Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức ở miền bắc từ năm 1954 đến năm 1975 - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------  ----------

NGUYỄN THU HẢI

§¶NG L·NH §¹O X¢Y DùNG §éI NGò TRÝ THøC
ë MIÒN B¾C Tõ N¡M 1954 §ÕN N¡M 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------  ----------

NGUYỄN THU HẢI

§¶NG L·NH §¹O X¢Y DùNG §éI NGò TRÝ THøC
ë MIÒN B¾C Tõ N¡M 1954 §ÕN N¡M 1975
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH


1.1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về trí thức ....................9
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức ...........13
1.1.3. Các công trình nghiên cứu những nội dung liên quan đến trí thức và sự
lãnh đạo của Đảng về xây dựng ĐNTT trong thời kỳ 1954-1975 ...................16
1.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài .......................................................19
1.3. Đánh giá, nhận xét về các kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập
trung giải quyết .....................................................................................................22
1.3.1. Về các kết quả nghiên cứu .....................................................................22
1.3.2. Về những vấn đề luận án tập trung giải quyết........................................23
Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1954-1964 ..............................25
2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ trí
thức và chủ trương của Đảng ................................................................................25
2.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ
trí thức ..............................................................................................................25
2.1.2. Chủ trương của Đảng .............................................................................35
2.2. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ trí thức ..............................................43
2.2.1. Xây dựng về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ trí thức ...............43
2.2.2. Xây dựng về cơ chế, chính sách trong quản lý, sử dụng và đãi ngộ
trí thức .............................................................................................................53
2.2.3. Phát huy vai trò đội ngũ trí thức .............................................................60
Tiểu kết chương 2 ......................................................................................................67

1


Chƣơng 3. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ
THỨC Ở MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1965-1975 .....................................................68
3.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương đẩy mạnh xây dựng đội ngũ trí thức .........68
3.1.1. Hoàn cảnh lịch sử ...................................................................................69

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ban chấp hành

BCH

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng CSVN

Đảng Lao động Việt Nam

Đảng LĐVN

Đội ngũ trí thức

ĐNTT

Khoa học kỹ thuật

KHKT

Khoa học xã hội


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, trí thức Việt Nam luôn luôn gắn bó
với vận mệnh của nhân dân và nền văn hóa của dân tộc. Với đặc điểm nổi trội về
vốn tri thức và tài năng, trí thức luôn đóng vai trò đầu tàu và là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định tới sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Lịch sử đã chứng
minh, khi nào nhà nước quan tâm đúng mức đến trí thức, đãi ngộ và trọng dụng trí
thức, nhân tài, thì đất nước phát triển, đạt nhiều thành tựu rực rỡ về mọi mặt. Chính
vì thế mà từ thời phong kiến, nhà bác học Lê Quý Đôn đã tổng kết: Phi công bất
phú, phi thương bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng.
Ngay sau khi ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng CSVN
đã coi trọng quan điểm vận động, tập hợp tầng trí thức. Tuy nhiên, phải sau đó 10
năm, chủ trương, chính sách vận động tầng lớp trí thức mới thực sự hình thành và
phát triển. Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (1941), tiếp sau đó là bản Đề cương
văn hóa Việt Nam (1943) và sự thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (1944), Đảng
CSVN từng bước hoàn chỉnh đường lối tập hợp và huy động sức mạnh của tầng lớp
trí thức vào công cuộc giải phóng dân tộc. Thành công của Cách mạng tháng Tám
năm 1945 có phần đóng góp không nhỏ từ chủ trương trí thức vận của Đảng. Trong 9
năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), chủ trương trí thức vận vẫn được
Đảng quán triệt và thực hiện nhất quán. Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam
(1951) xác định: Đảng Lao động Việt Nam sẽ bao gồm những công nhân, nông dân
và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mạng nhất.
Sau tháng 7-1954, trước thực tế đất nước bị chia cắt làm hai miền, thực hiện
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau: Cách mạng XHCN ở miền
Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, song đều hướng vào mục
tiêu thống nhất đất nước. Nhiệm vụ lớn lao của lịch sử đã đặt lên vai nhân dân miền
Bắc, không cách nào khác, nhân dân miền Bắc, trong đó có tầng lớp trí thức, phải
đoàn kết, nỗ lực hết mình, vượt lên trên tất cả mọi khó khăn thử thách, đạt được nhiều
thành tích trong lao động, sản xuất và chiến đấu, đưa miền Bắc tiến lên CNXH, làm
căn cứ địa, hậu phương chiến lược, sát cánh cùng nhân dân miền Nam đánh đuổi đế
quốc Mỹ, thống nhất Tổ quốc. Hơn nữa, nhân dân miền Bắc cũng phải trực tiếp đối

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trình bày, làm rõ đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng LĐVN trong
xây dựng ĐNTT ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975; trên cơ sở đó, đánh giá những

5


thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu
phục vụ hiện tại.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu khái quát về chủ trương vận động, tập hợp trí thức của Đảng
trước năm 1954.
- Đi sâu phân tích những quan điểm, chủ trương, chính sách cơ bản của Đảng
đối với trí thức ở miền Bắc qua hai giai đoạn 1954-1964, 1965-1975.
- Làm rõ sự phát triển về số lượng, chất lượng và những đóng góp, vai trò nổi
bật của ĐNTT ở miền Bắc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc, góp phần
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Nêu lên một số nhận xét về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng ĐNTT ở
miền Bắc thời kỳ này, đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử chủ yếu phục vụ công tác
trí thức vận của Đảng CSVN hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng LĐVN về xây dựng ĐNTT ở miền Bắc
từ năm 1954 đến năm 1975.
Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, luận án tập trung nghiên cứu những quan điểm, chủ
trương, chính sách cơ bản của Đảng LĐVN đối với trí thức ở miền Bắc; một số biện
pháp, giải pháp chủ yếu Đảng và Nhà nước đề ra nhằm hiện thực hóa những đường

còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác của khoa học lịch sử như phân tích, tổng
hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh để xử lý các sự kiện, con số, với mục đích hệ
thống, phân tích những chủ trương cơ bản đối với trí thức ở miền Bắc của Đảng;
đồng thời, dựng lại bức tranh về quá trình phát triển, trưởng thành của ĐNTT ở
miền Bắc từ 1954 đến 1975; luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá
trị lý luận và thực tiễn phục vụ hiện tại.
Nguồn tư liệu
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và những bài nói chuyện,
bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước về trí thức;
- Các văn kiện của Đảng và Chính phủ, các Bộ, ngành về trí thức;
- Các công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo về trí thức đã được công bố
là tài liệu tham khảo quan trọng của luận án;
- Các tài liệu sách, báo, tài liệu lưu trữ về giáo dục - đào tạo, văn hóa, văn
học - nghệ thuật, y tế, kinh tế, khoa học - kỹ thuật ở miền Bắc Việt Nam trong
những năm 1945-1975 là nguồn tài liệu bổ trợ của luận án.
5. Đóng góp khoa học của luận án
- Trình bày có hệ thống các chủ trương, chính sách cơ bản của Đảng LĐVN
7


về xây dựng ĐNTT ở miền Bắc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc và đấu
tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Nêu những thành tựu nổi bật trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ và
phát huy vai trò của trí thức ở miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975.
- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng LĐVN
lãnh đạo xây dựng ĐNTT ở miền Bắc.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo hoặc giảng dạy
cho những môn học có liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận

hiện nay; phương hướng đổi mới công tác quản lý và chính sách kinh tế - xã hội đối
với ĐNTT.
Cuốn sách “Chủ nghĩa xã hội và trí thức” do Nguyễn Duy Thông chủ biên
(NXB Sự thật, 1984) đã phân tích vai trò của tầng lớp trí thức đối với sự tiến bộ xã
hội nói chung và với công cuộc xây dựng CNXH nói riêng. Bên cạnh đó, các tác giả
cũng phân tích, đánh giá về quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh về trí thức trong tiến trình cách mạng của dân tộc.
Trong những công trình nghiên cứu về trí thức nói chung phải kể đến “Một
số vấn đề về trí thức Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Văn Khánh và Nguyễn
Quốc Bảo (NXB Lao động, 2001). Cuốn sách đã trình bày khá chi tiết về hoàn cảnh,
điều kiện hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức Việt Nam trong lịch sử. Trong
9


đó, các tác giả đề cập đến những đóng góp trên các phương diện khác nhau của trí thức
đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của họ trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH và đổi mới đất nước. Cuốn sách có những
phân tích, đánh giá sâu sắc về vai trò của trí thức, nhấn mạnh đến thế hệ thanh niên trí
thức những năm 20 (XX) đối với quá trình thành lập Đảng CSVN. Đây là tài liệu có
giá trị tham khảo tốt cho việc nghiên cứu về vai trò của trí thức Việt Nam nói chung, trí
thức trong công cuộc giải phóng dân tộc nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Khánh đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học về điều kiện hình thành, đặc điểm, vai trò của lớp thanh niên trí thức yêu nước
Việt Nam đầu thế kỷ XX như: “Thanh niên trí thức và phong trào cộng sản ở Việt
Nam trước năm 1930”(1985), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6;“Trí thức yêu nước
Việt Nam với cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX” (viết chung) (1993),
Thông báo khoa học của các trường Đại học, số 1; “Vài suy nghĩ về thế hệ thanh
niên trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX (điều kiện hình thành và đặc điểm)(1994), Tạp
chí Nghiên cứu lịch sử, số 5. Qua các bài viết, tác giả nhấn mạnh vai trò của lực
lượng này trong phong trào yêu nước ở Việt Nam, là nhân tố quan trọng trong cuộc

mạng hiện nay” - Trịnh Quang Cảnh (NXB Chính trị Quốc gia, 2000). Tác phẩm
khái quát chung về đặc điểm, vai trò, thực trạng của ĐNTT dân tộc thiểu số ở Việt
Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng phát triển ĐNTT
về cả số lượng và chất lượng.
Lê Quang Quý với “Trí thức ngành kiến trúc trong thời kỳ đổi mới”, (NXB
Chính trị Quốc gia, 2000). Sách đã trình bày đặc điểm, vai trò của ĐNTT ngành
kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả nêu
lên thực trạng xây dựng, xu hướng phát triển, yêu cầu và giải pháp xây dựng ĐNTT
ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Nguyễn Đắc Hưng - “Trí thức Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập” (NXB
Đại học Quốc gia, 2009). Cuốn sách phân tích một số vấn đề chung về trí thức và
ĐNTT; vai trò của trí thức Việt Nam. Từ đó, tác giả nêu lên phương hướng và giải
pháp phát triển ĐNTT Việt Nam trong thời kì hội nhập.
Cũng nghiên cứu về trí thức Việt Nam nhưng tác giả Lê Thị Thanh Hương lại
đề cập đến “Nhân cách văn hoá trí thức Việt Nam trong tiến trình mở cửa và hội nhập
quốc tế” (NXB KHXH, 2010). Tác giả trình bày những quan niệm về nhân cách văn
hóa trí thức và các nhân tố cơ bản tác động đến sự hình thành nhân cách văn hóa trí
thức Việt Nam hiện nay. Đồng thời, tác giả cũng làm rõ thực trạng nhân cách trí thức
Việt Nam, dự báo xu hướng biến đổi nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam đến năm
2020 và đề xuất một số giải pháp phát triển nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam.

11


Hai tác giả Nguyễn Đắc Hưng và Phan Xuân Dũng với “Nhân tài trong
chiến lược phát triển quốc gia” (NXB Chính trị Quốc gia, 2004). Các tác giả khẳng
định vị trí, tầm quan trọng của nhân tố con người trong xây dựng và phát triển đất
nước; nêu lên kinh nghiệm đào tạo và sử dụng nhân tài; một số giải pháp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
“Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc”(2015), NXB Chính trị

CNXH Khoa học; “Phát huy vai trò của trí thức ngành y tế Việt Nam trong công
cuộc đổi mới” của Nguyễn Thị Hòa Bình, chuyên ngành CNXH Khoa học (2006);
Ngô Thị Phượng (2006), “Vai trò của ĐNTT khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới”, LATS Triết học; Lã Thị Thu Thủy (2006), “Nhu cầu
thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ”, LATS Tâm lý học; Trần Thị Như Quỳnh
(2011) “Công nhân trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, LATS Triết học; Bùi Thị Kim Hậu (2011) “Trí thức hóa
công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”, LATS Triết học;
Nguyễn Công Trí (2012), “Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức”,
LATS Triết học, v.v..
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng ĐNTT được các tác giả đề cập đến
trên một số bình diện khác nhau. Trong số những công trình nghiên cứu về vấn đề
này phải kể đến cuốn sách “Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước” của tác giả Nguyễn Văn Khánh (NXB
Thông tấn, 2004). Công trình được nghiên cứu công phu bởi một nhà khoa học đã
có nhiều năm tìm hiểu về ĐNTT Việt Nam. Tác giả đi từ lý luận đến thực tiễn để
khẳng định vai trò của người trí thức Việt Nam trong lịch sử dân tộc trên các lĩnh
vực, trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Từ đó, tác giả trình
bày tóm tắt đường lối, chính sách của Đảng đối với trí thức và thái độ, đóng góp,
cống hiến của người trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhấn mạnh vai trò của ĐNTT trong giai đoạn hiện nay, Nguyễn Quốc Bảo
với cuốn sách “Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước” (NXB Lao động, 1998).
Từ sự phân tích vị trí và vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng, tác giả làm
rõ quan điểm của Đảng CSVN với vấn đề trí thức; chính sách của Đảng đối với trí
thức trong công cuộc đổi mới đất nước.
Ngô Huy Tiếp - “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức
nước ta hiện nay”, NXB Chính trị Quốc gia, 2008. Cuốn sách phân tích, luận giải
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
ĐNTT Việt Nam. Từ đó, tác giả tiếp tục nêu lên mục tiêu, phương hướng và giải

hoàn thiện chính sách về xây dựng và phát huy vai trò của ĐNTT đáp ứng yêu cầu
cách mạng trong giai đoạn mới.
Luận án “Đảng CSVN lãnh đạo xây dựng ĐNTT từ 1991 đến 2005”, LATS
lịch sử của Nguyễn Thắng Lợi (2009). Tác giả nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo
xây dựng ĐNTT, sự đổi mới trong tư duy lý luận của Đảng và quá trình bổ sung,
phát triển quan điểm, đường lối xây dựng ĐNTT; từ đó, góp phần khẳng định sự
14


đúng đắn về nhận thức, đường lối, chủ trương của Đảng trong tiến trình đổi mới,
phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Xây dựng ĐNTT Việt Nam là một đề tài lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc, chính vì thế, trong thời kỳ đổi mới đã có một số chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước nghiên cứu về đề tài này. Một trong số đó là đề tài khoa học
cấp nhà nước KX.04.06 do GS. Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm tiến hành nghiên cứu
trong các năm 1992-1995. Những nội dung cốt yếu của đề tài đã được in thành sách
“Trí thức Việt Nam - Thực tiễn và triển vọng” (NXB Chính trị Quốc gia, 1995).
Nhóm tác giả đã nêu lên một vài quan niệm hiện đại về trí thức; vài nét về ĐNTT
Việt Nam và định hướng xây dựng những chính sách phát triển ĐNTT Việt Nam.
Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước, mã số đề tài ĐTĐL 2003-07 “Đổi mới
chính sách đối với trí thức khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Hữu Tăng làm chủ nhiệm, Ban Khoa giáo Trung
ương là cơ quan chủ trì, thực hiện từ 2003 đến 2005. Đề tài đã phân tích, đánh giá
sâu sắc những chính sách của Đảng đối với trí thức khoa học - công nghệ trong thời
kỳ đổi mới.
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.16/06-10 “Xây dựng ĐNTT Việt Nam
giai đoạn 2011-2020” do Đàm Đức Vượng là chủ nhiệm đề tài. Đối tượng nghiên
cứu của đề tài là trí thức Việt Nam trong quá khứ, hiện tại, tương lai; từ đó, các nhà
khoa học đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp xây dựng ĐNTT Việt
Nam giai đoạn 2011-2012 ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Kết quả nghiên cứu của các đề
tài góp phần hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học để

và sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng ĐNTT trong thời kỳ 1954-1975
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) được các học giả
trong nước đặc biệt quan tâm khai thác nghiên cứu trên nhiều nội dụng. Trong đó,
có khá nhiều công trình đề cập đến những nội dung liên quan đến trí thức như: giáo
dục - đào tạo, văn hóa, văn nghệ, tư tưởng, thanh niên, công tác cán bộ, hậu phương
miền Bắc, v.v.. Những công trình nghiên cứu trong thời kỳ 1954-1975 là những
công trình được chúng tôi khảo cứu khá đầy đủ. Hơn nữa, những công trình của các
nhà nghiên cứu đi trước là những tài liệu tham khảo rất cần thiết, có giá trị và được
chúng tôi khai thác, kế thừa.
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nước 1954-1975 là bộ lịch sử gồm
7 tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2015. Công trình được nghiên cứu công phu,
nghiêm túc bởi tập thể các tác giả của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. Bộ sách đã
cung cấp khá đầy đủ, chi tiết những vấn đề của cuộc kháng chiến chống Mỹ như:
nguyên nhân chiến tranh, chuyển chiến lược, đánh thắng chiến tranh đặc biệt, cuộc

16


đụng đầu lịch sử, tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, thắng Mỹ trên chiến trường
ba nước Đông Dương. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, giúp chúng tôi hiểu sâu hơn
về thời kỳ lịch sử luận án nghiên cứu.
Hoàng Trang - Chiến lược đại đoàn kết của Đảng CSVN trong thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Luận án Phó tiến sĩ lịch sử, 1995. Tác giả
phân tích những tác động đến việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết của Việt Nam
sau tháng 7-1954. Tác giả tập trung làm rõ chiến lược đại đoàn kết dân tộc và đoàn
kết quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ qua các giai đoạn lịch sử, tương ứng
với các chiến lược chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở Việt Nam 1954-1960, 1961-1965,
1965-1968, 1969-1975.
Biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội ở miền Bắc, NXB Văn hóa Thông tin, 1999
là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Lê. Cuốn sách tập trung làm rõ

cứu về những yếu tố tác động đến giáo dục đại học, thành tựu nổi bật và một số hạn
chế trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học ở miền Bắc. Tuy luận
án không nghiên cứu trực tiếp về trí thức nhưng giáo dục đại học là một nội dung
rất quan trọng, không thể thiếu khi nghiên cứu về xây dựng ĐNTT. Những thành
tựu của giáo dục đại học đã trực tiếp góp phần vào việc hình thành và phát triển một
ĐNTT đông đảo, có trình độ ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975.
Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức ở miền Nam (1954-1975) do
Nguyễn Thắng Lợi (chủ biên), NXB Lý luận chính trị, 2014 đã khái quát quá trình
lãnh đạo công tác vận động trí thức, làm rõ chủ trương, đường lối, chính sách và
quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác vận động trí thức ở miền Nam trong
giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc; cung cấp về cuộc đấu tranh vừa sôi nổi, quyết
liệt vừa âm thầm, lặng lẽ của “những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” ở miền Nam
Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (19541975) của Nguyễn Xuân Tú, NXB Chính trị Quốc gia, 2009 là công trình nghiên
cứu sâu về vai trò của hậu phương trong chiến tranh và sự cần thiết xây dựng hậu
phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bên cạnh đó, tác
giả cũng phân tích, làm rõ quá trình vừa làm nhiệm vụ quá độ lên CNXH, vừa chi
viện đắc lực cho miền Nam qua hai giai đoạn 1954-1965 và 1965-1975.
Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở miền Bắc (19601975), Phùng Thị Hiển, LATS lịch sử, 2009. Luận án làm rõ quá trình lãnh đạo của
Đảng đối với công tác tuyên truyền, cổ động chính trị trong những năm 1960-1975
ở miền Bắc Việt Nam; khẳng định những thành công, hạn chế và rút ra những kinh
nghiệm lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động trong giai đoạn này. Với việc đề
cập đến công tác tuyên truyền, tác giả đã giúp chúng tôi bổ sung thêm những tư liệu
18


về công tác tư tưởng, giáo dục lý luận chính trị của Đảng đối với cán bộ, đảng viên,
trí thức nói riêng và các tầng lớp nhân dân nói chung.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã khảo cứu một số công trình liên quan như:
Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam giai đoạn 1950-1975, LATS lịch sử của Nguyễn


một cuốn sách rất sinh động và hấp dẫn về cuộc chiến tranh có tác động sâu sắc đến
toàn thế giới - một nghiên cứu nghiêm túc về cuộc chiến tranh Đông Dương.
Tác giả Neil Sheehan - “Sự lừa dối hào nhoáng: Một người Mỹ trong cuộc
chiến tranh Việt Nam” (A bright shining lie: John Paul Vann and America in
Vietnam), NXB Random House, New York, 1988. Neil Sheehan đã có mặt trong
những năm bi thảm nhất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Neil Sheehan đã
mất 16 năm để viết tác phẩm này. Đây là một “tài liệu khổng lồ” và chi tiết; phân
tích sống động và lôi cuốn về toàn bộ tham vọng và sự sa lầy của đế quốc Mỹ ở xứ
sở nhiệt đới nhỏ bé Việt Nam.
Robert Mc Namara (1995), “Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học
Việt Nam” (In Retrospect: The tragedy and lessons of Vietnam), NXB Random
House, New York. Trong cuốn sách này, Robert Mc Namara công khai thừa nhận
rằng người Mỹ đã sai lầm khủng khiếp khi tham gia vào các quyết định về Việt
Nam. Có thể nói rằng, đây là lời thú nhận chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ.
Cũng trong cuốn sách này, ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn nêu ra cụ thể
những nguyên nhân dẫn tới thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài
học nước Mỹ cần rút ra qua cuộc chiến tranh này. Xuất phát từ vị trí và lập trường
riêng của mình, cho nên những đánh giá nhận định của ông McNamara có thể
khác, thậm chí trái ngược với những đánh giá, nhận định của các nhà khoa học
trong nước. Nhưng cuốn sách đã cung cấp những thông tin bổ ích, giúp chúng tôi
hiểu sâu hơn về thời kỳ lịch sử mà đề tài nghiên cứu.
Những công trình nghiên cứu chuyên sâu về trí thức Việt Nam ở nước ngoài
cho đến nay vẫn còn hạn chế nhưng đáng chú ý là công trình khoa học công phu của
Trịnh Văn Thảo với tiêu đề “Viê ̣t Nam từ Khổ ng giáo đế n Chủ Nghiã Cộng Sản. Một
tiể u luận về hành trình trí thức” (“Le Vietnam du Confucianisme au Communisme
, Un
essai d’itinéraire intellectuel). Công trình hoàn thành và xuấ t bản bằng tiế ng Pháp từ
năm 1990. “Ba thế hê ̣ trí thức ngườ i Viê ̣t (1862-1954). Nghiên cứu lịch sử xã hội” là
tên sách tác giả cho ̣n cho bản dich

Politics in Contemporary Vietnam), NXB Lynne Rienner, London, 2001, tác giả
Zachary Abuza đề cập tới tự do của giới văn học - báo chí. Đặc biệt, phân tích khá chi
tiết "sự kiện Nhân văn - Giai phẩm", tác giả nhận định: Sự kiện Nhân Văn- Giai Phẩm
như một biểu tượng cho sự thất bại của Đảng trong lời hứa sẽ mang lại tự do cho giới
trí thức và cuộc thanh trừng nội bộ đảng chính là dấu chấm hết cho nền dân chủ đảng
và dập tắt tư duy trong quá trình ra quyết định. Theo chúng tôi, nhận định này cũng cần
xem xét và nhìn nhận một cách thấu đáo hơn. Bởi lẽ, đây là cuộc đấu tranh chính trị
trên mặt trận văn hóa - văn nghệ - tư tưởng, mà trong đó có một số phần tử trí thức bất
mãn, bị kẻ địch lợi dụng nhằm chống phá cách mạng. Hơn nữa, nguyện vọng về tự do,
dân chủ trong sáng tác của trí thức là cần thiết nhưng thời điểm diễn ra phong trào
Nhân văn - Giai phẩm lại chưa thực sự phù hợp. Khi đất nước đứng trước nguy cơ bị
chia cắt và xâm lược, Đảng LĐVN cần phải tăng cường củng cố niềm tin, thống nhất
khối đại đoàn kết của tất cả các tầng lớp nhân dân hơn lúc nào hết. Vì thế, sự “tự do
thái quá”, thậm chí có người còn cố ý bôi xấu chế độ, làm ảnh hưởng đến uy tín của
21


Đảng cũng như tổn hại đến sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nghiên cứu về trí thức Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là trí thức văn nghệ
sĩ ở miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975 cũng khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên,
những cuốn sách và tài liệu đó hiện chưa được xuất bản ở Việt Nam và hầu hết
chúng tôi mới chỉ tiếp cận được thông qua nguồn internet.
1.3. Đánh giá, nhận xét về các kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận
án tập trung giải quyết
1.3.1. Về các kết quả nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoặc thuộc về chủ
đề nghiên cứu của đề tài khá phong phú, đa dạng không chỉ về chủ loại, số lượng,
mà còn cả về nội dung, thành tựu nghiên cứu. Cụ thể như sau:
Các công trình chuyên khảo, các luận án, các đề tài khoa học, các bài báo đã tập
trung nghiên cứu, khai thác rất nhiều nội dung, nhiều khía cạnh về cơ cấu, đặc điểm, vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status