Khảo sát tầng nghĩa biểu trưng trên ngữ liệu thơ việt nam giai đoạn 1930 1975 - Pdf 96

1

Khảo sát tầng nghĩa biểu trƣng trên ngữ liệu
thơ Việt Nam giai đoạn 1930-1975

Nguyễn Thị Trang

Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Hệ thống hóa các quan niệm khác nhau về nghĩa của từ và đặc biệt chú ý tới
các quan niệm về các thành phần nghĩa của từ, đa nghĩa, đồng nghĩa. Xác lập tầng nghĩa
biểu trƣng dựa trên quan hệ đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ. Khảo sát, xác lập,
đi sâu miêu tả và bƣớc đầu giải thích các hiện tƣợng ngữ nghĩa xảy ra bên trong từng
trƣờng nghĩa trong thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975. Nhận diện và miêu tả các nghĩa
khác nhau của các đơn vị từ thuộc tầng nghĩa biểu trƣng của một trƣờng nghĩa nhất
định. Nghiên cứu về kết cấu ngữ nghĩa của từng đơn vị từ vựng trong tầng nghĩa, trƣờng
nghĩa.

Keywords. Ngôn ngữ học; Nghĩa biểu trƣng; Thơ; Từ vựng

Content.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
- Nằm trong địa hạt của ngữ nghĩa học - một địa hạt rất khó và hết sức trừu tƣợng trong
phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ học, trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng là một vấn đề không hoàn toàn
mới mẻ nhƣng hầu nhƣ chƣa có đƣợc những kiến giải thật sự thấu đáo và thuyết phục. Các kiến
giải trƣớc đây phần lớn đều đi theo hƣớng cấu trúc luận, coi thành phần nghĩa của từ là một kết

nó, mà cần phải bóc tách các lớp nghĩa của từ trong mối quan hệ với những đơn vị từ khác cùng
trƣờng nghĩa và trong mối quan hệ với nền văn hóa chung của cộng đồng; nhằm chứng minh
một đơn vị từ có thể tham gia nhiều trƣờng nghĩa khác nhau (xét trên sự tƣơng đồng về nghĩa
biểu trƣng) để xác lập trục đa nghĩa của từ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của chúng tôi là tầng nghĩa biểu trƣng, tập trung vào những hình tƣợng
nghệ thuật mang tính điển hình và là nguồn cảm hứng cơ bản của thơ Việt Nam trong suốt giai
đoạn 1930 - 1975 và tập trung nghĩa biểu tƣợng về đất nước, về con người; theo đó, luận văn
tập hợp và phân tích các đơn vị từ có hàm chứa tầng nghĩa biểu trƣng, xác lập các đơn vị có
nghĩa biểu trƣng giống nhau (tạo ra trƣờng đồng nghĩa) và sự chuyển hóa về nghĩa biểu tƣợng
giữa các đơn vị từ.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn này tập trung vào những điểm sau:
- Hệ thống hóa các quan niệm khác nhau về nghĩa của từ và đặc biệt chú ý tới các quan
niệm về các thành phần nghĩa của từ, đa nghĩa, đồng nghĩa. Quan trọng hơn, luận văn bƣớc đầu
xác lập tầng nghĩa biểu trƣng dựa trên quan hệ đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ.
- Khảo sát, xác lập, đi sâu miêu tả và bƣớc đầu giải thích các hiện tƣợng ngữ nghĩa xảy
ra bên trong từng trƣờng nghĩa trong thơ Việt Nam giai đoạn này. Ở mức độ sâu hơn, chúng tôi
nhận diện và miêu tả các nét nghĩa khác nhau của các đơn vị từ thuộc tầng nghĩa biểu trƣng của
một trƣờng nghĩa nhất định.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp liệt kê:
- Phƣơng pháp phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng:
- Phƣơng pháp miêu tả:
- Phƣơng pháp so sánh và phƣơng pháp đối chiếu:
- Đồng thời, sử dụng những thủ pháp, thao tác là: tổng hợp, phân lớp và liệt kê, lập mô hình
trực quan

3


1.2. Phân tích nghĩa của từ - Hiện tƣợng từ đa nghĩa
1.2.1. Phân tích nghĩa của từ
Về vấn đề thành phần ngữ nghĩa của từ, đã có rất nhiều luận giải khác nhau, tùy theo
cách quan niệm về nghĩa của từ:
Với quan niệm nghĩa của từ là quan hệ giữa từ với cái mà nó biểu thị, Nguyễn Thiện
Giáp cho rằng nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn
như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu.
Đỗ Hữu Châu lại tập trung phân tích nghĩa và các nhân tố hình thành nghĩa thông qua
hình tháp nghĩa; trong đó ông đã phân biệt “nhân tố nghĩa” và “nghĩa”, đồng thời thừa nhận
nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống
nhất gọi là từ. Ông cho rằng: số lƣợng kiểu nghĩa sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân tố
4

được phát hiện. Trong phạm vi quan sát nghĩa từ vựng, các loại nghĩa mà ông nêu ra bao gồm:
nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái.
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì lại cho rằng
nghĩa của từ là những liên hệ phản ánh được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với
những cái mà từ chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho). Các tác giả quan niệm, nghĩa của từ
gồm những thành phần sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm. Ngoài hai thành phần nghĩa trên,
các tác giả còn nói đến hai thành phần nghĩa khác là: nghĩa ngữ dụng, nghĩa cấu trúc.
1.2.2. Phân loại nghĩa của từ đa nghĩa
Các nhà Việt ngữ học đã có những cách phân loại khác nhau đối với hệ thống nghĩa của
từ đa nghĩa. Có thể kể đến một số hƣớng nhƣ sau:
- Ở mặt lịch đại, các tác giả chia nghĩa của từ đa nghĩa thành nghĩa gốc và nghĩa phái
sinh.
- Ở mặt đồng đại, các tác giả cũng đƣa ra nhiều cách giải quyết khác nhau về nghĩa của
từ đa nghĩa. Có thể kể đến một số lƣỡng phân nhƣ: nghĩa tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực tiếp
- nghĩa chuyển tiếp, nghĩa thường trực - nghĩa không thường trực. Bên cạnh đó còn có các
lƣỡng phân nhƣ: nghĩa cổ - nghĩa hiện dùng, nghĩa địa phương - nghĩa toàn dân, nghĩa chính -
nghĩa phụ…

(symbolized stratum) Nghĩa biểu tƣợng (imaginative meaning)

5

1.3. Tầng nghĩa biểu trƣng từ vựng và biểu hiện của nó trong ngôn ngữ thơ ca
1.3.1. Tầng nghĩa biểu trưng từ vựng
Nói đến nghĩa biểu trƣng là nói tới các mức độ của sự hình dung, tƣởng tƣợng mà con
ngƣời có thể nhận đƣợc khi liên hệ nghĩa với hình thức biểu hiện của từ hoặc các phạm vi tồn
tại khác trong cuộc sống. Tầng nghĩa biểu trƣng có hai kiểu nghĩa: nghĩa biểu trưng và nghĩa
biểu tượng. Riêng nghĩa biểu tượng là loại nghĩa có đƣợc do con ngƣời hình dung, tƣởng tƣợng
ra. Trong cuộc sống, có những đối tƣợng đƣợc gọi tên nhƣng những gì con ngƣời biết về nó chỉ
là sự tƣởng tƣợng, sự truyền miệng, mang tính hoang đƣờng, thần thoại. Đó là trƣờng hợp của
những đơn vị ngôn ngữ mang nghĩa biểu tƣợng, ví dụ: tiên, bụt, rồng, phượng, nhân mã… Nói
đến nghĩa biểu tƣợng, không thể không nhắc đến những đơn vị ngôn ngữ mang nội dung biểu
cảm, nội dung huyền thoại mà một dân tộc ở một thời đại nào đó, chủ thể ngôn ngữ đã thổi vào,
gán vào nội dung với những hình dung, tƣởng tƣợng, có ngƣời gọi kiểu nghĩa này là nghĩa biểu
cảm - văn hóa. Những nghĩa biểu tƣợng này có mối liên quan mật thiết với nghĩa biểu vật lôgíc
của từ.
1.3.2. Sự hiện thực hóa của tầng nghĩa biểu trưng trong ngôn ngữ thơ ca
- Ngôn ngữ là hệ thống chất liệu tinh thần đƣợc sử dụng để chuyển tải hình tƣợng thẩm
mĩ của văn học. Đây là phƣơng tiện đặc hữu của văn học nghệ thuật. Ngôn ngữ là công cụ phổ
biến nhất có thể truyền tải một cách trọn vẹn hiện thực khách quan cũng nhƣ những mặt bên
trong của thực tế (cảm giác, cảm xúc, trạng thái). Bởi vậy, để lĩnh hội đƣợc các tác phẩm văn
chƣơng nghệ thuật, chúng ta phải tìm hiểu giá trị ngữ nghĩa của văn bản đó, mà trƣớc hết là ngữ
nghĩa của từ.
- Đặc điểm nổi bật của từ ngữ trong các tác phẩm văn chƣơng là thƣờng đƣợc dùng với
nghĩa chuyển mới. với những phƣơng thức chuyển nghĩa, những quan hệ ngữ nghĩa trong hệ
thống từ vựng. Vì vậy, nắm vững những hiện tƣợng ngữ nghĩa, chúng ta sẽ có cơ sở vững vàng
để lí giải các hiện tƣợng ngữ nghĩa trong văn bản văn học.
- Để cảm nhận đƣợc đầy đủ giá trị của một tác phẩm văn chƣơng, ngƣời đọc phải lí giải,

Chính thời điểm lịch sử đặc biệt 1930 - 1975 là cơ sở tạo nên những biểu tƣợng đặc biệt
về đất nƣớc và con ngƣời. Điều này đã gợi mở cho chúng tôi ý tƣởng nghiên cứu về hai trƣờng
ngữ nghĩa - từ vựng về đất nƣớc và con ngƣời, mà tập trung ở tầng nghĩa biểu trƣng, kiểu nghĩa
biểu tƣợng từ vựng. Việc khảo sát đã cho chúng tôi những kết quả hết sức thú vị. Trong đó,
những đơn vị từ vựng bộc lộ nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc chủ yếu là các từ thuộc trƣờng từ
vựng chỉ các hiện tƣợng tự nhiên và những đơn vị từ vựng bộc lộ nghĩa biểu tƣợng về con
ngƣời trong thơ giai đoạn này chủ yếu là các từ thuộc trƣờng từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể
con ngƣời.
2.2. Nhận xét chung về khả năng tạo nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc của các đơn vị từ vựng
Qua quá trình khảo sát một số bài thờ Việt Nam tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1975, chúng
tôi nhận thấy có không ít đơn vị từ vựng bộc lộ nội dung nghĩa về đất nƣớc bằng kiểu nghĩa
biểu tƣợng của nó. Đó hầu hết là các đơn vị không mang nghĩa về đất nƣớc khi tồn tại độc lập.
Nó chỉ có thể biểu đạt đƣợc nội dung về đất nƣớc trong các văn cảnh hoạt động nhất định với
những kết hợp cụ thể nào đó. Chính các nghĩa, nét nghĩa biểu tƣợng này là nhân tố quyết định
khả năng tham gia trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng về đất nƣớc của các đơn vị từ vựng.
Thật đặc biệt khi tất cả các từ có khả năng bộc lộ nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc mà
chúng tôi khảo sát đƣợc đều là những từ thuộc trƣờng từ vựng chỉ hiện tƣợng tự nhiên nhƣ: đất,
nước, non, núi, sông. Chính nghĩa biểu tượng của từ đã “cấp” cho từ năng lực đứng trong
nhiều trường nghĩa khác nhau. Để thể hiện hình tƣợng đất nƣớc, các tác giả đã sử dụng rất
nhiều đơn vị từ vựng với những cấu trúc ngôn từ khác nhau. Những từ thuộc trƣờng từ vựng
chỉ các hiện tƣợng tự nhiên quen thuộc và tồn tại nhƣ điều kiện sống bắt buộc, thiết yếu trong
cuộc sống con ngƣời (đất, nước, núi, non, sông) đƣợc sử dụng trong các cấu trúc nhất định đã
chuyển tải đƣợc ý nghĩa về đất nƣớc. Sự xuất hiện của các từ này trong tác phẩm văn thơ tỉ lệ
thuận với mức độ phổ biến và sự hành chức của nghĩa biểu tƣợng của chúng. Khi đi vào ngôn
ngữ thơ ca, ý nghĩa và chức năng thông thƣờng của những từ này ít đƣợc sử dụng. Tức là, các
nhà thơ thƣờng sử dụng chúng với tƣ cách là tín hiệu biểu đạt một nghĩa biểu tƣợng nhất định
nào đó.
Trong số các từ có khả năng thể hiện nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc tìm đƣợc trong thơ Việt
Nam giai đoạn 1930 - 1975, từ đất tỏ ra có năng lực mạnh mẽ nhất trong việc thể hiện nghĩa
biểu tƣợng về đất nƣớc, nó có tần suất xuất hiện lớn hơn cả, tiếp theo đó là từ nước. Hai từ đất

vị từ vựng khác có mặt trong trƣờng ngữ nghĩa về đất nƣớc. Cụ thể nhƣ sau:
a) Đất - vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền một quốc gia nhất định. Đây là nét nghĩa thƣờng
trực nhất khi từ này thể hiện nghĩa về đất nƣớc. Nó bộc lộ đƣợc những nét nghĩa này khi tham
gia các văn cảnh có chứa các từ trời, nước.
b) Đất - tài sản quý giá, thiêng liêng nhất trong một quốc gia. Nó là thứ tài sản mà con
ngƣời sẵn sàng đánh đổi tất cả, ngay đến cả sự sống của mình để có thể bảo vệ và giữ gìn đƣợc
nó:
c) Đất - biểu tƣợng cho nét bản sắc văn hóa đặc trƣng của một dân tộc, một quốc gia:

d) Đất - toàn bộ cuộc sống và không gian, không khí sống của một dân tộc trong những
thời điểm nhất định.
Nắm đất say nồng lửa đấu tranh
2.4. Khả năng tạo nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc của từ “nước”
2.4.1. Cũng giống nhƣ từ đất, từ nước đã tham gia hết sức tích cực trong các tác phẩm
thơ để biểu đạt nghĩa về đất nƣớc. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê làm chủ biên, từ nước
đƣợc định nghĩa là một danh từ có nhiều nghĩa khác nhau:

8

Nước
1
:
1. Chất lỏng không màu, không mùi và trong suốt khi là nguyên chất, tồn
tại trong tự nhiên ở sông hồ, biển S
1
tƣợng về đất nƣớc, từ này còn có các nghĩa biểu trƣng khác nhƣ:
a) Sông - cảnh vật, không gian có thể gợi nhớ, gợi thƣơng
b) Sông - sức mạnh, sức sống:
2.6.2. Với nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc, từ bộc lộ những nét nghĩa cụ thể sau đây:
a) Sông - một vùng lãnh thổ của dân tộc, Tổ quốc. Đây là nét nghĩa xuất hiện thƣờng
xuyên nhất trong số các nét nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc của từ:
b) Sông - tình cảm quê hƣơng, dân tộc gắn bó thủy chung.
Nhƣ vậy, toàn bộ hệ thống nghĩa của các từ đất, nước, non, núi, sông và mối liên hệ
giữa chúng với nhau đã tạo thành vùng ngữ nghĩa thứ ba trong trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng về
đất nƣớc - vùng nghĩa biểu trƣng từ vựng. Vùng ngữ nghĩa này cùng với vùng nghĩa trí tuệ và
vùng nghĩa thực tiễn đã làm hoàn thiện trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng về đất nƣớc. Các từ trong
vùng nghĩa thứ ba này đều là những từ chỉ dạng vật chất tồn tại trong tự nhiên và có vai trò to
lớn trong đời sống của ngƣời Việt. Các nét nghĩa biểu tƣợng về đất nƣớc của các từ có sự giao
thoa với nhau ở những mức độ khác nhau. Mỗi từ bộc lộ nhiều nét nghĩa biểu tƣợng phản ánh
9

nhiều khía cạnh khác nhau về đất nƣớc. Tập hợp những nét nghĩa biểu tƣợng đó làm cho ý
niệm về đất nƣớc đƣợc mở rộng một cách phong phú, nhiều chiều kích. Nó cho ta thấy đƣợc
suy tƣ, ý thức của mỗi cá nhân về đất nƣớc, Tổ quốc, quê hƣơng của mình. Và vì vậy mà biểu
tƣợng về đất nƣớc đƣợc hoàn thiện dần.
CHƢƠNG 3
NGHĨA BIỂU TƢỢNG VỀ CON NGƢỜI
3.1. Nhận xét chung về khả năng tạo nghĩa biểu tƣợng về con ngƣời của các đơn vị từ
vựng
Qua quá trình khảo sát một số bài thờ Việt Nam tiêu biểu giai đoạn 1930 - 1975, chúng
tôi nhận thấy có không ít đơn vị từ vựng bộc lộ nội dung nghĩa về con ngƣời bằng kiểu nghĩa
biểu tƣợng của nó. Đó hầu hết là các đơn vị chỉ một bộ phận nhất định nào đó của con ngƣời
khi tồn tại độc lập. Nó chỉ có thể biểu đạt đƣợc nội dung về con ngƣời trong các văn cảnh hoạt
động nhất định với những kết hợp cụ thể nào đó, làm nên phép ẩn dụ hoặc hoán dụ nghệ thuật
trong văn học. Chính các nghĩa, nét nghĩa biểu tƣợng này là nhân tố quyết định khả năng tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status