích mà sẽ tổng hợp từ các tiểu mục, các trang báo, những bài viết
thể hiện một cách sinh động và điển hình nhất trong việc tuyên truyền một cách
khách quan về vấn đề tôn giáo.
Ngoài ra, tác giả luận văn sẽ sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nhƣ: phân tích
văn bản (nghiên cứu nội dung văn bản một cách có hệ thống), tổng hợp, thống kê,
liệt kê, phân loại… nhƣng bao trùm là phƣơng pháp phân tích văn bản và phân loại
do thông tin đặc thù của vấn đề tôn giáo. Những phƣơng pháp này cố gắng thể hiện
đầy đủ và trung thực vai trò của báo chí trong việc phục vụ cho sự nghiệp phát triển
ổn định của đất nƣớc nói chung và đời sống báo chí nói riêng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này sẽ tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu vai trò của báo chí trong
việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng,
Nhà nƣớc với vần đề tôn giáo; vai trò của báo chí trong việc chống lại âm mƣu của
kẻ thù lợi dụng tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta. Đồng thời
thông qua đó chúng ta tìm hiểu về đời sống sinh hoạt tôn giáo của ngƣời dân Việt
Nam.

tại của vấn đề trong đời sống chính trị - xã hội của nƣớc ta. Bên cạnh đó, chính sách
của các thế lực thù địch cũng đƣợc đề cập đến. Qua đó, tác giả muốn đƣa đến cho
ngƣời xem một cái nhìn tổng thể, toàn diện về đề tài luận văn của mình.
( Dự kiến chƣơng này khoảng từ 25 đến 30 trang)
Chƣơng 2: Báo chí Việt Nam trong quá trình tuyên truyền về vấn đề tôn
giáo

10
Chƣơng hai là phần nội dung thông tin chính của đề tài luận văn. Qua chƣơng
này, khảo sát thực tiễn báo chí trong việc phản ánh vấn đề tôn giáo hiện nay trên hai
phƣơng diện nội dung và hình thức
( Dự kiến chƣong này khoảng từ 55 đến 60 trang)
Chƣơng 3: Đánh giá chung và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải
thông tin về vần đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá về những ƣu điểm và hạn chế
của việc thông tin về vấn đề tôn giáo nhân quyền trên báo chí Việt Nam . Bên
cạnh đó, tác giả cũng sẽ đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hiệu
quả thông tin về vấn đề tôn giáo nhân quyền trên báo chí.
( Dự kiền chƣơng này khoảng từ 20 đến 25 trang)
Phụ Lục: Phần này bao gồm các trang báo đã đƣợc khảo sát ở chƣơng hai và
một số tranh, ảnh có liên quan.

Quan niệm này của Mác cũng đƣợc những ngƣời macxit xem nhƣ một định
nghĩa về tôn giáo. Trong “Chống Đuyrinh”, Ph. Ănghen cho rằng: “Tất cả mọi tôn
giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những
lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế…
Nhưng chẳng bao lâu bên cạnh những lưc lượng thiên nhiên, lại còn có cả những
lực lượng xã hội tác động – những lực lượng này đối lập với con người một cách

12
cũng xa lạ lúc đầu không thể hiểu được đối với họ và cũng thống trị họ với cái vẻ
tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lương tự nhiên vậy” [6, Tr.437].
Quan niệm này của Ănghen cũng đƣợc những ngƣời Macxit xem nhƣ một định
nghĩa về tôn giáo. Cả hai quan niệm về tôn giáo của Mác và Ănghen trên đây đều
nhấn mạnh đến nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, đó là nhƣng định nghĩa tôn giáo
mang tính “bản thể luận”.
Sau này Lênin nhấn mạnh đến nguồn gốc tâm lý xã hội của tôn giáo dƣới chủ
nghĩa tƣ sản: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh. Sự sợ hãi thế lực mù quáng của tư bản
– mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó – là thế lực bất
cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại
cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”,
làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một
gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói. Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo
hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết, nếu người ất không muốn cứ
mãi mãi là một người duy vật sơ đẳng” [23, Tr.515].
Về vai trò, chức năng của tôn giáo, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac –
Lênin cho rằng chức năng quan trọng nhất của tôn giáo là chức năng đền bù hƣ ảo,
đồng thời Mac cũng nhấn mạnh đến vai trò phản kháng của tôn giáo chống lại nỗi
khốn cùng thực tại. Đoạn văn hết sức nỗi tiếng của Mac đƣợc Lênin cũng nhƣ các
nhà Macxit cho là quan niệm nền tảng của chủ nghĩa Mac về tôn giáo: “Sự khốn
cùng của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực và mặt khác là

những niềm tin, mà còn là những thực hành có tính nghi thức và văn hóa. Nó cũng
còn là một thể chế xã hội, một tổ chức có tính chất cộng đồng” [12, Tr.32].
Tóm lại, trên cơ sở kế thừa quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác – Lênin và các nhà nghiên cứu tôn giáo khác trên thế giới, tác giả luận văn
quan niệm về định nghĩa tôn giáo nhƣ sau: “Tôn giáo là một thực thể xã hội có cùng
một niềm tin vào lực lượng siêu nhiên trần thế, là kết quả của sự phản ánh một cách
hư ảo vào đời sống hiện thực của con người và có sức mạnh chi phối đời sống hằng
ngày của con người”

14
Cũng có thể tiếp cận định nghĩa tôn giáo theo quan điểm của các học giả tiêu
biểu: Edwar B.Taylor, E.Durkheim, Y.lambert. Theo Edwar B.Taylor, nhà dân tộc
học ngƣời Anh cho rằng: “Nếu hiểu tôn giáo là niềm tin với đấng tối cao, sự phán
xét sau khi chết, thờ cúng và các thần tượng, các tập tục hiến tế, hay các giáo thuyết
hoặc nghi thức nào tương đối phổ biến, thì tất nhiên sẽ gạt bỏ nhiều bộ lạc ra khỏi
thế giới tôn giáo”.
Quan điểm này dƣờng nhƣ E.Taylor đã bác bỏ một số quan điểm của một số
học giả trƣớc đó nghiên cứu về thần thánh nhƣ A.Rewlle. Theo ông cách tốt nhất
nghiên cứu nó là cần phải đƣa ra một định nghĩa tối thiểu. E.Taylor cho rằng, tất cả
hệ thống tôn giáo đều có chung một điểm đó là sự phụ thuộc của con ngƣời vào một
đấng tối cao nào đấy. Ý chí này thƣờng có sức mạnh bảo họ, che chở hoặc mang tai
họa cho con ngƣời. Do đó ông đã đi đến kết luận: “Tốt hơn, có lẽ nên đặt sự tin vào
các thực thể tâm linh, chỉ như là đinh nhĩa tối thiểu về tôn giáo” [35, Tr. 127].
Tuy nhiên ngay sau khi Taylor nêu ra định nghĩa tối thiểu về tôn giáo đã có
những quan điểm không đồng tình. Chẳng hạn nhƣ E.Durkheim cho rằng: “Nếu
hiểu tôn giáo theo Taylor một mặt loại bỏ ngoại diên của khái niệm của tôn giáo
lớn, mặt khác đưa cả những hiện tượng ít người coi là tôn giáo.” [35, Tr.120-127].
Nhƣ vậy định nghĩa tôn giáo của E.Taylor nói chung là đúng, nhƣng chƣa đủ. Hạn
chế lớn nhất của định nghĩa này là ở chỗ, không thấy đƣợc sự tƣơng tác của cặp đôi
tự nhiên – siêu nhiên. Trên thực tế không phải bất kỳ vật thể ban đầu nào cũng có

thiêng, siêu tự nhiên nhƣ trong tôn giáo. Vì vậy, định nghĩa về tôn giáo chƣa đƣợc
bao quát.
Là ngƣời sinh ra ở Việt Nam và thấu hiểu văn hóa Việt Nam khi nghiên cứu về
tôn giáo Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận xét: Ngƣời dân An Nam không có linh mục,
không có tôn giáo theo cách nghĩ của ngƣời Châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn
toàn là một hiện tƣợng xã hội. Chúng tôi không có ngƣời tƣ tế nào, những ngƣời già
trong gia đình hay các già bản là ngƣời thực hiện những nghi lễ tƣởng niệm. Chúng
tôi không biết uy tin của ngƣời thầy cúng, ngƣời linh mục là gì? [9, Tr.497].
Điều này lại thêm một lần nữa đƣợc Phạm Văn Đồng khẳng định: Từ xa xƣa,
dân tộc Việt Nam không có tôn giáo theo nghĩa thông thƣờng của nhiều nƣớc khác.

16
Còn nói tôn giáo là thờ cúng, thì mọi ngƣời đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ
cúng tổ tiên, làng thì thờ cúng Thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nƣớc, các tổ
phụ nghề, các danh nhân văn hóa. Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là đặc trƣng đáng
trân trọng của ngƣời Việt Nam, ở chỗ luôn tƣởng nhớ những ngƣời có công với
nƣớc trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay của mọi gia đình làng xóm [12, Tr.66].
Những nhận định đó cũng phù hợp với quan điểm của linh mục L. Ladiere mà
tác giả Đặng Nghiêm Vạn dẫn: “Các dân tộc viễn đông, đặc biệt là người Việt Nam,
là mang đậm tâm thức tôn giáo. Thuật ngữ tôn giáo bao hàm nhiều mức độ, nhiều
sắc thái. Nếu ta coi tôn giáo là niềm tin vào một đấng tối cao tuyệt đối, đầy lớn lao
và hoàn hảo, là hợp nhất bằng cả tấm lòng của bản thân với đấng tối cao hiện diện
ở khắp nơi, là sự hợp nhất bằng cả trái tim với đức chúa đầy lòng bác ái, ngự trị và
nằm giữa tất cả. Cuối cùng vì lòng biết ơn và sự hoàn thiện tột cùng, thể hiện ra
bằng sự tôn thờ một cách xứng đáng với đấng tối cao đó, thì ta phải nói người Việt
Nam không có tôn giáo. Khái niệm đấng tối cao tuột khỏi họ, họ sống không có
chúa. Nhưng nếu ta quan niệm tôn giáo là tín ngưỡng và thực hành ảnh hưởng đến
cách ứng xử theo lẽ phải cuộc đời đến một thế giới siêu nhiên thì ta thấy người Việt
Nam có cái đức tính đó ở mức độ cao” [38, Tr 17].
Ngoài nghĩa rộng về tôn giáo trên, có nhiều cách sử dụng cũng nhƣ nhiều

tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh. Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và
tinh thần không cần phải "đƣợc cái này mất cái kia": một ngƣời sùng đạo có thể có
tinh thần hay không tinh thần, và một ngƣời có tinh thần có thể có hay không sùng
đạo. Theo tƣơng tự, ta có thể xem "tôn giáo" nhƣ là than, củi, hay xăng, và "tinh
thần" là ngọn lửa
Tóm lại, qua sự trình bày sơ lƣợc và hệ thống những quan điểm tôn giáo cho
thấy, việc xác định nội dung định nghĩa tôn giáo là phức tạp và đa dạng. Mỗi cách
tiếp cận đều hàm chứa những nội dung khác nhau mà không thể phủ nhận. Tuy
nhiên, để có định nghĩa phổ quát và thống nhất về tôn giáo chắc hẳn không chỉ dừng
lại ở những nội dung hiện có, mà sẽ đƣợc bổ sung hoàn thiện cùng với sự phát triển
của khoa học hiện đại với tƣ duy của loài ngƣời. Dầu vậy, trong khi thực hiện luận
văn, tôi xin đƣa ra một khái niệm tôn giáo của tác giả Đặng Nghiêm Vạn đó là:

18
“Đối tượng của tôn giáo là thế giới bao gồm các lực lượng siêu nhiên, về hình
mang tính linh thiêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên toàn thế
giới cũng như thế giới bên kia. Tôn giáo được biểu hiện đa dạng tùy thuộc vào từng
thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau của từng cộng đồng xã hội
hay tôn giáo khác nhau. Nếu là định nghĩa tôn giáo, cần phải xem xét thêm những
yếu tố cấu thành, tính chất, chức năng cuả tôn giáo, đồng thời cũng phải đi sâu vào
hiện tượng gần với tôn giáo hay mang tính tôn giáo”. [32, Tr.72-73]
Ở cách tiếp cận này, tác giả đặc biệt nhấn mạnh, khi đề cập đến tôn giáo nhƣ là
một hiện tƣợng xã hội, cần phải xem thêm những yếu tố cấu thành tôn giáo, niềm
tin tôn giáo, nghi lễ, giáo lý, tổ chức. Đây là những “cầu nối” trong quan hệ giữa thế
giới hiện hữu và thế giới phi hiện thực. Là một hình thái ý thức xã hội và cũng là
một hiện tƣợng xã hội, với một cơ cấu tổ chức đặc thù, nên nói tới tôn giáo là nói
tới cộng đồng có chung một niềm tin, tồn tại trong một cơ cấu hết sức chặt chẽ,
song luôn chụi sự chi phối bởi cộng đồng lớn đó là quốc gia dân tộc.
Nhƣ đã trình bày, nói tới tôn giáo là nói tới cộng đồng chung một niềm tin, tồn tại

Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, nhiều đế chế ra đời và thâu tóm vào
mình nhiều quốc gia. Do nhu cầu một tôn giáo của đế chế, những tôn giáo nhƣ Phật,
Nho, Kitô, Hồi… đã xuất hiện từ trƣớc trở thành tôn giáo của đế chế và đƣợc chấp
nhận nhƣ một tôn giáo chính thống. Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo
manh tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể,
với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc ngƣời, dân tộc hay địa phƣơng nhất
định nên sự bành trƣớng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc
khác. Do vậy, dù đƣợc phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn
giáo đó đã đƣợc các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không
tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo
riêng của quốc gia đó. Sự bành trƣớng kiểu nhƣ vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn
minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng,
giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh
chấp xung đột nhau và không ít trƣờng hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự,

20
chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra. Những tôn giáo nhƣ Kitô, Hồi do tính cực
đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tƣợng tôn thờ duy nhất) nên
ban đầu đi đến đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ
trƣớc. Còn một số tôn giáo phƣơng Đông nhƣ Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận
hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hƣớng trần tục nhiều hơn là thế giới bên
kia.
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi
hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một
giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp. Tình trạng độc tôn của một tôn
giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời
sống tôn giáo. Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát
triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Những yếu
tố lỗi thời đƣợc huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế
hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên

+) Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu
hiện của việc ngƣời nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng
những hành động tƣợng trƣng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con
đƣờng siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, ngƣời nguyên thủy cố gắng tác động
đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật
trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu đƣợc của các tôn giáo phát triển.
Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm
phép…). Tàn dƣ của ma thuật là các hiện tƣợng bói toán, tƣớng số ngày nay.
+) Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái
vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt
lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể nhƣ hòn đá, gốc cây, bùa,
tƣợng… Họ cho rằng có một lực lƣợng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái
vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tƣợng
gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…
+) Vật linh giáo : Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của
con ngƣời đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin
ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái
siêu nhiên của ngƣời cổ xƣa. Giai đoạn này đã có ảo tƣởng cho rằng có hai thế giới:

22
một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên
thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của ngƣời nguyên thủy cũng đầy
đủ động vật, thực vật, các đối tƣợng do tinh thần tƣởng tƣợng ra và không khác biệt
gì lắm so với thế giới thực tại.
- Tôn giáo trong xã hội có giai cấp
Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nƣớc, quốc gia với các vùng
lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của
quần chúng mà còn là một phƣơng tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp
bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trƣớng, xâm lƣợc vì vậy tôn
giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn

- Toàn cầu hóa kinh tế dƣới sự chi phối của chủ nghĩa tƣ bản đang là một xu
thế mạnh mẽ kéo theo sự phát triển nhƣ vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ làm thay đổi cuộc sống của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới. Kinh tế
thị trƣờng là loại hình kinh tế mang tính phổ cập trên toàn thế giới, một mặt nó
mang lại sự phát triển kinh tế, xã hội mạnh mẽ, mặt khác, mặt trái của kinh tế thị
trƣờng cũng đang tác động tiêu cực đến đời sống vật chất, tinh thần của tất cả các
nƣớc trên thế giới: sự gia tăng của tâm lý lo lắng, bất ổn, sự suy thoái đạo đức, sự
phân hóa giàu nghèo tăng nhanh, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, gia tăng các bệnh dịch
nguy hiểm trên toàn thế giới…
- Cuộc đấu tranh của nhân dân toàn thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới. chiến tranh lạnh kết
thúc nhƣng bộ mặt tàn ác của chủ nghĩa tƣ bản không hề giảm đi, các cuộc chiến
tranh đẫm máu ở Apganistan, Irắc… Ảo tƣởng của một số nƣớc từ bỏ con đƣờng xã
hội chủ nghĩa đi theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa đã phải trả giá đắt: xung đột dân
tộc, nạn khủng bố, mất an ninh xã hội…
Mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tƣ bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội
hóa ngày càng cao của lực lƣợng sản xuất với chế độ chiếm hữu tƣ nhân tƣ bản chủ
nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các dân tộc, các nƣớc đang phát triển với
chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa các nƣớc đế quốc, các tập đoàn tƣ bản hiện dƣới
nhiều hình thức, mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển.
Chũ nghĩa xã hội hiện thực tuy bị thất bại tạm thời, nhƣng đó là thất bại của
mô hình cụ thể, mô hình của nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp.

24
Còn lý tƣởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội, những thành tựu của công cuộc cải
cách, đổi mới ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa còn lại nhƣ Trung Quốc, Việt Nam, Cu
Ba vẫn là thực tế không thể phủ nhận đƣợc. Chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu vƣơn
tới của nhân loại tiến bộ.
Sự thăng trầm của đời sống kinh tế - chính trị thế giới những thập niên đã có
tác động mạnh mẽ đến đời sống tôn giáo trên toàn thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status