Hội đồng Lý luận Trung ơng Báo cáo tổng kết đề tài:
Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
giai đoạn 2011-2020
Cnđt: Đàm Đức Vợng
8025
Hà nội 2010
I. Tính cấp thiết của Đề tài - Trang 5
II. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài - Trang 9
III. Giới hạn của Đề tài - Trang 10
IV. Đối tợng nghiên cứu của Đề tài - Trang 11
V. Những đóng góp mới của Đề tài - Trang 11
VI. Tình hình nghiên cứu về trí thức Việt Nam - Trang 11
VII. Cách tiếp cận và phơng pháp nghiên cứu - Trang 11
VIII. Về giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu - Trang 13
IX. Về giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu - Trang 13
X. Về tổ chức thực hiện Đề tài - Trang 14
XI. Sản phẩm của Đề tài - Trang 14
Phần thứ nhất
Trí thức việt nam - lịch sử và lý luận
I. Xuất phát điểm của vấn đề - Trang 16
II. Khái niệm về trí thức - Trang 20
III. Những đặc trng cơ bản của ngời trí thức - Trang 31
IV. Thiên chức của ngời trí thức Việt Nam - Trang 35
V. Phẩm chất, tính cách của ngời trí thức Việt Nam - Trang 36
VI.T tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề trí thức -
Trang 36
VII. Mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức Việt Nam với giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân, giữa lao động trí óc và lao động chân tay - Trang
56
VIII. Chủ nghĩa yêu nớc của trí thức Việt Nam - Trang 65
Phần thứ hai
Thực trạng về đội ngũ trí thức việt nam hiện nay
phần thứ ba
phơng hớng và giải pháp xây dựng
đội ngũ trí thức việt nam giai đoạn 2011-2020
I. Phơng hớng - Trang 236
II. Giải pháp - Trang 277
A. Giải pháp tổng thể - Trang 277
1. Những vấn đề chung - Trang 277
2. Với Đảng - Trang 206
4
3. Với Nhà nớc - Trang 302
4. Với bản thân ngời trí thức - Trang 319
B. Giải pháp cụ thể về một số lĩnh vực hoạt động của trí thức - Trang
321
1. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo - Trang 321
2. Lĩnh vực khoa học và công nghệ - Trang 326
3. Lĩnh vực nghiên cứu lý luận chính trị, t tởng - Trang 334
4. Lĩnh vực giảng dạy lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh - Trang 339
5. Lĩnh vực lập pháp - Trang 342
6. Lĩnh vực hành pháp - Trang 346
7. Lĩnh vực t pháp - Trang 348
8. Lĩnh vực văn hóa - Trang 349
9. Lĩnh vực báo chí - xuất bản - Trang 350
10. Lĩnh vực kinh tế - Trang 352
11. Lĩnh vực công nghiệp - Trang 353
12. Lĩnh vực nông nghiệp - Trang 355
số: KX.04.16/06-10) đợc thực hiện theo Hợp đồng ký kết, số 16/2007/HĐ-
ĐTCT-KX.04/06-10, ngày 29-2-2008, giữa Bên A (Bên giao) là Chủ nhiệm
Chơng trình KX.04/06-10 với Bên B là Chủ nhiệm Đề tài KX.04.16/06-10,
có sự xác nhận của đại diện Thờng trực Hội đồng Lý luận Trung ơng, Cơ
quan chủ trì và Giám đốc Văn phòng Các chơng trình thuộc Bộ Khoa học
và Công nghệ.
Bộ Hồ sơ của Đề tài có độ dày 191 trang (trong đó, phần thuyết minh là
120 trang) Kết quả bỏ phiếu xét tuyển, Đề tài đạt 79,33/100 điểm đã vợt
trội đợc 9,33 điểm so với điểm chuẩn trúng tuyển là 70/100 điểm.
I. Tính cấp thiết của đề tài
Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn
của Đề tài
Sự cần thiết nghiên cứu của Đề tài:
- Hiện nay, những nớc phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức, có nghĩa là chuyển từ nền kinh tế dựa vào lao
động và tài nguyên sang nền kinh tế dựa vào trí tuệ, mà con ngời là yếu tố
quan trọng nhất. Tri thức thế giới đang bùng nổ bởi khoa học công nghệ
thông tin và khoa học công nghệ sinh học. Việt Nam hiện nay vẫn đang
trong quá trình phát triển kinh tế, chủ yếu dựa vào lao động và tài nguyên;
vẫn đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế
công nghiệp (trong đó có công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn);
đồng thời, cũng đang mở ra khả năng tiến lên một nền kinh tế tri thức.
- Về mặt định hớng, trong một số văn kiện của Đảng đã nêu vấn đề trí
thức Việt Nam, đánh giá về "tầng lớp trí thức" (có văn kiện ghi là "đội ngũ
trí thức") Việt Nam. Hội nghị Trung ơng 7, khóa X ra Nghị quyết: "Về
xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nớc" (Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6-8-2008). Những định
6
thức, một vấn đề vừa là khoa học, lại rất nhạy cảm, nếu biết khai thác tốt,
có chính sách tốt, nhất định mọi việc sẽ tốt lên, quan hệ giữa Đảng và Nhà
nớc với trí thức cũng sẽ tốt lên. Để có đợc dân giàu, nớc mạnh, xã hội
phát triển đều rất cần đến sự đóng góp của đội ngũ trí thức.
- Chúng tôi nghiên cứu Đề tài này nhằm đi đến những nhận thức cơ bản
về vấn đề trí thức ở Việt Nam; xác định t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối 1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1991, tr. 9.
7
của Đảng về vấn đề trí thức; đánh giá thực trạng về đội ngũ trí thức Việt
Nam hiện nay, trên cơ sở đó mà xác định trọng tâm nghiên cứu của Đề tài
là đề ra đợc những phơng hớng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức
Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tham khảo một cách có chọn lọc
những kết quả nghiên cứu về trí thức Việt Nam của các đề tài trớc đây và
rút kinh nghiệm nghiên cứu của những đề tài đó để bổ sung cho việc nghiên
cứu của Đề tài KX.04.16/06-10.
ý nghĩa lý luận nghiên cứu của Đề tài:
- Kết quả nghiên cứu của Đề tài là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận
xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ mới; góp phần làm rõ
những vấn đề về quan điểm, phơng hớng, giải pháp xây dựng đội ngũ trí
thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
- Kết quả nghiên cứu của Đề tài đã cung cấp những luận cứ khoa học,
góp phần bổ sung vào đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc về xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ mới.
Về ý nghĩa thực tiễn của Đề tài:
Đào tạo, về bản dự thảo lần thứ 14 (bản dự thảo này đề ngày 31-12-2008)
về "Chiến lợc phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020", góp phần
hoàn thiện việc soạn thảo chiến lợc phát triển giáo dục Việt Nam đến năm
2020. Trong bản góp ý này, chúng tôi đề nghị không gọi là "cải cách giáo
dục" nữa, mà nói là "đổi mới giáo dục", vì trong thực tế của Việt Nam,
nhiều lần nói đến "cải cách giáo dục", nhng cha bao giờ thấy thành công
về thực chất.
+ Ngày 25-4-2009, Đề tài gửi tiếp Bộ Chính trị, Ban Bí th một bản Báo
cáo 35 trang, nêu những cơ sở lý luận và phơng hớng xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020, bổ sung một số vấn đề lý luận mới
về trí thức Việt Nam; bổ sung một số phơng hớng mới xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020; bổ sung những giải pháp lớn để xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
+ Đề tài đã nêu ba loại kiến nghị về vấn đề trí thức để cấp có thẩm
quyền xem xét, đa vào Cơng lĩnh năm 1991 (bổ sung và phát triển); đa
vào dự thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng; đa vào dự thảo "Chiến lợc
Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020".
- Sở dĩ Đề tài có những kiến nghị gửi lên cấp cao nhất của Đảng là với
tấm lòng mong muốn của chúng tôi đợc góp phần nâng cao nhận thức của
lãnh đạo cấp cao nhất đối với trí thức Việt Nam, trên cơ đó mà có sự đánh
giá đúng về đội ngũ này và có chính sách đối với đội ngũ này.
+ Cũng để xã hội hóa phần nào những kết quả nghiên cứu, Đề tài đã viết
đợc tất cả 26 bài nghiên cứu và sách, trong đó 20 bài nghiên cứu đã đợc
đăng ở các tạp chí có chỉ số ISSN ở trong nớc; 3 bài đã đợc đăng ở tạp
chí nớc ngoài; có 3 cuốn sách đã đợc xuất bản. Nh vậy, so với chỉ tiêu
9
ghi trong hợp đồng ký kết, chúng tôi đã viết vợt trội đợc 6 bài nghiên cứu
và 3 cuốn sách
1
đó mà có những đề xuất về mục tiêu, quan điểm, phơng hớng, giải pháp
cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; kiến
nghị những nội dung cụ thể về đội ngũ trí thức trình cấp có thẩm quyền
xem xét, làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoạch định đờng lối, chính 1
Đề tài đã có bản danh mục riêng về các cuốn sách, bài nghiên cứu đã đợc đăng ở tạp chí nào ở trong nớc
(tiếng Việt) và tạp chí nào ở ngoài nớc (tiếng Anh).
10
sách của Đảng; kiến nghị phần viết về trí thức trong Cơng lĩnh năm 1991
(Bổ sung và phát triển); trong văn kiện Đại hội XI của Đảng; trong Chiến
lợc phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2011-2020.
III. Giới hạn của đề tài
- Giới hạn của Đề tài là nghiên cứu về xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020. Nhng để có cơ sở lý luận và thực tiễn luận
giải phơng hớng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai
đoạn 2011 - 2020, Đề tài đã làm rõ thực trạng của vấn đề này.
Chúng tôi ý thức rất rõ ràng, nếu không làm rõ thực trạng của đội ngũ trí
thức Việt Nam và đội ngũ trí thức trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời
sống xã hội, thì đừng nói đến việc đề ra phơng hớng và giải pháp xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và giải pháp xây dựng
đội ngũ trí thức trong một số lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội, bởi lẽ,
phải xác định cho rõ, cho hết cái đã qua, thì mới có thể làm rõ đợc cái sẽ
đến. Đây chính là lôgích của vấn đề. Đơng nhiên, nghiên cứu chủ yếu của
Đề tài vẫn là xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020, nh
chính tên của Đề tài.
- Ngoài những đánh giá chung, phơng hớng chung, dựa trên kết quả
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức và xây dựng lực lợng trí
thức Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.
2. Lần đầu tiên, Đề tài tiếp cận có hệ thống về thực chất trí thức Việt
Nam, chủ yếu là trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở đó mà có cái nhìn đúng
hơn, mới hơn về ngời trí thức.
3. Đề tài đã đánh giá tơng đối dúng thực trạng trí thức Việt Nam hiện
nay nói chung và trong một số lĩnh vực hoạt động của trí thức nói riêng.
4. Đề tài nêu tơng đối sâu những phơng hớng và giải pháp xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Những giải pháp này, nhìn
chung, có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
Vi. Tình hình nghiên cứu về trí thức việt nam
Vấn đề trí thức nói chung và trí thức Việt Nam nói riêng đã đợc nhiều
nhà nhà khoa học, nhà trí thức Việt Nam và thế giới nghiên cứu từ rất sớm,
vì nó liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội,
trong đó có giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội.
Những công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam, chúng tôi đã đa vào
Danh mục tài liệu tham khảo trong Báo cáo này.
Vấn đề đặt ra đối với Đề tài là nghiên cứu, bổ sung những vấn đề mới về
trí thức Việt Nam, nhất là phản ánh thực trạng và giải pháp về trí thức Việt
Nam hoạt động trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội.
VIi. Cách tiếp cận và phơng pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
Đề tài tiếp cận từ góc độ đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam,
từ đó mà đề xuất những phơng hớng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí
thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
luận xã hội mà biết thực trạng
tình hình đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay.
- Chúng tôi đã áp dụng phơng pháp diễn dịch và tổng hợp, tổng hợp và
diễn dịch khi xử lý những vấn đề chung và những vấn đề riêng trong mối
quan hệ nhiều chiều của đội ngũ trí thức và mối quan hệ của trí thức với xã
hội.
- Chúng tôi đã áp dụng phơng pháp đối chiếu văn bản học có liên quan
đến các vấn đề trí thức. Vì vậy, việc xử lý văn bản học vào trong quá trình
13
viết Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài là bảo đảm độ tin cậy
cao.
- Chúng tôi đã sử dụng phơng pháp khai thác tài liệu trên internet một
cách có chọn lọc.
- Chúng tôi đã áp dụng phơng pháp trao đổi, phỏng vấn sâu các chuyên
gia và các nhà trí thức bằng hình thức trao đổi trực tiếp và trao đổi tại các
cuộc hội thảo và tọa đàm.
Phơng án phối hợp với các tổ chức trong nớc:
- Đề tài phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học: 1) Ban Tuyên
giáo Trung ơng, cụ thể là Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tạp chí
"Tuyên giáo", tạp chí "Thông tin đối ngoại". 2) Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, cụ thể là Vụ Quản lý khoa học. 3) Bộ Giáo
dục và Đào tạo, cụ thể là Viện Chiến lợc và Chơng trình giáo dục. 4) Bộ
Khoa học và Công nghệ, cụ thể là Viện Chiến lợc và Chính sách khoa học
và công nghệ, đặc biệt là Vụ Tổ chức - Cán bộ. 5) Bộ Ngoại giao, nhất là
Vụ Tổ chức - Cán bộ. Ngoài ra, Đề tài còn phối hợp với một số địa phơng,
trong đó có Hà Nội để khảo sát thực tế và thực hiện việc điều tra xã hội
học, lấy phiếu thăm dò, nghe báo cáo, trao đổi, thảo luận, hội thảo, phỏng
vấn sâu chuyên gia, trí thức về trí thức Việt Nam.
Phơng án hợp tác quốc tế:
thực tiễn để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
X. Về tổ chức thực hiện đề tài
- Rút kinh nghiệm các đề tài mà chúng tôi đã thực hiện trớc đây, Đề tài
này đợc tổ chức công việc khá chặt chẽ; tính toán cụ thể các chuyên đề và
tơng ứng với nó là những ngời viết chuyên đề; bảo đảm đúng tiến độ thực
hiện; viết các báo cáo định kỳ đúng thời gian và bảo đảm chất lợng; chi
tiêu tài chính theo đúng chế độ đã ghi trong Hợp đồng nghiên cứu và đúng
với những quy định của Nhà nớc .
XI. sản phẩm của đề tài
Sản phẩm chính:
- Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài: 394 trang.
- Báo cáo Tóm tắt: 94 trang.
- Bản Kiến nghị: 12 trang.
Sản phẩm khác:
- Báo cáo lần 1, lần 2, lần 3, lần 4, lần 5.
- Báo cáo Kết quả khảo sát tại Cu Ba: 11 trang.
- Báo cáo Kết quả khảo sát tại Mêhicô, 21 trang.
- Báo cáo Điều tra xã hội học: 25 trang
- Báo cáo Tình hình thực hiện Đề tài (Báo cáo Hành chính): 14 trang.
- Báo cáo kết quả nghiên cứu của 49 chuyên đề loại 1 và loại 2.
- Tài liệu dịch: 271 trang từ tiếng Anh, tiếng Pháp ra tiếng Việt.
- 4 tập Kỷ yếu hội thảo khoa học:
+ Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, giai đoạn
2011-2020.
+ Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong lĩnh vực lập pháp, hành
mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng
lực sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức nớc nhà.
"Trí thực", một thuật ngữ bắt nguồn từ chữ "intellect", nghĩa gốc là "sự
hiểu biết, trí tuệ". Thuật ngữ "tầng lớp trí thức" (intelligentsia) xuất hiện lần
đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ XIX, và sau đó là từ "ngời trí thức"
(intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau Công xã Pari (năm 1971) đã mang một ý
nghĩa khá rõ ràng: đó là những ngời không chỉ có học vấn hay trình độ
chuyên môn cao, mà hơn hết, phải là những ngời quan tâm và có chính
kiến trớc thời cuộc, những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời đại
và đất nớc.
Trí thức Việt Nam xuất hiện sớm trong lịch sử Việt Nam (vào khoảng
939-1099), từ các triều đại phong kiến Ngô, Đinh, Lê (Tiền Lê), Lý, Trần,
Lê (Hậu Lê), triều Nguyễn Quang Trung,
Trí thức Việt Nam một số xuất thân, một số ngời xuất thân từ các gia
đình nho giáo, vua quan, nhiều ngời xuất thân từ các gia đình công chức,
viên chức, giáo học, nông dân, công nhân, quân ngũ, thợ thủ công và nhân
dân lao động. Họ sinh ra và trởng thành trong quá trình xây dựng và bảo
vệ đất nớc.
Sau khi đất n
ớc giành đợc độc lập vào năm 939, các triều đại phong
kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo, kéo theo nhiều trí thức đi theo Nho
17
giáo. Đến Triều Trần (thế kỷ XIII), Nho giáo đợc coi là "hệ t tởng chính
thống cho đến hết các Triều Nguyễn (đầu và giữa thế kỷ XX). Suốt gần một
nghìn năm ấy, chỉ có một thứ đợc dạy và đợc học một cách có hệ thống
là Nho giáo (khác với sự hạn hẹp của Phật giáo và Đạo giáo). Các nho sĩ
sau khi đỗ đạt sẽ đợc bổ nhiệm làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai
trị của Nhà nớc phong kiến tập quyền
1
1
"Tập quyền" là quyền lực nhà nớc tập trung vào một nơi, tuyệt đối không đợc phân chia quyền lực.
18
những cuốn phim hấp dẫn, mấy ai biết đến ngời phát minh ra nó là Philo
Taylor Farnworth. Khi sử dụng máy vô tuyến điện, mấy ai biết đến ngời
phát minh ra nó là Guglielmo Marconi. Khi phóng tia x quang vào cơ thể
con ngời để tìm ra căn bệnh, mấy ai biết đến ngời phát minh ra nó là
Wilhelm Conrad Rontgen. Khi ngời ta có trong tay những tấm ảnh đẹp
của những cặp tình nhân ôm ấp, yêu thơng, mấy ai biết đến ngời phát
minh ra nó là Louis Jacques Mandé Daguerre. Khi những cô gái xinh đẹp
ngồi trong ô tô, xe lửa, muốn "khoe" với mọi ngời ta có chiếc máy điện
thoại di động, gọi cho ngời yêu ở tận phơng trời xa với những lời đằm
thắm, nhng cô ta chắc hẳn không biết ngời phát minh ra nó chính là
Alexander Graham Bell và đồng thời với Bell là Elisha Gray, sáng chế máy
điện thoại có micro chất lỏng và sáng chế máy điện báo tự động truyền tín
hiệu bằng đờng dây. Khi ngời con gái ngồi đàng sau chiếc xe máy, ôm
ghì lấy ngời con trai đang lái xe, nhng họ đã chắc gì biết rằng, ngời chế
tạo ra chiếc xe đó là Soichiro Honda. Khi chúng ta ngồi trên chiếc ô tô chạy
với tốc độ trên dới trăm cây số một giờ, mấy ai biết đến ngời phát minh
ra nó chính là Otto. Khi chúng ta sử dụng máy tính điện tử hiện đại, làm
nhiều chức năng, thay cho chiếc máy đánh chữ, mấy ai biết đến ngời cha
đẻ của ngành khoa học máy tính là Alan Mathison Turing và một trong
những ngời phát minh đầu tiên ra nó là Howard Aiken. Khi chúng ta dùng
kính hiển vi điện tử để nhìn xa và máy ảnh cực nhanh để chụp các hình các
quá trình diễn biến nhanh, mấy ai biết đến ngời chế tạo ra nó là
Aleksandrovich Lebedev. Khi ta sử dụng các tia âm cực, mấy ai biết đến
ngời tìm ra nó là Philipp Lenard. Khi chúng ta sử dụng máy hơi nớc với
công ty điện báo. Ông là tác giả của hàng trăm sáng chế, sáng kiến, chủ
yếu trong lĩnh vực kỹ thuật điện nh bóng đèn điện, máy hút bụi, điện
thoại, điện báo, máy chiếu phim, máy chụp ảnh, Thời bấy giờ, do phơng
tiện thông tin cha có, cho nên ngời nớc này, ngời nớc kia cùng phát
minh ra một cái gì đó cùng dạng, rồi bổ sung cho hoàn chỉnh, ngời ta gọi
đó là sự liên kết khoa học ngẫu nhiên tác thành.
Mấy ai biết đến cuộc đời bi kịch của G.Galilei (1564-1642), vật lý học,
nhà toán học, nhà thiên văn học Italia, ngời phát hiện ra sự dao động của
con lắc, trên cơ sở đó xác định các định luật về quán tính, rơi tự do. Ông là
ng
ời chế tạo ra chiếc kính thiên văn đầu tiên có độ phóng đại tới 32 lần,
nhờ đó mà phát hiện ra Mặt Trăng gồ ghề, không bằng phẳng chút nào, bao
gồm núi và thung lũng. Ông còn phát hiện ra 4 vệ tinh của sao Mộc
(Jupiter) và các chuyển động của chúng, ghi nhận chu kỳ của sao Kim
(Vénus), vết đen trên Mặt trời. G. Galilei tán thành lý thuyết của
N.Kopernik lấy Mặt Trời làm trung tâm và khẳng định một chân lý khoa
học: "Dù sao, Trái Đất vẫn quay", trong khi giáo hội lại khẳng định Trái
Đất đứng im, trớc khi Ông bị giáo hội đa lên giàn thiêu. Năm 1992, Giáo
hoàng Jăng Pôn II (Jean Paul II) mới chính thức nhận sai lầm của giáo hội
về sự kiện này, trong khi G. Galilei đã trở thành tro bụi từ mấy trăm năm
trớc.
20
Mấy ai biết đến cuộc đời ba chìm, bảy nổi của A.Nobel (1833-1896),
ngời Thụy Điển, thất bại rồi lại thành công và ôm mối hận khi phát minh
ra thuốc nổ để rồi các tập đoàn, tổ hợp quân sự lợi dụng chế tạo ra súng,
đạn, bom để cho các thế lực hiếu chiến gây chiến tranh, tàn sát hàng triệu,
hàng trăm triệu ngời trên quả đất. Vì vậy, đến cuối đời, A.Nobell đã dành
dụm toàn bộ số tiền của mình gửi vào quỹ làm giải thởng Nobel (có từ
năm 1901) cho những ngời có những cống hiến xuất sắc về khoa học và
nhau do những quan niệm, nhận thức khác nhau. Nhiệm vụ của Đề tài là cố
21
gắng, tổng hợp, chắt lọc những ý kiến của các nhà chính trị, nhà khoa học,
nhà trí thức ở trong nớc và ngoài nớc nêu khái niệm về trí thức, trên cơ sở
đó, chúng tôi phân tích và đa ra khái niệm cụ thể về trí thức với lòng mong
muốn góp phần làm rõ thêm khái niệm này mà từ trớc tới nay đã có rất
nhiều ngời nêu ra.
Phơng pháp của chúng tôi là tiếp thu những thành quả nghiên cứu của
các nhà chính trị, nhà lý luận, nhà khoa học, nhà trí thức nghiên cứu khái
niệm về trí thức, qua đó, bổ sung, phát triển những khái niệm, định nghĩa về
trí thức, góp phần làm phong phú thêm khái niệm này.
Định nghĩa khái niệm về ngời trí thức là một sự lựa chọn khó khăn,
nhng cần phải xác định, vì nó liên quan đến các hoạt động của con ngời
và xã hội. Xác định trúng nội dung cơ bản của khái niệm trí thức sẽ là cơ sở
để khai thác, đào tạo, bồi dỡng, phát hiện, sử dụng cho đúng, cho tốt. Nó
còn liên quan đến công tác tổ chức, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải
pháp xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
Từ trớc tới nay, trên thế giới và ở nớc ta, có nhiều định nghĩa, cách
hiểu khác nhau về trí thức. Các định nghĩa đó lại đợc thay đổi, bổ sung,
điều chỉnh tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau, tuỳ theo đặc điểm phát
triển của từng quốc gia, dân tộc. ở nớc ta, dựa trên thực tiễn đất nớc,
nhiều nhà khoa học đã đa ra những định nghĩa khái niệm khác nhau về trí
thức.
Tại Mêhicô, ngời ta định nghĩa trí thức trong một phạm vi rất hẹp. Họ
cho rằng, trí thức, trớc hết phải là những ngời nổi tiếng; có những đóng
góp xuất sắc cho khoa học và cho đất nớc. Có nhiều công trình giá trị,
đợc cả xã hội biết đến và thừa nhận. Với nhận thức này, cả n
ớc Mêhicô
xã hội, theo đó, mọi ngời không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính và
thành phần xuất thân, đều có cơ hội nh nhau để phát huy năng lực và sở
trờng của mình. Hiền tài của Xingapo, trớc hết, là của chính nền giáo dục
của Nhà nớc Xingapo tạo ra. Ngoài Xingapo và một số nớc khác, Mỹ
hiện nay, vẫn đợc đánh giá là nớc sử dụng nhân tài, hiền tài tốt nhất thế
giới. Điều này giải thích vì sao Mỹ là nớc có nhiều ngời đợc giải thởng
Nôben nhất thế giới, không ai sánh bằng. Đây là một thực tế, không thể phủ
nhận. ở Cu Ba lại khác, họ quan niệm trí thức hết sức rộng rãi, từ những
ngời học bậc phổ thông cũng đợc xem là trí thức. "Toàn dân đại học" là
khẩu hiệu đợc trơng lên ở nhiều nơi trên đất Cu Ba.
Nhiều cuốn từ điển xuất bản ở trong nớc và ngoài nớc đa ra những
định nghĩa về trí thức theo kết quả nghiên cứu của mình:
"Từ điển Bách khoa toàn th Liên Xô", Prokhorov Chủ biên, 1985, định
nghĩa: "Trí thức là tầng lớp những ngời làm nghề lao động trí óc phức tạp,
sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hoá".
"Từ điển Bách khoa triết học" (tiếng Nga), 1983, định nghĩa: "Trí thức là
tầng lớp những ngời làm nghề lao động trí óc và thờng có học vấn tơng
ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hoá". 1
PGS,TS Dơng Văn Quảng: Xingapo - Đặc thù và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
23
"Bách khoa Toàn th Pháp", Tập 10, định nghĩa: "Trí thức là một phạm
trù lịch sử. Trong các nớc khác nhau, khái niệm về trí thức có khác nhau.
Trong các thời đại khác nhau, chức năng của trí thức cũng khác nhau.
Ngời ta có thể chia trí thức thành kỹ s, quan chức, thành nhà phản biện
xã hội, nhà luân lý học, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng".
có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùng đứng trong một đội ngũ với những 1
C.Mác và Ph.ăngghen: Tuyển tập, Tập 6, Nxb Sự thật, Hà nội, 1984, tr. 552.
24
ngời anh em của họ, những ngời công nhân lao động chân tay, đóng vai
trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới đây.
Cuộc cách mạng t sản trớc đây đòi hỏi các trờng đại học chỉ đào tạo
ra các trạng s làm nguyên liệu tốt nhất để hình thành nên những nhà hoạt
động chính trị của chúng; ngoài đòi hỏi đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp
công nhân còn cần phải có những bác sĩ, kỹ s, nhà hoá học, nông học và
các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm lấy việc quản lý không phải chỉ
bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần
đến những kiến thức vững chắc, chứ không phải là những câu xuông xáo
oang oang"
1
.
Định nghĩa của Ph.ăngghen về trí thức bắt nguồn từ những sinh viên và
cũng nh C.Mác, Ph.ăngghen nhấn mạnh đến ngời trí thức cách mạng
gắn với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa t bản.
V.I.Lênin định nghĩa về trí thức:
"Trí thức bao hàm không những chỉ các nhà trớc tác mà thôi, mà còn
bao hàm tất cả mọi ngời có học thức, các đại biểu của những nghề tự do
nói chung, các đại biểu của lao động trí óc"
2
.
Định nghĩa của V.I.Lênin về trí thức có phần rộng rãi, cơ động, không
gò bó, nhìn chung là những ngời lao động trí óc.