1
§¹I häC quèC gia hµ néI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ HẰNG
QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN VỀ TRÍ THỨC VÀ VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội – 2011
§¹I häC quèC gia hµ néI 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1. QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN VỀ TRÍ THỨC 7
1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm và đặc trưng của trí thức 7
1.2. Quan điểm của V.I. Lênin về vai trò của trí thức đối với sự phát
triển của xã hội 14
1.3. Quan điểm của V.I. Lênin về xây dựng đội ngũ trí thức 22
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN
NAY THEO QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN 44
2.1. Thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay 44
2.2. Thành tựu và hạn ch trong xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
hiệ n nay 67
2.3. Nhữ ng giả i pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay 77
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trí thức có vai trò to lớn đối với sự hưng vong của mỗi quốc gia , dân
tộc nhất là đối với những nước có điểm xuất phát kinh tế - xã hội thấp như
nước Nga Xôviế t những năm đầu sau cách mạng tháng Mười . Nhận thức
rõ tình hình nước Nga trong những ngày đầu thành lập chính quyền
Xôviế t, V.I. Lênin đã đặc biệt đề cao vai trò của trí thức. Đồng thời, ông
cũng là người đã giải quyết thành công vấn đề xây dựng trí thức ở Nga.
Nghiên cứu và vận dụng quan điểm của V.I. Lênin về trí thức, Đảng
và Nhà nước ta đã không ngừng chú trọng chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng,
- Đỗ Mười (1995): Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xây
dựng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thanh Tuấn (1998): Một số vấn đề về trí thức Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phan Viết Dũng (1998): Vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trong thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận án PTS Triết học, Hà Nội.
- Phạm Tất Dong (2001): Định hướng phát triển đội ngũ trí thức
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Đắc Hưng (2005): Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát
triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ngô Huy Tiếp (2008): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nhóm vấn đề đi sâu nghiên cứu những bộ phận trí thức cụ thể, có các
công trình tiêu biểu sau:
- Phạm Tất Dong (1997): Khoa học xã hội và nhân văn mười năm
đổi mới và phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn An Ninh (1999): Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học
xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước ta, Luận án TS triết học, Hà Nội.
3
- Nguyễn Văn Sơn (2000): Cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại
học ở nước ta hiện nay”, Luận án TS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
- Ngô Thị Phượng (2007): Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội
và nhân văn trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, …
Dưới các góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, những công
trình trên đã giải quyết được một số vấn đề lí luận và thực tiễn về trí
thức. Tuy nhiên, những công trình đó chưa đề cập và nghiên cứu một
cách hệ thống, trực tiếp quan điểm của V.I. Lênin về trí thức, công tác
xây dựng đội ngũ trí thức và sự vận dụng quan điểm đó vào xây dựng
Làm rõ quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề trí thức và công tác xây
dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay.
Đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng đội
ngũ trí thức Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần vào việc nghiên cứu trí thức nói chung và công tác xây
dựng đội ngũ trí thức nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến trí thức.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN VỀ TRÍ THỨC
1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm và đặc trƣng của trí thức
1.1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm trí thức
Thuật ngữ “trí thức” ở nhiều nước có nguồn gốc từ tiếng Latinh
“intelligentia – intellegentia” chỉ trí lực, trí thức hoặc sự thông minh, hiểu
động tác động trực tiếp đến tự nhiên chủ yếu bằng sức cơ bắp. Lao động trí
óc là quá trình người trí thức sử dụng trí tuệ của mình làm phương thức,
công cụ, điều kiện để phản ánh thế giới, hoàn thiện, hình thành sản phẩm
lao động của mình. Do vậy, mức hao phí năng lượng thần kinh trung ương
nhiều hơn so với lao động chân tay.
Tuy nhiên, ngoài trí thức, còn một bộ phận khá lớn của lao động trí
óc là viên chức và sinh viên. Vì vậy, cần phân biệt giữa trí thức với viên
chức và sinh viên. Sự khác biệt giữa người lao động trí óc như trí thức và
viên chức là ở chỗ viên chức hoạt động trong lĩnh vực hành chính, pháp lý.
Mục đích lao động của đội ngũ viên chức là phục vụ sự vận hành thông
suốt của bộ máy hành chính. Và do lao động của họ không phải là lao
động trí óc phức tạp nên không bắt buộc họ phải có trình độ học vấn cao,
mặc dù xu hướng nâng cao trình độ học vấn của họ là không tránh khỏi.
Còn sinh viên, có thể nói là một bộ phận của trí thức. Nhưng nhìn tổng thể
và chính xác hơn thì đó là một nhóm xã hội quá độ mà xu hướng chính là
bổ sung vào bộ phận lao động trí óc.
Nếu không có sự phân định như trên thì dẫn đến việc đào tạo, sử
dụng trí thức không thỏa đáng hạn chế khả năng sáng tạo của đội ngũ này.
Tổng hợp quan điểm của V.I. Lênin về trí thức, chúng ta có định nghĩa:
trí thức được xác định là một tầng lớp xã hội, là những người lao động trí óc
có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, hay nói cách khác
7
là người có trình độ chuyên môn sâu, đại diện cho đỉnh cao trí tuệ đương
thời, là người có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri
thức về khoa học – kĩ thuật, từ đó thúc đẩy nhanh sự tiến bộ xã hội.
1.1.2. Quan điểm của V.I. Lênin về đặc trưng của người trí thức
Trước hết, trí thức là những người lao động trí óc phức tạp
Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phí năng lượng thần kinh trung
ương cao hơn để thực hiện những hoạt động phức tạp của tư duy như phân
hội…) tạo tiền đề tư tưởng cho các cuộc cách mạng xã hội. Đối với cuộc
cách mạng của giai cấp công nhân, chính trí thức đã góp phần quan trọng
trong xây dựng hệ tư tưởng chính trị cho giai cấp công nhân, tiếp thu,
truyền bá nó vào phong trào công nhân dẫn đến sự ra đời của chính Đảng
cộng sản, đưa phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác.
Ngoài ra, trí thức là những người đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
lập cơ sở lý luận cho cương lĩnh cách mạng, đường lối chính trị của giai cấp
công nhân và cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa –
tinh thần, … để giai cấp công nhân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
1.2.2. Vai trò của trí thức trong lãnh đạo và quản lý đất nuớc
V.I. Lênin đã đặt ra yêu cầu đối với chủ thể quản lý là phải có lòng
trung thành với sự nghiệp, chính quyền, có trình độ, tri thức khoa học, có
uy tín, chuyên môn và năng lực thực tiễn. Trí thức là những người tiến bộ
và với những ưu thế về trình độ học vấn, chuyên môn, khả năng sáng
tạo… có thể đáp ứng được những yêu cầu đối với chủ thể lãnh đạo, quản
lý mà V.I. Lênin đã đưa ra.
Do sự xích lại gần nhau giữa các loại hình lao động mà nhiều trí thức
đã tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo hoặc là người cố vấn chính trị
cho giai cấp công nhân. Nhiều trí thức đã tham mưu cho Đảng của giai cấp
công nhân vạch ra đường lối lãnh đạo đúng đắn.
1.2.3. Vai trò của trí thức trong việc nâng cao dân trí, phát triển
khoa học
Dân trí là vấn đề hết sức cơ bản trong bài toán tăng trưởng kinh tế.
Dân trí không đơn thuần là vấn đề “được đi học”, mà là sự hiểu biết về
9
khoa học, công nghệ, sản xuất, quản lý, đạo đức và pháp luật để ứng dụng
vào lao động sản xuất, dịch vụ xã hội và vào mọi công việc liên quan đến
sự phát triển văn hóa, văn minh.
Trí thức đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí cho
đặc trưng của cuộc đấu tranh không phải chống lại trí thức mà vì trí thức.
Phương pháp cải tạo trí thức cũ , chuyên gia tư sản là “phương pháp
Xôviế t”.
Ý nghĩa của việc cải tạo trí thức cũ, chuyên gia tư sản là giải phóng
trí thức khỏi sự phục tùng giai cấp tư sản, khỏi ách tư bản, trả lại cho trí
thức ý nghĩa chân chính, cao cả của trí thức là dùng tri thức khoa học phục
vụ cho quần chúng nhân dân lao động, chứ không phải để phục vụ cho sự
thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản.
1.3.2. Quan điểm của V.I. Lênin về việc sử dụng trí thức, chuyên
gia tư sản
V.I. Lênin đã chỉ ra cho những người cộng sản thấy sự cần thiết phải
sử dựng trí thức, chuyên gia tư sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì ngay
từ những ngày đầu, khi cách mạng tháng Mười thành công, V.I. Lênin đã
sớm ý thức được rằng nếu chỉ bằng nhiệt tình cách mạng mà thiếu tri thức
sẽ dẫn đến sự phá hoại công cuộc xây dựng đất nước. Vì vậy, V.I. Lênin
cũng đã nghiêm khắc phê phán một số quan điểm sai lầm ở Nga lúc bấy
giờ, như quan điểm của cái gọi là trường phái “văn hoá vô sản” cho rằng:
giai cấp vô sản hoàn toàn có khả năng làm được những cái gì mà chủ nghĩa
tư bản đã làm. Rằng: cần phải có bàn tay cộng sản “sạch sẽ” để xây dựng
chủ nghĩa cộng sản mà không cần đến những người cộng tác tư sản phản
cách mạng đáng khinh bỉ.
Khi sử dụng trí thức, V.I. Lênin đã chú ý đến đặc trưng lao động trí
óc, nhu cầu cuộc sống và điều kiện làm việc của họ. Vì vậy, V.I. Lênin đã
chủ trương trả lương cao cho trí thức nhất là các chuyên gia giỏi “muốn
mang khoa học lại cho nhân dân (chứ không phải là phục vụ bọn tư bản)”.
11
V.I. Lênin đã kêu gọi những người cộng sản phải có thái độ cầu thị,
khiêm tốn học hỏi, thận trọng, khéo léo, mềm dẻo đối với các chuyên gia tư
sản mà phần lớn đã bị tiêm nhiễm thế giới quan tư sản.
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN
2.1. Thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Công tác đào tạ o, bồi dưõng đội ngũ trí thức
Mục tiêu giáo dục – đào tạo đội ngũ trí thức là giáo dục tư tưởng đạo
đức truyền thống, kiến thức hiện đại, năng lực thích nghi cuộc sống, khắc
phục tình trạng học nhiều nhưng thiếu thực tế.
Phương hướng là quan tâm đào tạo và bồi dưỡng về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, ý chí với những hình thức và nội dung thích hợp.
Chủ trương phá vỡ thế khép kín trong giáo dục – đào tạo, thực hiện
mở cửa, xã hội hóa mạnh mẽ giáo dục.
Nội dung của công tác giáo dục - đào tạo trí thức bao gồm:
Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bao gồm: đào tạo chính quy, đào
tạo tại chức, đào tạo ngắn hạn không chính quy, đào tạo mở rộng, đào tạo
từ xa.
Chủ trương thực hiện trẻ hóa đội ngũ trí thức như tuyển chọn các sinh
viên tốt nghiệp xuất sắc, đào tạo tiếp để họ nhanh chóng hoàn thiện các
chương trình cao học và nghiên cứu sinh, đạt được học vị khi tuổi còn trẻ.
Tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, coi đó là đầu tư cơ bản,
đầu tư để phát triển.
Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo ở trong nước với
việc gửi lưu học sinh và cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài.
Công tác quản lý đào tạo ở nước ngoài cũng được đổi mới. Các cơ
quan quản lý, đào tạo trí thức đã tăng cường công tác chính trị, tư tưởng
đối với lưu học sinh.
Nhiều biện pháp tích cực để đảm bảo công bằng trong công tác giáo
dục cũng được thực hiện như chính sách miễn giảm học phí, cấp học bổng,
13
14
sống cán bộ nhân viên y tế, thực hiện một số biện pháp giảm bớt khó khăn
trong đời sống của giáo viên.
Ngoài ra, công tác đãi ngộ về vật chất còn thể hiện ở việc tạo điều
kiện và phương tiện làm việc tốt nhất cho trí thức để họ phát huy tiềm
năng sáng tạo của mình.
Đối với công tác động viên về tinh thần
Việc động viên về tinh thần bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn
các nhu cầu được nâng cao trình độ để có bằng cấp cao hơn, việc công nhận
các chức danh, việc xét thưởng thi đua (giấy khen, bằng khen, huân chương,
… ) cho trí thức.
Ví dụ: Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, giải thưởng
VIFOTEC…
Hàng năm, Nhà nước cùng với chính quyền địa phương, lãnh đạo các
ngành tổ chức bình xét và trao giải thưởng cho các tập thể, cá nhân có cống
hiến to lớn trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và giáo dục…,
nhiều trí thức được tôn vinh và tặng danh hiệu cao quý như Nhà giáo nhân
dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ ưu tú… Đồng thời, tiến hành
phong học hàm giáo sư, phó giáo sư theo định kì và các phần thưởng cao
quý khác, đặc biệt là giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước
cho trí thức có thành tựu xuất sắc. Ở cấp Bộ, ngành và cơ sở cũng thực hiện
nhiều hình thức khen thưởng khác nhau như: lao động tiên tiến, chiến sĩ thi
đua, giấy khen, bằng khen…
Gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành: pháp lệnh về bảo hộ quyền sở
hữu công nghệ và chuyển giao công nghệ, pháp lệnh về quyền tác giả, điều
lệ về sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và sáng chế… Đó là
những đảm bảo quan trọng về mặt pháp lý, tạo nên động lực bền vững cho
sự sáng tạo, động viên, khuyến khích sự phát triển tiềm năng, đảm bảo đời
sống cho trí thức và có khả năng đầu tư trở lại cho sáng tạo.
16
trong nước, ưu tiên mời chuyên gia là người Việt Nam trong các chương
trình, dự án hợp tác với nước ngoài.
Luật Cư trú, Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật Quốc tịch sửa đổi (28-
11-2008) cũng đã đưa ra những điều khoản ưu đãi nhằm thu hút trí thức,
nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.
Triển khai các chương trình như: gặp gỡ Việt kiều đầu xuân mới;
mời các đoàn Việt kiều tiêu biểu về thăm đất nước trong các dịp lễ lớn,
như ngày giỗ tổ Hùng Vương, ngày giải phóng miền Nam, ngày Quốc
khánh; tổ chức trại hè cho thanh thiếu niên Việt kiều…
2.2. Thành tựu và hạn chế trong xây dựng đội ngũ trí thức Việt
Nam hiệ n nay
2.2.1. Thành tựu trong xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay
Một là, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các cơ quan
quản lý trí thức về xây dựng đội ngũ trí thức có bước tiến mới
Đảng đã nhận thức sâu sắc vai trò đội ngũ trí thức đối với sự hưng
vong của đất nước. Quan điểm đó thể hiện rõ tinh thần tôn trọng, tôn vinh
trí thức, trọng dụng nhân tài, coi nhân tài là vốn quý của quốc gia.
Hệ thống chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo môi trường
phát huy trí tuệ của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
về cơ bản có những bước tiến quan trọng, khắc phục tình trạng yếu kém,
trì trệ của cơ chế bao cấp.
Đảng, Nhà nước và các cơ quan quản lý trí thức đã nhận thức sâu
sắc, đầu tư phát triển nguồn nhân lực nói chung, tiềm lực trí tuệ nói riêng
là đầu tư phát triển, có tầm quan trọng hàng đầu và cấp thiết, tạo được
nguồn lực cho sự phát triển bền vững.
Đảng, Nhà nước và các tổ chức lãnh đạo trí thức đã đề ra nhiều chủ
trương và ban hành những chính sách nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ, mở
rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài, khuyến khích trí
thức phát minh, sáng tạo.
hiện rõ lò ng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội, trăn trở, suy tư trước vận
18
mệnh, tiền đồ của đất nước, của dân tộc, đem hết tài năng, trí tuệ cống hiến
cho sự thịnh vượng của đất nước.
2.2.2. Một số yếu kém, hạn chế trong xây dựng đội ngũ trí thức
Trước hết, là hạn chế trong nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của trí thức ở các cấp ủy Đảng, các ngành, địa phương.
Nhiều cấp ủy Đảng, ngành, chính quyền địa phương chưa nhận thức
được vị trí, vai trò của trí thức trong các lĩnh vực hoạt động sáng tạo, chưa
thực sự coi khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo là nguồn động lực
phát triển văn hóa, là nền tảng tinh thần giải quyết thỏa đáng nhu cầu,
nguyện vọng của trí thức.
Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhận thức lệch lạc về các chức
danh khoa học và có tâm lý đề cao bằng cấp, chưa có biện pháp đánh giá
và sử dụng đúng thực tài, dẫn đến tình trạng chạy theo bằng cấp.
Hai là, những hạn chế trong việc đãi ngộ và tôn vinh trí thức.
Chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các tập thể và cá nhân có các
công trình, sản phẩm khoa học có hiệu quả vẫn còn chưa phù hợp với thực
tế, chưa tương xứng với trí lực bỏ ra, do vậy khó tạo ra được động lực để
đội ngũ trí thức nhất là những chuyên gia, trí thức tài năng chuyên tâm
cống hiến hết mình.
Vấn đề cải thiện thu nhập của trí thức đã được các cơ quan, đơn vị thực
hiện theo những cách thức khác nhau. Nhưng công việc này nhìn chung còn
tùy tiện, nhiều khi thiếu minh bạch. Trí thức phải thường xuyên “vận dụng”
chính sách, chế độ dẫn đến nguy cơ tiêu cực, làm tha hóa trí thức.
Ba là, việc sử dụng và thu hút trí thức còn nhiều bất cập.
Còn thiếu cơ chế, chính sách khắc phục có hiệu quả sự hẫng hụt đội
ngũ khoa học, chuyên gia đầu ngành.
Nhiều chính sách và cơ chế chưa đủ mạnh để trọng dụng người có
20
2.3. Nhƣ̃ ng giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn việc xây
dựng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay
2.3.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
Đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng theo hướng thực sự
dân chủ, kỷ cương, thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát quần chúng, làm việc
có chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm, nói đi đôi với làm.
Đổi mới cách ra nghị quyết, văn kiện và báo cáo phải ngắn gọn, thiết
thực, cụ thể; đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hội nghị. Tăng
cường tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện nghị quyết; xây
dựng và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ.
2.3.2. Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục – đào tạo đội ngũ trí thức
Đổi mới công tác giáo dục – đào tạo đội ngũ trí thức
Đổi mới việc đầu tư cho các cơ sở được Nhà nước giao nhiệm vụ đào
tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước theo hướng có trọng điểm và phải
được kế hoạch hóa chặt chẽ, cụ thể hàng năm, tùy theo tính chất và trình
độ của từng bậc học.
Tuyển chọn những người có học rộng, tài cao, đức độ, rất mực trung
thành với chủ nghĩa xã hội, thuộc các lĩnh vực, tập trung đào tạo, bồi
dưỡng cho họ những tri thức còn thiếu và yếu. Từ đó, bố trí họ vào cơ
quan tham mưu, hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước với những quy định cụ thể về chế độ trách nhiệm, quyền hạn
và lợi ích.
Đào tạo, bồi dưỡng và sát hạch lại đội ngũ giáo viên cả về năng lực và
phẩm chất để sàng lọc khỏi đội ngũ giáo viên những người không phù hợp.
Trong những năm tới, cần sắp xếp các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ, công chức chủ chốt của hệ thống chính trị từ Trung ương
chức lễ trao giải thật sự long trọng, thiết thực mà tiết kiệm.
22
2.3.4. Tiếp tục đổi mới chính sách thu hút trí thức Việt Nam ở
nước ngoài để đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước
Tăng cường công tác thông tin ra nước ngoài, tạo điều kiện để người
Việt nam ở nước ngoài hiểu đất nước, hiểu người trong nước.
Cần nhanh chóng xây dựng một website để trí thức Việt kiều đã hồi
hương nói riêng và trí thức đang sinh sống ở Việt Nam nói chung trao đổi
thông tin, kinh nghiệm với trí thức Việt kiều ở các quốc gia trên thế giới.
Sửa đổi, bổ sung những chính sách có liên quan đến trí thức Việt
kiều một cách rõ ràng, thể hiện chủ trương nhất quán, tôn trọng của Đảng
và Nhà nước.
Tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức Việt kiều về nước với gia đình trong
việc giải quyết thủ tục mua nhà ở, vấn đề visa