Quan điểm của V.I. Lênin về trí thức và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam - Pdf 25


3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1. QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN VỀ TRÍ THỨC 7
1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm và đặc trưng của trí thức 7
1.2. Quan điểm của V.I. Lênin về vai trò của trí thức đối với sự phát
triển của xã hội 14
1.3. Quan điểm của V.I. Lênin về xây dựng đội ngũ trí thức 22
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN
NAY THEO QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN 44
2.1. Thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay 44
2.2. Thành tựu và hạn ch trong xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
hiệ n nay 67
2.3. Nhữ ng giả i pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay 77
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình, các nhà
kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin rất chú ý đến tầng lớp trí thức, coi trí thức là
lực lượng không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân.
Xã hội ngày càng phát triển tầng lớp trí thức càng có vai trò to lớn, nhất là
trong các lĩnh vực khoa học – kĩ thuật và văn hóa tư tưởng. Như nhiều nhà

đội ngũ trí thức là một phần quan trọng, không thể thiếu của yếu tố nguồn lực
con người. Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chú
trọng chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức về mọi mặt, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong điều kiện mới. Đảng ta đã xác định:
“Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ, sức mạnh
của đất nước, của Đảng và của hệ thống chính trị” [44, 81].
Kết quả đạt được là đội ngũ trí thức Việt Nam đã có sự phát triển cả về
số lượng và chất lượng do được Đảng và Nhà nước quan tâm và đề cao. Tuy
nhiên, công tác xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng thời kì đổi mới. Đường lối, quan
điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng đội ngũ trí thức
còn thiếu đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống. Tổ chức, thực hiện xây dựng đội
ngũ trí thức còn yếu. Thiếu một chiến lược cơ bản và lâu dài trong quy hoạch
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức.
Với lý do như trên tôi chọn vấn đề: “Quan điểm của V.I. Lênin về trí
thức và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu về trí thức nói chung, trí thức Việt Nam nói riêng.
Đặc biệt, từ khi bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

3
vấn đề trí thức đã được quan tâm nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống
qua một số công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, luận án, luận văn
và các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Có thể phân chia các công
trình này thành các nhóm vấn đề sau:
Nhóm vấn đề liên quan trực tiếp tới quan điểm, chủ trương, chính sách
của V.I. Lênin về xây dựng và phát huy vai trò, tiềm năng trí tuệ của trí thức,
có các công trình tiêu biểu sau:

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Đắc Hưng (2005): Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển
đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ngô Huy Tiếp (2008): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Thông qua những công trình này, người đọc hiểu được một cách cơ bản
về khái niệm, vị trí, vai trò của trí thức; thực trạng đội ngũ trí thức và phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức. Đồng thời, các tác giả cũng đã gợi
mở một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả lãnh đạo công tác xây
dựng đội ngũ trí thức của Đảng, phát huy cao độ vai trò của trí thức trong thời
kì đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Nhóm vấn đề đi sâu nghiên cứu những bộ phận trí thức cụ thể, có các
công trình tiêu biểu sau:
- Phạm Tất Dong (1997): Khoa học xã hội và nhân văn mười năm đổi
mới và phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn An Ninh (1999): Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã
hội trong công cuộc đổi mới đất nước ta, Luận án TS triết học, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Sơn (2000): Cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại học
ở nước ta hiện nay”, Luận án TS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ngô Thị Phượng (2007): Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội
và nhân văn trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, …

5
Qua các công trình trên, các tác giả đã khái quát thực trạng đội ngũ trí
thức trong những lĩnh vực cụ thể. Trên cơ sở đó, họ đề ra một số phương
hướng, giải pháp nhằm khơi dậy động lực sáng tạo cho trí thức trong quá trình
xây dựng đất nước.
Dưới các góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, những công trình
trên đã giải quyết được một số vấn đề lí luận và thực tiễn về trí thức. Tuy
nhiên, những công trình đó chưa đề cập và nghiên cứu một cách hệ thống,

6. Đóng góp của luận văn
Làm rõ quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề trí thức và công tác xây
dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay.
Đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng đội ngũ
trí thức Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần vào việc nghiên cứu trí thức nói chung và công tác xây dựng
đội ngũ trí thức nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến trí thức.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.

7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA V.I. LÊNIN VỀ TRÍ THỨC

1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm và đặc trƣng của trí thức
1.1.1. Quan điểm của V.I. Lênin về khái niệm trí thức
Thuật ngữ “trí thức” ở nhiều nước có nguồn gốc từ tiếng Latinh
“intelligentia – intellegentia” chỉ trí lực, trí thức hoặc sự thông minh, hiểu
biết, biết suy nghĩ. Nội dung khái niệm “trí thức” được xác định tùy theo từng
giai đoạn lịch sử cụ thể và ở mỗi nước lại có quan điểm khác nhau. Có xu
hướng mở rộng khái niệm “trí thức” cho rằng trí thức là người lao động trí óc
nói chung. Có xu hướng lại thu hẹp như quan niệm ở châu Âu trước đây, coi
trí thức là những nhà tư tưởng (trước tác) hoặc một số học giả quan niệm chỉ
có một nhóm nhỏ những nhà bác học, sáng chế, phát minh mới là trí thức.
Nhìn chung, các định nghĩa xác định nội dung khái niệm “trí thức” đều dựa

động vào tự nhiên nhằm khai thác và cải tạo tự nhiên theo những phương thức
nhất định phục vụ cho nhu cầu của mình. Lao động chân tay là quá trình con
người sử dụng những công cụ lao động tác động trực tiếp đến tự nhiên chủ
yếu bằng sức cơ bắp. Lao động trí óc là một trong những cách thức mà một bộ
phận trong xã hội sử dụng để tác động đến tự nhiên một cách gián tiếp. Lao
động trí óc là quá trình người trí thức sử dụng trí tuệ của mình làm phương
thức, công cụ, điều kiện để phản ánh thế giới, hoàn thiện, hình thành sản
phẩm lao động của mình. Sản phẩm của quá trình lao động trí tuệ chính là sự
sáng tạo ra tri thức mới, duy trì, phổ biến và phát triển những giá trị cơ bản
của xã hội loài người.
Sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay được quy định
bởi sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương nhiều hay ít của người lao
động. Trong lao động chân tay, người lao động chủ yếu huy động năng lực cơ

9
bắp, mức hao phí thần kinh trung ương ít hơn. Còn lao động trí óc, mức hao
phí thần kinh trung ương là chủ yếu, do lao động của họ chủ yếu là những
hoạt động thao tác của tư duy. Như vậy, sự khác biệt giữa lao động chân tay
và lao động trí óc là sự khác biệt của hàm lượng trí tuệ bên trong chứ không
phải là biểu hiện bên ngoài của kiểu lao động ấy.
Khi đưa ra quan niệm về giới trí thức, V.I. Lênin đã dùng “danh từ trí
thức để chỉ một người trí thức thông thường, đứng trên miếng đất của xã hội
tư sản, và là một đại diện tiêu biểu cho giai cấp của những người trí thức. Giai
cấp này đang có sự đối kháng nào đó đối với giai cấp vô sản” [74, 372].
Nhưng đây không phải là sự đối kháng về kinh tế mà là sự đối kháng về
phương diện tâm trạng và tư tưởng do hoàn cảnh sống và điều kiện lao động
của họ chi phối. Đó chính là căn cứ để V.I. Lênin đưa ra khái niệm giới trí
thức. Tuy nhiên, ngoài trí thức, còn một bộ phận khá lớn của lao động trí óc là
viên chức. Vì thế, để làm sáng rõ khái niệm giới trí thức theo quan điểm của
V.I. Lênin chúng ta cần phải phân biệt giữa trí thức và viên chức. Sự khác biệt

quan sát phong trào đấu tranh của sinh viên Nga, V.I. Lênin đã nhận xét: “Về
mặt chính trị sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất trong giới trí thức, mà sở dĩ
giới trí thức được coi là trí thức vì nó phản ánh và thể hiện sự phát triển của
lợi ích giai cấp và của các nhóm chính trị trong toàn bộ xã hội một cách có ý
thức hơn cả” [73, 416]. Trong xã hội cũ, do có cùng địa vị về cơ cấu giai cấp
– xã hội (tầng lớp trung gian) nên sinh viên, trí thức đều có cùng đặc điểm
chính trị là bếp bênh, mâu thuẫn… Nhưng sinh viên đôi khi có sức mạnh và
sự nhạy cảm chính trị hơn trí thức, do chỗ tập trung lực lượng tuổi trẻ, lòng
hăng hái… Trường đại học là nơi chủ yếu đào tạo trí thức. Ngay khi còn đang
học tập trong các trường đại học, sinh viên đã có những hoạt động khoa học
độc lập hoặc có sự kết hợp, hướng dẫn của giảng viên trong phạm vi đề tài
nghiên cứu chung của trường. Vị trí, trách nhiệm khoa học của một trường đại
học không thể thiếu được sự đóng góp của đông đảo sinh viên. Cho nên, có

11
thể nói sinh viên là một bộ phận của trí thức. Nhưng nhìn tổng thể và chính
xác hơn thì đó là một nhóm xã hội quá độ mà xu hướng chính là bổ sung vào
bộ phận lao động trí óc. Và như vậy, có nghĩa là không phải tất cả sinh viên
đều hoàn thành nhiệm vụ của khóa học và khi ra trường đều đứng vào hàng
ngũ trí thức.
Như vậy, trong quan niệm của V.I. Lênin, trí thức được xác định là một
tầng lớp xã hội, là những người lao động trí óc có trình độ học vấn cao về
lĩnh vực chuyên môn nhất định, hay nói cách khác là người có trình độ
chuyên môn sâu, đại diện cho đỉnh cao trí tuệ đương thời, là người có năng
lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức về khoa học – kĩ
thuật, từ đó thúc đẩy nhanh sự tiến bộ xã hội.
1.1.2. Quan điểm của V.I. Lênin về đặc trưng của người trí thức
Trước hết, trí thức là những người lao động trí óc phức tạp
Trí thức là người lao động trí óc, tuy nhiên lao động trí óc là một khái
niệm rộng, bao hàm những người lao động trí tuệ ở mức giản đơn đến phức

định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những
quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất,
về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về
cách thức hưởng thụ về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.
Giai cấp là những tập đoàn, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động
của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ
kinh tế nhất định” [88, 18]. Căn cứ vào định nghĩa này, V.I. Lênin cho rằng trí
thức không phải là một giai cấp bởi: “Khi xã hội phân chia thành giai cấp, cái
quyết định tính chất của các lực lượng xã hội là quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất. Trong xã hội đó, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp đối với sở
hữu tư liệu sản xuất, trí thức “không hợp thành giai cấp độc lập về kinh tế”
[69, 247]. Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù.

13
Tính đặc thù của trí thức thể hiện trong lao động và nghề nghiệp của
họ. Lao động của người trí thức là lao động “chất xám” tạo ra những sản
phẩm trí tuệ. Quá trình thực hiện mặt vật chất của “lao động chất xám” là
thuộc về lao động chân tay. Trong các dạng thức lao động khác nhau, lao
động trí óc phức tạp của người trí thức mang tính sáng tạo rõ nét. Mặc dù
sáng tạo là thuộc tính của lao động nhưng sáng tạo ở mức độ cao về khoa học,
phức tạp về nội dung là thuộc về lao động trí óc. Cho nên, khái niệm “lao
động sáng tạo” thường dùng để chỉ kiểu lao động đặc trưng của trí thức. Sản
phẩm của kiểu lao động này là: tạo ra tri thức mới, tiến bộ, hữu ích; sản phẩm
đa dạng, không lặp lại, mang dấu ấn tác giả và có sự kế thừa rõ rệt. Sự kế thừa
trong sáng tạo làm cho sản phẩm trí tuệ như một dòng chảy liên tục và nhận
thức của nhân loại phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Ngoài ra, để xác định xem một cá nhân cụ thể có phải là trí thức hay
không phải dựa vào đặc thù hoạt động nghề nghiệp của người đó. Tính đặc
thù ấy được thể hiện ở chỗ ngành nghề mà trí thức lao động đòi hỏi cao về
khả năng tư duy độc lập và tính sáng tạo để có thể tạo ra các giá trị vật chất và

lớp xã hội khác. Hơn nữa, trí thức rất “nhạy bén” trong việc tiếp nhận các trào
lưu tư tưởng và quan điểm chính trị mới. Cho nên, trí thức thường đóng vai
trò trong việc nghiên cứu lý luận, xây dựng và truyền bá hệ tư tưởng, nâng
cao ý thức tự giác trong các phong trào cách mạng. Nói về lực lượng trí thức
trong xã hội tư bản, V.I. Lênin nhấn mạnh “Sẽ là sai lầm nếu quên rằng, tầng
lớp trí thức này có khả năng đại diện đầy đủ hơn những lợi ích cơ bản của
toàn bộ giai cấp tư sản cũng như nông dân. Và trí thức cũng sẽ trở thành một
lực lượng to lớn trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ, khi được gần
gũi với nông dân” [76, 109]. Họ thường đóng vai trò lực lượng “châm ngòi”,
“ngòi nổ” của nhiều biến cố chính trị và các phong trào xã hội. Khi mà trình
độ dân trí còn thấp, trí thức thường là người phát ngôn cho các nguyện vọng
dân chủ vào thời kỳ đầu của phong trào.

15
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, những người trí thức
tiến bộ đã sáng tạo ra các học thuyết lý luận (triết học, chính trị - xã hội…)
tạo tiền đề tư tưởng cho các cuộc cách mạng xã hội. Bản thân những tư tưởng
tiên tiến không thể đánh bại sự thống trị vật chất của giai cấp thống trị nhưng
nó trở thành “vũ khí tư tưởng” không thể thiếu được của giai cấp vô sản trong
quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đối với cuộc cách mạng của
giai cấp công nhân, chính trí thức đã góp phần quan trọng trong xây dựng hệ
tư tưởng chính trị cho giai cấp công nhân, tiếp thu, truyền bá nó vào phong
trào công nhân dẫn đến sự ra đời của chính Đảng cộng sản, đưa phong trào
công nhân từ tự phát lên tự giác. Điều này đã được V.I. Lênin chỉ rõ trong tác
phẩm “Làm gì” khi ông đồng ý với nhận định của Cauxky rằng: “ý thức xã
hội chủ nghĩa ngày nay chỉ có thể nảy sinh được trên cơ sở một sự hiểu biết
khoa học sâu sắc… vậy mà người nắm được khoa học lại không phải là giai
cấp vô sản mà là người trí thức tư sản. Chính chủ nghĩa xã hội đã nảy sinh ra
trong đầu óc một vài người thuộc lớp đó và chính nhờ họ mà chủ nghĩa xã hội
đã truyền đến những người vô sản tiên tiến nhất về mặt trí thức, những người

lập cơ sở lý luận cho cương lĩnh cách mạng, đường lối chính trị của giai cấp
công nhân và cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa –
tinh thần, … để giai cấp công nhân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Nhờ vậy, đã góp phần giải phóng sức sản xuất, phát huy nhân tố con người,
chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh sản xuất, tạo bước chuyển biến trên nhiều
lĩnh vực khoa học – kĩ thuật, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo. Nhiều
vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa đã được trí thức tham gia tổng kết, từng bước làm sáng tỏ góp phần giữ
vững ổn định chính trị, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Khi cuộc đấu tranh gay gắt giữa tư bản và lao động trong các nước tư
bản chủ nghĩa diễn ra, một số nhà trí thức đã ngày càng nhận rõ bộ mặt thật
của chủ nghĩa đế quốc và những chính sách phản động của nó. Qua đó, họ

17
ngày càng nhận rõ trách nhiệm của mình đối với tiến bộ xã hội. Mặt trận đấu
tranh chống độc quyền ở các nước tư bản phát triển, phong trào đấu tranh
cho hoà bình, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới ngày càng thu hút
đông đảo các nhà trí thức tiến bộ, chân chính đã gần gũi với những người
cộng sản và chủ nghĩa cộng sản. Họ đấu tranh cho lí tưởng của một xã hội
cao đẹp với tất cả tiềm năng, trí tuệ của mình. Giới trí thức trong xã hội tư
bản chủ nghĩa, từ chỗ là người bạn đồng minh tiềm tàng ngày nay đang trở
thành người bạn đồng minh thực tế của giai cấp công nhân trong cuộc đấu
tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nói tóm lại,
trong tất cả các xã hội có đối kháng giai cấp, nếu không kể một số phần tử
trí thức trong giai cấp thống trị hoặc gắn bó mật thiết với nó thì nhìn chung
sự hoạt động của tầng lớp trí thức, thông qua những thành tựu sáng tạo trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, luôn góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp.
1.2.2. Vai trò của trí thức trong lãnh đạo và quản lý đất nuớc
Theo quan niệm của V.I. Lênin, lãnh đạo là hướng dẫn hoặc chỉ đạo

đối với chủ thể lãnh đạo mà V.I. Lênin đã đưa ra. Khi coi trí thức là tầng lớp
trung gian, lệ thuộc về tư tưởng đối với các giai cấp khác, V.I. Lênin vẫn đánh
giá rất cao khả năng, sức mạnh và tính độc lập của trí thức trong xã hội. Hơn
nữa, do sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, vai trò của trí thức
ngày càng trở nên quan trọng hơn. Trí thức được xem là lực lượng hạt nhân
trên mọi lĩnh vực của đời sống và có vị trí đặc biệt trong quản lý đất nước. Do
sự xích lại gần nhau giữa các loại hình lao động mà nhiều trí thức đã tham gia
vào công tác quản lý, lãnh đạo hoặc là người cố vấn chính trị cho giai cấp
công nhân. Nhiều trí thức đã tham mưu cho Đảng của giai cấp công nhân
vạch ra đường lối lãnh đạo đúng đắn. Mà theo V.I. Lênin, những người cộng
sản “Chỉ có thể lãnh đạo nhân dân đi theo con đường của mình với điều kiện
là họ vạch ra được con đường đó cho đúng, không những chỉ đúng theo

19
hướng đi của lịch sử thế giới mà thôi” [68, 117]. Đường lối đúng là kết quả
của quá trình hoạch định của những người lãnh đạo trong đó có sự đóng góp
đáng kể của người trí thức. Đường lối của một Đảng lãnh đạo được biểu hiện
ở các văn kiện, nghị quyết. Do đó, có thể căn cứ vào những văn bản ấy để
đánh giá sự sáng suốt, đúng đắn hay sự thiển cận và sai lầm của chủ thể lãnh
đạo trong việc đề ra các chủ trương, đường lối.
V.I. Lênin đã dựa vào thực tiễn lịch sử nước Nga để khẳng định và
đánh giá cao tính tích cực cách mạng của trí thức. Ông cho rằng, trí thức
thường đóng vai trò là các chính luận gia, diễn giả và lãnh tụ chính trị ở khắp
nơi. Nói về lực lượng trí thức trong xã hội tư bản, V.I. Lênin nhấn mạnh “Sẽ
là sai lầm nếu quên rằng tầng lớp trí thức này có khả năng đại diện đầy đủ hơn
những lợi ích cơ bản của toàn bộ giai cấp tư sản cũng như nông dân và trí
thức cũng sẽ trở thành một lực lượng to lớn trong cuộc đấu tranh chống chế
độ quân chủ, khi được gần gũi với nông dân” [76, 109].
1.2.3. Vai trò của trí thức trong việc nâng cao dân trí, phát triển
khoa học

hội là giáo dục con người, giáo dục quần chúng nhân dân lao động nói chung
và tầng lớp thanh, thiếu niên nói riêng, để họ tin và đi theo chủ nghĩa xã hội.
Từ đó, họ tự giác tham gia xây dựng đất nước, đưa nước Nga từ lạc hậu trở
thành hùng cường. V.I. Lênin cho rằng: “nhà giáo cũng giống như một đội
quân trên mặt trận, đội quân này phải tự mình đề ra những chương trình,
những nhiệm vụ nhằm nâng cao dân trí. Muốn làm được điều đó, bản thân các
nhà sư phạm phải tự mình “vô sản hoá” trong sự nghiệp giáo dục, tức là phải
tự mình hoà mình vào quần chúng, phải giải thoát cuộc sống và tri thức khỏi
sự phục tùng vào tư bản, khỏi ách tư sản… Nhiệm vụ của nền sư phạm mới là
gắn liền với hoạt động của các nhà giáo với nhiệm vụ tổ chức xã hội theo chủ
nghĩa xã hội” [81, 253].

21
Ngoài ra, trí thức còn có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo ra các
giá trị tinh thần nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho quần chúng nhân dân. V.I.
Lênin qua các tác phẩm của mình đã chỉ cho những người cộng sản thấy, ở tất
cả các chế độ bóc lột, bao giờ giai cấp thống trị cũng tìm mọi cách giam hãm
quần chúng lao động trong vòng ngục tối và dốt nát. Chúng bao giờ cũng lạm
dụng những thành tựu của khoa học và kĩ thuật vào việc đầu độc tư tưởng quần
chúng. Với việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, giai cấp
thống trị đã truyền bá lối sống suy đồi, trụy lạc, kích thích những ham muốn
thấp hèn. Những phương tiện thông tin đại chúng như vô tuyến truyền thanh,
truyền hình đã được những người trí thức tiến bộ sử dụng để đẩy mạnh sự giao
lưu văn hoá giữa các dân tộc, tạo điều kiện cho con người có thể hấp thụ được
những tinh hoa của nền văn minh thế giới. Mặt khác, trong các xã hội ấy, các
văn hào, nghệ sỹ tiên tiến - những người sáng tạo ra các tác phẩm văn học, hội
họa, âm nhạc… mang nội dung tư tưởng tiến bộ, tình cảm cao đẹp, đã góp phần
làm cho đời sống tinh thần của quần chúng ngày thêm phong phú, trong sáng…
Tất cả những cái đó, một lần nữa, khẳng định vai trò to lớn của trí thức, các đại
biểu sáng tạo của loài người đối với sự tiến bộ xã hội.

lớp trí thức riêng của mình mà còn thu nạp cả những người ủng hộ mình trong
tất cả mọi người có học thức” [72, 480]. Đó chính là con đường của quá trình
hình thành đội ngũ trí thức mới, nhất là trong giai đoạn đầu khi giai cấp công
nhân mới giành được chính quyền. Một mặt, khôn khéo sử dụng và cải tạo trí
thức cũ, mặt khác, tích cực đào tạo trí thức mới từ công nhân và nông dân.
Thực tế, trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động ở
Nga, giới trí thức có sự phân hóa. Một bộ phận ủng hộ giai cấp bóc lột, thống
trị, đấu tranh chống lại chính quyền Xôviế t và phá hoại sự nghiệp cách mạng
của nhân dân. Bộ phận khác (phần đông) những nhà trí thức bị bóc lột, áp bức
dưới chế độ Nga hoàng đón chào cách mạng tháng Mười như là một cứu tinh,
đưa lại ánh sáng cho nhân loại. Họ đứng về phía nhân dân và theo chính

23
quyền Xôviết. Những nhà khoa học thiên tài bậc nhất thế giới như Pavơlốp,
Timiriadiep, những nhà văn và những thi hào xuất chúng như Macxim
Goorki, những nhà khoa học thực nghiệm như Misurin từ những ngày đầu
cách mạng thành công, đã đứng hẳn về phía cách mạng và hết sức trung thành
với chế độ mới. Còn một bộ phận nữa đứng trung gian giữa lực lượng cách
mạng và phản cách mạng.
Với sự phân hóa như vậy, V.I. Lênin cho rằng, cách mạng phải cải tạo
cả người lạc hậu và trung gian, phải hết sức tranh thủ giáo dục để họ thoát
khỏi trạng thái trung gian, trở thành người tiến bộ. Đối với người tiến bộ, phải
giúp họ tiến lên, giúp họ học tập tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tẩy sạch
ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản, cá nhân chủ nghĩa và duy tâm trong tư tưởng
của họ. Cần phải bồi dưỡng nhiều chuyên gia đỏ và rất nhiều người có nguyện
vọng đó. Phải có nhiệt tình giúp họ tự cải tạo và thực hiện nguyện vọng này,
mọi thái độ bài xích và khinh thường họ đều là sai lầm.
V.I. Lênin đặt vấn đề cải tạo trí thức cũ, bởi vì bản thân họ còn có
những thói quen xấu. Họ còn mang những quan điểm tiêu cực của xã hội cũ,
mắc bệnh tự cao, tự đại, luôn luôn tự cho mình là hơn hết, khinh rẻ lao động,

tạo trí thức. Chính việc giành lấy trí thức, thu hút, cải tạo và sử dụng họ
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới của giai cấp vô sản mới là nội dung
chủ yếu. Đây là đặc trưng của cuộc đấu tranh không phải chống lại trí thức
mà vì trí thức. V.I. Lênin viết: “Người ta không thể loại trừ, tiêu diệt những
người trí thức tư sản mà phải chiến thắng họ, cải tạo họ, rèn luyện lại họ và
giáo dục lại họ” [96, 125].
Việc cải tạo bộ phận trí thức cũ theo V.I. Lênin không phải là một công
việc đơn giản mà vô cùng phức tạp . Do vậy , phải sử dụng “phương pháp
Xôviế t”. Cải tạo trí thức theo “phương pháp Xôviết” tức là phải chiến thắng
họ bằng sức mạnh tinh thần của giai cấp vô sản, bằng tổ chức và kỷ luật chặt
chẽ. Ở đây, V.I. Lênin không “thay bạo lực bằng ảnh hưởng tư tưởng”. Người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status