Khảo sát tầng nghĩa trí tuệ của hệ thuật ngữ trên văn bản luật tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
PHÍ LÊ MAI KHẢO SÁT TẦNG NGHĨA TRÍ TUỆ
CỦA HỆ THUẬT NGỮ
TRÊN VĂN BẢN LUẬT TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2012 QUY ƢỚC VIẾT TẮT

STT
Viết tắt
Đầy đủ
1
BLDS
Bộ luật Dân sự
2
BLHS
Bộ luật Hình sự
3
LTM
Luật Thƣơng Mại
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU – MÔ HÌNH
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp sự phát triển nghĩa trên cơ sở tƣ liệu thuật ngữ………… .57
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ BLDS…………….77
Mô hình 3.2: Tháp thuật ngữ trong BLDS…………………………………………….79
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp về tần suất xuất hiện của các thuật ngữ trong BLHS………82
Mô hình 3.4: Tháp thuật ngữ trong BLHS…………………………………………….83

1.2.2. Quan niệm về thuật ngữ và đặc điểm của thuật ngữ 21

2

1.2.2.1. Cách hiểu về thuật ngữ 21
1.2.2.2. Đặc điểm của thuật ngữ 23
1.3. Hƣớng nghiên cứu của luận văn 24
Tiểu kết 25
CHƢƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẦNG NGHĨA BIỂU NIỆM CỦA THUẬT
NGỮ LUẬT 27
2.0. Dẫn nhập 27
2.1. Con đƣờng phát triển của nội hàm thuật ngữ 27
2.2. Sự nâng cấp của thuật ngữ luật từ từ thông thƣờng 29
2.3. Thực tế quá trình biến đổi của nội hàm thuật ngữ 30
2.3.1. Sử dụng nguyên nội hàm về nghĩa của nội dung từ trong các sử dụng đời
thƣờng 31
2.3.2. Sử dụng một phần nội hàm nghĩa và làm rõ chi tiết theo chiều sâu 39
2.3.3. Sử dụng từ một phần nội hàm về nghĩa và mở rộng nội hàm nghĩa 43
2.3.4. Nội hàm nghĩa biểu niệm rộng hơn nghĩa biểu thị 47
2.4. Sự chuyển hoá giữa nghĩa biểu niệm và biểu chỉ, chuyển dịch giữa các nghĩa,
dùng chung nội dung 50
2.4.1. Lí do của việc chuyển hóa chức năng-nghĩa của từ 50
2.4.2. Phân loại sự phát triển về nội hàm nghĩa theo cơ sở tƣ liệu 54
Tiểu kết 56
CHƢƠNG 3: NGHĨA HỆ THỐNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TỪ NGHĨA HỆ
THỐNG CỦA THUẬT NGỮ LUẬT 57
3.0. Dẫn nhập 57
3.0.1. Mục đích 57

3

sự tác động sâu sắc của quá trình ấy. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, vai trò
của Nhà nƣớc pháp quyền càng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tạo điều kiện cơ sở để đẩy nhanh phát triển kinh tế, đi kèm theo đó
là những tiến bộ của xã hội, mang lại nền dân chủ thực sự cho ngƣời dân trong xã
hội. Theo đó, việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp nói chung và hệ
thuật ngữ luật pháp nói riêng là yếu tố quan trọng.
Thời gian qua, để nâng cao hiệu quả việc quản lý ngƣời dân bằng pháp luật,
Chính phủ đã ra hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật, đề ra những quy tắc, chuẩn
mực chung, có tính chất bắt buộc thực hiện với tất cả mọi ngƣời, đƣợc ban hành bởi
các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo trình tự thủ tục lập pháp. Theo đó, có
nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến một số các lĩnh vực khác nhƣ hệ thống pháp luật,
kết cấu bộ máy Nhà nƣớc, thể chế chính trị,… và cả các vấn đề liên quan chặt chẽ
đến ngôn ngữ nhƣ hệ thống thuật ngữ và sự phát triển của nhận thức thể hiện trong
ngôn ngữ. Yếu tố này không thể phát triển tự do mà luôn phải tuân thủ theo một
logic chặt chẽ.
Theo logic đó, các nghĩa của từ khi đƣợc nhận thức tập hợp luôn phải tồn tại
và đƣợc sắp xếp theo một qui luật tổ chức nhất định. Nhƣng bài toán về mối liên hệ
giữa các thành phần ý nghĩa và đặc biệt là thành phần thể hiện nghĩa khoa học theo
chiều hƣớng logic xuyên suốt toàn bộ tập hợp nghĩa của từ thì chƣa có đƣợc lời giải
thỏa đáng. Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, sự biến đổi nghĩa của từ
không phải là kết quả tác động của một yếu tố, mà đó là sự tổng hòa của nhiều yếu
tố tác động. Thứ nhất, kết cấu nghĩa của từ không bất biến mà luôn vận động và phát

5

triển. Thứ hai, sự biến đổi của đời sống xã hội và nhất là sự phát triển không ngừng
của nhận thức của nhận thức con ngƣời đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của
hệ thống ngôn ngữ, làm cho một từ phát sinh thêm các biến thể ngữ nghĩa. Ngoài hai
yếu tố trên, còn phải kể đến bản thân hệ thống ngôn ngữ. Ngôn ngữ luôn đƣợc bổ
sung nhiều yếu tố mới, đồng thời nó loại bỏ đi những yếu tố không còn phù hợp.

Dân sự của Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây viết tắt là BLDS),
Bộ luật hình sự của Nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là
BLHS) và Luật Thƣơng mại (năm 2005) do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm
2010.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích chính của luận văn là khảo sát các vấn đề cơ bản của tầng
nghĩa trí tuệ ở các từ thể hiện nội dung khoa học thƣờng gặp. Chúng tôi hiểu rằng
việc nghiên cứu tầng nghĩa thể hiện khả năng nhận thức của con ngƣời là không hề
đơn giản bởi muốn có kết quả khảo sát chính xác, chúng tôi cần có lƣợng kiến thức
chuyên ngành tƣơng đối lớn và sâu sắc. Tuy nhiên, đây lại là việc làm hết sức cần
thiết.
3.2. Nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của phổ nghĩa từ vựng, chúng
tôi đặc biệt quan tâm tới tầng nghĩa trí tuệ. Theo đó, chúng tôi tập trung phân tích
một số thuộc tính cơ bản của tầng nghĩa nhƣ mối tƣơng quan về số lƣợng giữa các
kiểu nghĩa, mối liên hệ giữa các kiểu nghĩa hay sự phát triển của từng kiểu nghĩa
dẫn đến sự mở rộng của cả tầng nghĩa. Cùng với đó, chúng tôi song song khảo sát
những từ khoá của mỗi ngành luật và của chung hệ thống luật cơ bản của Việt Nam
để bƣớc đầu đƣa ra những vấn đề đƣợc pháp luật và xã hội quan tâm dƣới góc nhìn
từ hệ thống thuật ngữ luật Việt Nam. 7

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc các mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu sau đây:
- Phƣơng pháp miêu tả: Phƣơng pháp miêu tả dùng để miêu tả các phƣơng
thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ đƣợc sử dụng
trong lĩnh vực chuyên môn của luật và đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ luật.
- Phƣơng pháp phân tích thành tố trực tiếp: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng

Phần mở đầu, chúng tôi đề cập đến lí do chọn đề tài và giới thiệu về mục
đích, nhiệm vụ, ý nghĩa và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn này, nhƣ đã nêu ở
trên.
Chƣơng 1, chúng tôi trình bày cơ sở lí luận cho sự tồn tại của phổ nghĩa từ
vựng nói chung và của tầng nghĩa trí tuệ nói riêng và các khái niệm liên quan.
Chƣơng 2, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát hai kiểu nghĩa biểu niệm và
biểu hiện về tƣơng quan số lƣợng cũng nhƣ sự tồn tại của nó trong một số ngành
khoa học cơ bản.
Chƣơng 3 là đóng góp chính của luận văn về sự nghiên cứu đặc điểm của
tầng nghĩa trí tuệ trong chính bản thân nó cũng nhƣ trong mối liên hệ với cách sử
dụng đời sống.
Cuối cùng, phần kết luận sẽ trình bày những nhận xét có đƣợc sau quá trình
thực tế nghiên cứu.

9

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.0. Dẫn nhập
Theo GS. Hoàng Tuệ: “Từ vựng của tiếng Việt là cả một thế giới biểu trƣng
hoá. Chất liệu của sự biểu trƣng hoá này là thực tế của cuộc sống đƣợc khái niệm
hoá theo cái lí của trí tuệ ngƣời Việt Nam. Đó là phần độc đáo trong bản sắc của
tiếng Việt chúng ta, và nói chung, cái khác nhau giữa các ngôn ngữ chính là cuối
cùng cái khác nhau giữa các cấu trúc - ngữ nghĩa.” [6; 25]. Nhƣ vậy, theo GS.
Hoàng Tuệ, mặt ngữ nghĩa mới là mặt đáng lƣu ý trong một đơn vị ngôn ngữ.
Ý nghĩa không chỉ tồn tại trong phạm vi ngôn ngữ mà còn tồn tại trong cả
lĩnh vực ngoài ngôn ngữ. Song tất cả những lĩnh vực đó đều phải có sự tham gia của
nhận thức con ngƣời. Nhận thức quyết định ý nghĩa. Nhận thức càng phát triển thì
nội hàm ý nghĩa càng đƣợc mở rộng. Để thể hiện sự phức tạp của ý nghĩa từ vựng,
ngôn ngữ học có hai khái niệm: từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa. Đây là hai khái niệm cơ
sở, có nội hàm bao trùm toàn bộ nội dung ý nghĩa từ vựng nói chung.

kết quả của việc sử dụng và phát triển lịch đại ngữ nghĩa.
- Các nghĩa của một từ đa nghĩa đƣợc nhìn nhận từ góc độ biểu vật nhƣng lại
định hình nhƣ một đơn vị, một cấu tạo từ góc độ biểu niệm.
Nhƣ vậy, từ đơn nghĩa và từ đa nghĩa đƣợc phân biệt dựa trên cơ sở số lƣợng
nghĩa của từ. Từ đơn nghĩa có cấu trúc nghĩa rất đơn giản, chỉ gồm một nghĩa duy
nhất trong mọi tình huống xuất hiện của từ. Ngƣợc lại, từ đa nghĩa có cấu trúc nghĩa
rất phức tạp và với mỗi văn cảnh, chỉ có một trong số nhiều nghĩa của từ đƣợc thể
hiện, đƣợc hiện thực hóa.
Trong ngôn ngữ, cũng nhƣ các lĩnh vực khác, đơn vị nào hoạt động càng
nhiều thì càng có sự biến đổi và phát triển mạnh về chức năng. Quá trình biến đổi và
phát triển hệ thống từ vựng có sự tham gia của hiện tƣợng vay mƣợn và hiện tƣợng

11

cấu tạo các đơn vị mới. Vì lƣợng từ trong ngôn ngữ không thể tăng lên vô hạn tƣơng
ứng với sự phát triển của nhận thức, của các nội dung cần biểu đạt nên một hình
thức ngữ âm đôi khi phải biểu đạt nhiều nội dung khác nhau. Hơn nữa, ngôn ngữ có
sự đa dạng về chức năng, phong phú về loại hình văn bản nên đơn vị ngữ nghĩa của
từ luôn phải mở rộng phạm vi hành chức. Việc mở rộng dung lƣợng nghĩa của một
đơn vị từ vựng chính là con đƣờng làm giàu vốn từ theo chiều sâu.
1.1.2. Đa nghĩa là một sản phẩm và là một cấu tạo
1.1.2.1. Đa nghĩa là một sản phẩm
Là một hiện tƣợng có tính phổ biến và tính qui luật, đa nghĩa là một sản phẩm
tất yếu của tính không đối xứng, không đồng hình của tín hiệu ngôn ngữ. Hơn nữa,
vì ngôn ngữ tham gia vào quá trình tƣ duy, góp phần và tiếp nhận nhiều hoạt động
sáng tạo, nên từ đơn nghĩa dần biến đổi thành từ đa nghĩa.
Cũng bởi vậy, xét từ góc độ sử dụng ngôn ngữ, từ đa nghĩa thƣờng thuộc lớp
từ toàn dân, có tần số xuất hiện cao, tồn tại trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác
nhau. Ngoài ra, khi xem xét đặc điểm nghĩa của từ đa nghĩa, ta không thể bỏ qua
mối quan hệ giữa cấu trúc hình thức và nội dung ý nghĩa của từ.

có thể mô tả các nghĩa theo đặc điểm và tôn ti nhất định trong từ điển. Nhƣ vậy, từ
đa nghĩa là một cấu tạo, bản thân nó chứa đựng một hệ thống các nghĩa.
Hệ thống này càng ngày càng mở rộng theo sự phát triển nhận thức của con
ngƣời. Đặc biệt, sự xuất hiện nghĩa mới của từ đa nghĩa làm phong phú và góp phần
phát triển thành phần từ vựng của một ngôn ngữ. Đây là kết quả của sự phát triển
lịch đại ngữ nghĩa của từ nói riêng và hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa nói chung.
Sự phát triển của từ đa nghĩa là biểu hiện của sự phát triển ngôn ngữ văn hóa,
sự phong phú về tƣ duy và kinh nghiệm của cộng đồng. Hơn nữa, đó còn là cách là
giàu thêm vốn từ ngữ dân tộc. Qua đó, thể hiện một sự tiết kiệm tối ƣu, triệt để khi

13

khai thác số lƣợng vỏ ngữ âm hữu hạn của ngôn ngữ để biểu đạt nội dung phong phú
và vô tận của tƣ duy con ngƣời.
Ngoài ra, sự phát triển trong bản thân cơ cấu nghĩa của từ là sự phát triển theo
chiều sâu, điển hình cho sự phát triển về khả năng nhận thức, tƣ duy và giao tiếp của
con ngƣời.
1.1.3. Các kiểu - loại nghĩa của từ đa nghĩa
Kiểu – loại nghĩa của từ đa nghĩa là một vấn đề gây rất nhiều tranh luận từ
trƣớc tới nay. Điều đó đủ cho thấy sự phức tạp của vấn đề này. Tuy cùng thống nhất
rằng các nghĩa của từ đa nghĩa không phải là một tổ chức lộn xộn, giữa chúng có
mối quan hệ mật thiết. Nhƣng các ý kiến lại không thể thống nhất về nội dung các
nghĩa và mối quan hệ giữa các nghĩa đó.
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng nghĩa của từ là một hiện tƣợng phức tạp, bao
gồm các thành tố đơn giản hơn nhƣ:
- Nghĩa sở chỉ: chỉ ra mối quan hệ từ với sự vật, hiện tƣợng, quá trình mà từ
biểu thị.
- Nghĩa sở biểu: là quan hệ của từ vói ý, tức là khái niệm hoặc biểu tƣợng mà
từ biểu thị.
- Nghĩa sở dụng: là quan hệ từ với ngƣời sử dụng từ. Nhờ đó, ngƣời sử dụng

- Ý nghĩa bỉểu thái của từ là những nhân tố đánh giá, nhân tố cảm xúc, nhân
tố thái độ,… mà từ gợi ra cho ngƣời nói và ngƣời nghe [1].
Đánh giá một cách khách quan, các loại nghĩa mà Đỗ Hữu Châu đƣa ra hợp lí
hơn. Nhƣng theo chúng tôi, loại nghĩa biểu thái dƣới quan niệm của tác giả chính là
loại nghĩa biểu niệm đối với tính từ. Hay nói cách khác, nghĩa bỉểu niệm của tính từ
đƣợc tác giả phân thành một kiểu riêng: nghĩa biểu thái. Do vậy, cách phân chia theo
hƣớng này vẫn còn có điểm bất hợp lí.

15

Nhìn chung, theo quan điểm đồng đại xem xét cấu trúc nghĩa trong một tĩnh
trạng tƣơng đối, ngƣời ta không tính đến nhân tố nguồn gốc hay thời điểm xuất hiện.
Điều đƣợc đặc biệt chú ý là đặc điểm nội dung và mối quan hệ giữa các nghĩa. Theo
đó, ngƣời ta phân biệt nghĩa cơ bản – không cơ bản; nghĩa đen – nghĩa bóng; nghĩa
độc lập – nghĩa phụ thuộc văn cảnh,… Cách phân chia này căn cứ vào đặc điểm sự
tổ hợp các nét nghĩa.
Lê Quang Thiêm cho rằng chƣa có khái niệm nào đƣợc dùng từ cổ xƣa cho
đến nay nhƣ những loại nghĩa nêu trên lại thiếu cơ sở lí luận đến thế [13]. Bởi lẽ các
khái niệm này trong ngôn ngữ học chƣa đƣợc xác định một cách khoa học. Theo
ông, các khái niệm trên cần phải đƣợc xác định một cách cụ thể bằng các thành tố
nội dung và cách thức tổ chức các thành tố đó [13]. Tác giả chỉ ra rằng nghĩa cơ bản
là nghĩa chịu sự chi phối của các quan hệ hệ hình nhiều nhất; ngoài ra còn phải chịu
sự chi phối của các quan hệ cú đoạn. Còn nghĩa không cơ bản thì ngƣợc lại. Trong
mỗi nghĩa cơ bản thƣờng có chứa một hoặc một vài nét nghĩa khái quát phạm trù mà
nghĩa cơ bản bao chứa và kèm theo một vài nét nghĩa loại biệt do các kết hợp cú
đoạn tạo ra.
Sự phân biệt nghĩa đen – nghĩa bóng cũng đƣợc giải quyết trên cơ sở phân
biệt các nét nghĩa đƣợc xác định theo quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn. Nhƣ
vậy,việc xác định các loại nghĩa và các nét nghĩa dựa trên hai quan hệ này là khoa
học, bởi nó cho phép xác định một cách khách quan nội dung của các loại nghĩa và

thể.
Rõ ràng trên cả bình diện đồng đại và lịch đại, một từ dù có nhiều nghĩa đến
đâu cũng chỉ có thể đƣợc phân chia theo hƣớng lƣỡng phân mà thôi. Sự phân biệt
nhƣ vậy không thể chỉ rõ, không thể gọi tên một cách chính xác vị thế, vai trò của nó
trong các bộ phận nghĩa còn lại của từ. Bởi không thể đƣa ra một sự định loại đích
đáng cho từng bộ phận nghĩa của từ nhiều nghĩa nếu phân chia chúng theo hƣớng

17

lƣỡng phân. Theo đó, sẽ tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục. Lƣỡng phân không đủ
thang độ để loại biệt các thành tố nghĩa của từ đa nghĩa. Hơn nữa, nó không bao
quát hết đƣợc sự đa dạng của vốn từ và các loại hình phong cách chức năng. Do vậy
sự đa dạng của ngôn ngữ đời thƣờng cũng nhƣ sự đa dạng, phong phú của văn bản
khoa học – kĩ thuật không đƣợc xem xét triệt để.
Để giảm thiểu những hạn chế trên khi xác định các kiểu - loại nghĩa của từ đa
nghĩa, Lê Quang Thiêm đƣa ra mô hình phân chia các kiểu - loại nghĩa của từ đa
nghĩa thành 3 tầng nghĩa với 6 kiểu nghĩa. Theo quan điểm của tác giả, trong rất
nhiều các nhân tố tác động và qui định nghĩa từ vựng, nhân tố cần đƣợc ƣu tiên là
vai trò của chủ thể ngôn ngữ và sự tri nhận nghĩa. Sở dĩ có sự phân chia thành các
tầng nghĩa và các kiểu nghĩa nhƣ vậy là vì ở các phong cách chức năng nhất định, từ
đa nghĩa chỉ thể hiện một hoặc một vài nghĩa tƣơng ứng. Các nghĩa này không thể
bao quát hết toàn bộ hệ thống nghĩa thực sự của từ. Tác giả cho rằng nội dung phổ
nghĩa của từ không phải chỉ là một sự hình dung tiên nghiệm chủ quan. Đó thực chất
là sự phản ánh thể hiện qua văn cảnh nội dung các từ ngữ thuộc các loại hình phong
cách chức năng khác nhau. Các yếu tố thuộc tính của nội dung đó trải dài trong phổ
nghĩa từ vựng và đƣợc thể hiện tách bạch trong tầng nghĩa, kiểu nghĩa của từ [13].
Với lập luận nhƣ vậy, Lê Quang Thiêm đƣa ra sơ đồ tầng nghĩa và kiểu nghĩa
từ vựng nhƣ sau:

18

ngữ, một khía cạnh, một nội dung cụ thể nào đó xuất hiện. Nghĩa biểu thị xuất hiện
trong văn cảnh cụ thể đó và chỉ ra một nét, một đặc trƣng nhất định. Chính yếu tố
này giúp cho ngƣời thông báo trao đổi một cách tự nhiên và trực tiếp.
Nghĩa biểu chỉ: thực chất là nghĩa của những từ chỉ định nhƣ này, kia, ấy, đó,
nọ, tôi, tớ,… Nghĩa biểu chỉ của từ có thể đƣợc thay bằng một biểu thức qui chiếu.
Tầng nghĩa biểu trƣng: Là tầng nghĩa thể hiện mức độ của sự hình dung,
tƣởng tƣợng của con ngƣời khi liên hệ nghĩa với hình thức biểu hiện hoặc phạm vi
tồn tại khác trong cuộc sống. Tầng nghĩa này bao gồm 2 kiểu nghĩa:
Nghĩa biểu trưng: thể hiện nội dung nghĩa của những từ có hình thức ngữ âm
hoặc hình thức cấu âm liên hệ chặt chẽ với nội dung đƣợc biểu hiện. Đây là nghĩa
của những từ mà ta vẫn quen gọi là từ tƣợng thanh, tƣợng hình. Quá trình biểu tƣợng
hóa của tín hiệu vốn có nguồn gốc tâm lí trong đời sống xã hội và đƣợc ghi lại một
cách độc đáo trong ngôn ngữ.
Nghĩa biểu tượng: Là nội dung có đƣợc do sự hình dung, tƣởng tƣợng. Nội
dung tín hiệu đƣợc gán với những sự vật, hoạt động, thuộc tính của thế giới viễn

20

tƣởng. Biểu tƣợng luôn mang tính văn hóa, nghệ thuật, là giá trị nhân văn mà toàn
thể cộng đồng mã hóa vào trong ngôn ngữ.
Tầng nghĩa này, mà đặc biệt là kiểu nghĩa biểu tƣợng gắn bó chặt chẽ với
chức năng thẩm mĩ của từ ngữ.
Do chịu ảnh hƣởng của lí thuyết logic điển mẫu, Lê Quang Thiêm cho rằng
ranh giới giữa nghĩa đời thƣờng, nghĩa mang tính khoa học và nghĩa đƣợc sử dụng
trong sáng tạo hình tƣợng chỉ là một ranh giới mờ, khác nhau về độ đậm nhạt.
Chúng đƣợc phân bố đều đặn trên một phổ nghĩa từ vựng. Các nghĩa này không thể
bị phân cắt một cách rạch ròi, cứng nhắc. Chính vì không nhận thức đƣợc điều này
nên ngôn ngữ học truyền thống đã cố gắng phân định một cách rạch ròi, chính xác
ranh giới của từng loại nghĩa. Do vây, tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ đã không
đƣợc nhận diện một cách đầy đủ.

thông thƣờng. Thực ra, thuật ngữ về bản chất cũng là từ hoặc cụm từ. Nhƣng, chúng
khác nhau ở chỗ từ thì có thể đa nghĩa, còn thuật ngữ thì chỉ có thể có nghĩa chính
xác trong giới hạn một lĩnh vực khoa học –kĩ thuật nhất định. Đây cũng là quan
điểm đƣợc rất nhiều tác giả thống nhất.
Thuật ngữ đƣợc coi là những tri thức đúc kết đƣợc sau quá trình đúc kết của
tri thức nhân loại. Hiện nay, thuật ngữ đƣợc hình thành và phát triển không ngừng
với sự phát triển của các khoa học khác và thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà
ngôn ngữ học. Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học, nội dung thuật ngữ
hay tầng nghĩa trí tuệ ở các thuật ngữ cũng ngày càng phát triển.
Thuật ngữ không chỉ biểu thị một khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự
vật, một hiện tƣợng khoa học nhất định. “Thuật ngữ khoa học, kỹ thuật bao gồm các
đơn vị từ vựng đùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm…
trong những ngành kỹ thuật, công nghiệp và trong những khoa học tự nhiên hay xã
hội” [1 221-222].

22

Từ cách nhìn của ký hiệu học, thuật ngữ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Thuật
ngữ là ký hiệu - biểu đạt, được sử dụng như yếu tố của một mô hình ký hiệu thuộc
một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định. Định nghĩa này cho phép
đối lập thuật ngữ với các yếu tố từ vựng khác của ngôn ngữ tự nhiên mà không phải
là thuật ngữ và các yếu tố từ vựng của ngôn ngữ nhân tạo”
Đáng chú ý hơn cả là cách xác định thuật ngữ xuất phát từ quan điểm của
thuật ngữ học. Quan điểm này cho rằng, thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một ngôn
ngữ nhất định dùng cho những mục đích chuyên biệt biểu đạt khái niệm chung – cụ
thể hay trừu tƣợng, của lý thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định của các
tri thức hay hoạt động.
Trong định nghĩa này, cần nhấn mạnh những điểm quan trọng sau:
- Thuật ngữ có tất cả các đặc trƣng ngữ nghĩa và hình thức của từ và cụm từ
của ngôn ngữ tự nhiên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status