ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
HOÀNG VĂN TÀI
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY Tiểu luận Triết học
Chương trình Cao học và Nghiên cứu sinh
không thuộc chuyên ngành Triết học
Công việc: Kỹ sư phần mềm.
Nơi công tác: Công ty TMA-Solutions TP. HỒ CHÍ MINH – 2014
3 MỤC LỤC PHN MỞ ĐU 4
Chương I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON
NGƯỜI 7
1.1 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất của con người. 7
1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về giải phóng con người 8
1.3 Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản xuất 8
Chương II: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 10
2.1 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực công nghệ thông tin
ở nước ta hiện nay 10
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt Nam –
những thuận lợi và khó khăn. 11
2.3. Những giải pháp để phát triển và xây dựng nguồn nhân lực công
nghệ thông tin ở nước ta hiện nay 15
KẾT LUN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHO 18
học Mác-Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn nhân lực cho
ngành công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ rất sớm, lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng
nghiên cứu về nó. Vấn đề con người luôn được các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Đơn cử, chúng ta có thể nhận
thấy một số quan điểm triết học phương Đông về con người, triết học
phương Tây về con người và triết học Mác - Lênin về con người.
5
3. Mc đích và nhiệm v ca đề tài
Tiểu luận nhằm làm sáng tỏ những quan điểm của triết học Mác -
Lênin về con người và nhu cầu nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở nước
ta hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau:
- Đưa ra quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
- Xác định nhu cầu và thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông
tin ở nước ta hiện nay.
- Rút ra những kết luận về góp ý về việc xây dựng con người cũng
như xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho đất nước.
4. Cơ s l luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của tiểu luận này dựa trên những tư tưởng cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và dựa trên hiện trạng nguồn lực cũng
như sự phát triển của công nghệ thông tin của nước ta hiện nay.
Để thực hiện tiểu luận, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp tổng hợp
phóng con người.
o Mục 1.3: Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản
xuất
- Chương II: Vấn đề xây dựng nguồn nhân lực cho ngành công
nghệ thông tin ở nước ta hiện nay
o Mục 2.1: Vai trò của nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở
nước ta hiện nay
o Mục 2.2: Thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở
Việt Nam – những thuận lợi và khó khăn.
o Mục 2.3: Những giải pháp để phát triển và xây dựng nguồn
nhân lực công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay
cng l mt ng vt. Theo Ph. ngghen: Bn thõn cỏi s kin l con
ngi t loi ng vt m ra, cng ó quyt nh vic con ngi
khụng bao gi hon ton thoỏt ly khừi nhng c tớnh vn cú ca con
vt[2].
L thc th xó hi vỡ cỏc hot ng xó hi, trc v quan trng
nht l hot ng lao ng sn xut, ó lm cho con ngi tr thnh
con ngi vi ỳng ngha ca nú.
Thc th sinh vt v thc th xó hi con ngi khụng tỏch
khi nhau, trong ú thc th sinh vt l tin m trờn tin ú thc
th xó hi tn ti v phỏt trin.
8
1.1.2. Con ngi l ch th ca lch s
Con ngi khụng ch l sn phm ca lch s vi t cỏch l sn
phm quỏ trỡnh tin húa lõu di ca t nhiờn, m con ngi cũn l ch
th ca lch s. Hot ng ca con ngi lm ra lch s, nờn cú lch
s, thỡ trc ht phi cú con ngi.
Khụng cú con ngi tru tng, ch cú con ngi c th trong
mi giai on phỏt trin nht nh ca lch s xó hi. Do vy, bn cht
con ngi trong mi quan h vi iu kin lch s xó hi luụn luụn
vn ng, bin i, cng phi thay i cho phự hp.
Trong quỏ trỡnh phỏt trin ca th gii núi chung v quỏ trỡnh
phỏt trin ca con ngi núi riờng, thỡ t khi con ngi ra i cho n
lỳc no con ngi cũn tn ti, con ngi vn luụn va l sn phm
ca lch s, va l ch th ca lch s.
1.2 Quan im ca trit hc Mỏc - Lờnin v gii phúng con ngi
Ct lừi ca trit hc Mỏc Lờnin núi chung, ca trit hc v con
ngi trong trit hc Mỏc Lờnin núi riờng l vn gii phúng con ngi,
t gii phúng nhng con ngi c th tin ti gii phúng nhõn loi.
làm ra ít, kém chất l-ợng, còn ng-ời khác sử dụng thì có thể tiết kiệm
nguyên liệu, năng suất cao, chất l-ợng sản phẩm tốt. Điều đó chứng tỏ trong
quá trình sử dụng con ng-ời còn tiếp tục tác động đến máy móc và bằng cả
thể lực và trí lực.
Con ng-ời cũng luôn luôn cải tạo đối t-ợng lao động. Trong buổi bình
minh của lịch sử, lực l-ợng lao động sản xuất còn thấp kém, con ng-ời dựa
chủ yếu vào những đối t-ợng lao động do tự nhiên cung cấp sẵn. Sản xuất
càng phát triển, nhận thức cảu con ng-ời càng lớn lên, ph-ơng tiện và công
cụ lao động càng tiến bộ thì các đối t-ợng lao động nhân tạo càng chiếm tỷ
lệ cao hơn những đối t-ợng có sẵn trong tự nhiên. Nh- vậy con ng-ời là chủ
thể sáng tạo là chủ thể sử dụng mọi yếu tố của lực l-ợng sản xuất. Con ng-ời
là yếu tố năng động nhất, quyết định lực l-ợng sản xuất. Bởi vì chỉ có yếu tố
con ng-ời mới có trí tuệ và cũng chỉ có yếu tố con ng-ời mới có năng lực tự
phát triển và tự hoàn thiện mình. Ng-ời lao động không chỉ sinh con, tái sản
xuất ra sức lao động, mà còn luôn nâng cao chất l-ợng của lao động bằng
con đ-ờng kế thừa các yếu tố xã hội và phát triển chúng.
Con ng-ời làm ra lực l-ợng sản xuất đến đâu thì đồng thời cũng tự
nâng cao năng lực sản xuất của mình đến đó. Có thể nói, con ng-ời là chủ
thể và là động lực chủ đạo quyết định sự phát triển của lực l-ợng sản xuất.
Con ng-ời là một trong những yếu tố của lực l-ợng sản xuất, nh-ng là yếu tố
cơ bản nhất, là chủ thể quyết định. Không có con ng-ời thì không có quá
trình sản xuất.
Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao
động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho
sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân
cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã
hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm
11
các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham
gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân
cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao
động.
2.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở nước ta
hiện nay
Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức.
Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra
được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản,
nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần
phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt
quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức
đó không thể nào đạt tới mục tiêu, đạt được những thành tựu và chiến
lợi trong kinh doanh.
Xét về bản chất, các quá trình kinh doanh, các quá trình quản
trị, thì đều là lao động. Đó là quá trình lao động, người lao động sử
dụng các công cụ lao động tác động vào tư liệu sản xuất theo một
công nghệ nào đó, nhằm tạo ra một sản phẩm có hướng đích. Người
lao động là chủ thể, chính những kiến thức, trách nhiệm, kỹ năng,
với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, dẫn đến tình trạng thiếu hụt về cả
quy mô và chất lượng.
Một số những thuận lợi và khó khăn đối với nguồn nhân lực công
nghệ thông tin ở nước ta hiện nay:
Thuận lợi
Vấn đề về phát triển đội ngũ nhân lực CNTT đã được Đảng,
Chính phủ quan tâm, đưa vào trong hầu hết các văn bản pháp
luật về CNTT. Luật CNTT đã dành trọn một mục (Điều 42 đến
46) quy định các nội dung về Phát triển nguồn nhân lực CNTT.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển
nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020 theo Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009. Kế
hoạch này đã đặt ra các mục tiêu cụ thể, đề ra nhiều giải pháp
thúc đẩy đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực CNTT từ cả phía
cung cấp và phía sử dụng: chú trọng đổi mới trong đào tạo, tăng
cường phổ cập tin học cho xã hội, đẩy mạnh đầu tư phát triển
nhân lực CNTT. Trong Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành
nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông (Quyết định
số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010), phát triển nhân lực CNTT
được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Mục tiêu đặt ra đến năm 2020
là phát triển được 1 triệu người tham gia hoạt động trong lĩnh
vực CNTT. Ngày 28/5/2012, bộ trưởng bộ thông tin và truyền
thông cũng đã ban hành quy hoạch phát triển nhân lực ngành
Thông tin và Truyền thông giai đoạn 2011 – 2020 (Quyết định
số 896/QĐ-BTTTT), trong đó nhân lực CNTT là một nội dung
quan trọng. Có thể nói, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực
13
CNTT đã định vị được vai trò và được quan tâm chỉ đạo của
giáo trình của các hãng công nghệ lớn trên thế giới (như
Juniper, Cisco, Nokia-Checkpoint, Trend Micro,
FoundStone…) và cấp chứng chỉ CNTT của chính hãng đó.
Đây là con đường ngắn nhất để người lao động kiếm được việc
làm ở các công ty, bởi lẽ các chứng chỉ này đa phần được công
nhận trên toàn thế giới. Ngoài ra, còn một số lượng lớn các cơ
sở liên kết với các trường đại học nước ngoài được các trường
đại học ở các thành phố lớn triển khai. Đó là chưa nói đến các
14
trung tâm tin học đào tạo các khoá ngắn hạn, đào tạo theo
chuyên ngành, đào tạo từ xa và đào tạo trong doanh nghiệp lớn
ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng Theo đánh giá của nhiều
chuyên gia, số lượng trung tâm đào tạo hiện nay đã phần nào
đáp ứng đủ về nhu cầu đào tạo ngắn hạn. Đây cũng là một tín
hiệu thuận lợi để cải thiện chất lượng nhân lực CNTT.
Khó khăn
Mặc dù đã xây dựng được một số văn bản quy phạm thúc đẩy
phát triển nhân lực CNTT nhưng các văn bản này chủ yếu tập
trung vào những quy định về mục tiêu, giải pháp, tổ chức hệ
thống, chưa có cơ chế tài chính đủ mạnh, thiếu những quy định
xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi và thu hút các thành phần
kinh tế trong tham gia đào tạo nhân lực hay ưu đãi sử dụng
nhân lực CNTT. Ngoài ra, chưa có các chính sách đặc thù dành
riêng cho đào tạo nhân lực CNTT. Do vậy, việc áp dụng các
chính sách chung của các ngành đã không đẩy nhanh được tốc
độ, gây dựng nhanh nguồn nhân lực chủ chốt cho ngành kinh tế
tri thức này của Việt Nam. Nhìn chung, thực tế đến nay, việc
triển khai thực hiện các Kế hoạch, Đề án được phê duyệt còn rất
hạn chế.
và lệ thuộc vào một số dòng sản phẩm nhất định của các hãng
này.
Chương trình đào tạo tin học phổ cập đã được triển khai khá
rộng ở mọi cấp học nhưng nội dung chương trình học vẫn chưa
được cập nhật kịp thời so với sự phát triển nhanh của công
nghệ. Cơ sở vật chất còn lạc hậu nên vẫn chủ yếu nặng về đào
tạo lý thuyết. Hệ thống các chương trình đào tạo và cấp chứng
chỉ chưa có sự liên thông nên có sự đào tạo lặp lại, gây lãng phí
và khó khăn trong việc đánh giá, sử dụng nguồn nhân lực và
bảo đảm quyền lợi của người học.
Mặc dù đã có sự gia tăng về số lượng, nhưng năng suất lao
động của nhân lực CNTT Việt Nam còn khá thấp. Năng suất
lao động bình quân trong mảng gia công xuất khẩu phần mềm
mới chỉ đạt bình quân khoảng 13.000 USD/người/năm. Tại một
số doanh nghiệp phần mềm lớn, có nhiều dự án gia công cho
nước ngoài, năng suất cũng chỉ đạt 17.000-20.000
USD/người/năm. So sánh với một số nước trong khu vực, mức
năng suất bình quân của nhân lực CNTT Việt Nam chỉ bằng
khoảng 45% so với Ấn Độ, và 65% so với Trung Quốc. Điều đó
có thể khiến ngành này đang dần mất đi sức hấp dẫn với người
làm và người học trong giai đoạn tới đây[3].
2.3. Những giải pháp để phát triển và xây dựng nguồn nhân lực
công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay
Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, quy trình đào tạo,
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực CNTT. Kết hợp giữa
16
việc dạy và thực hành, luôn cập nhật và ứng dụng các công nghệ
17
KẾT LUN
Qua nghiên cứu đề tài, cho thấy được bản chất của con người, mối
quan hệ của con người và xã hội. Đồng thời, rút ra được một số nhận xét về
thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay:
1) Với qui mô dân số như hiện nay, chúng ta đang có một lực lượng
lao động rất dồi dào. Song với việc đầu tư và phát triển con người
chưa được quan tâm đúng mức, đã và đang dẫn đến tình trạng thất
nghiệp.
2) Chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin nước ta chưa đáp
ứng kịp thời với sự phát triển về khoa học – công nghệ. Đa phần,
các doanh nghiệp, đều phải tốn chi phí và thời gian để đào tạo lại
cho các sinh viên mới tốt nghiệp. Do đó, việc mở rộng và nâng cao
chất lượng giáo dục, tạo kết nối giữa các doanh nghiệp công nghệ
thông tin và sinh viên là một yêu cầu cần thiết và cần phải được tổ
chức một cách có qui mô, khoa học.
3) Thị trường công nghệ thông tin ở Việt Nam ngày càng phát triển,
và thu hút nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài, nhà nước nên có các
chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động và mở rộng hoạt